Là nhà thơ tiền chiến, sau khi chối bỏ hai tập “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” làm nên tên tuổi mình, Xuân Diệu khôn khéo lánh xa tụi Nhân Văn-Giai Phẩm để được lòng tin của Ba Đình. Từ đó ông trổ thập bát ban võ nghệ, viết đủ thứ từ thơ, đoản văn, bút ký cho tới phê bình. Bộ tiểu luận “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” (Nxb Văn Học, Hà Nội 1982) của ông được “dư luận” tán thưởng, đoạt cả giải thưởng quỷ gì đó, có thể coi là công trình tiêu biểu cho biệt tài bình thơ của ông.

Công tâm mà nói, bộ sách đồ sộ 2.000 trang tâm huyết này của Xuân Diệu có vô số chỗ cà giựt xàm xí mứng, tôi không huỡn để vạch ra cho hết, chỉ tạm trích ra phân tích vài đoạn nhỏ trong phần Diệu phê bình tập thơ nôm “Quốc âm Thi tập” của Nguyễn Trãi.

CHỐT ĐUỔI XE

Đại khái Xuân Diệu tự cho mình bổn phận phải khen tuốt thơ Nguyễn Trãi, hay dở thơm thúi gì cũng phải khen bằng được; và trên hết, không quên nhiệm vụ của người cầm bút là tuyên truyền bằng mọi giá. Hãy đọc đoạn này:

“Mình không phải là vị trí con tốt trên bàn cờ, mà mình lại có thể là sĩ, là tượng, là xe, nhưng Nguyễn Trãi đứng về phía những người ở địa vị thấp trong xã hội mà cảnh cáo những kẻ ăn trên ngồi trốc:

Làm người mựa [= chớ] cậy khi quyền thế

Có thuở bàn cờ tốt đuổi xe” (Hết trích).

Đây là bài Trần tình 8[1], trong đó tác giả than thở hoạn đồ đa đoan khúc khuỷu, nhiều ân oán, rồi kết lại tự an ủi mình như trên. Toàn bài cà trật cà vuột hổng giống thơ chút nào, câu kết lại càng tệ. Hổng biết Xuân Diệu thấy đấu tranh giai cấp đâu ra mà khen cái ý “Tốt đuổi xe”, trong khi rõ ràng đó là hình tượng tiểu nhơn đắc chí[2].

Nên tôi gọi đây là lỗi lươn lẹo.

LAN CHÍN KHÚC-CÚC BA ĐƯỜNG

Tới như hai câu Phá đề bài “Tự thuật 6”:

Lan còn chín khúc, cúc ba đường,

Quê cũ chẳng về, nỡ để hoang.

Xuân Diệu giảng vầy: “Chín khúc là chín luống, chín dảnh hoa lan; cúc cũng ba luống”.

Xin thưa, về mặt chữ nghĩa thì nguyên văn chữ nôm câu đó là: 蘭群𠃩曲菊𠀧唐 (Lan còn chín khúc, cúc ba đường). Có thấy cái nghĩa “luống” hay “dảnh” nào đâu? Đặc biệt “khúc” và “đường” ở đây mượn thẳng từ chữ Hán, nên phải hiểu theo nghĩa Hán-Việt.

Chín khúc tức “cửu khúc”, là tính từ hình dung lối đi khuất khúc, quanh co[3]; còn ba đường tức ba gian nhà. Nghĩa cả câu vì vậy là treo vài giò lan ở lối đi, bày vài chậu cúc trong mấy gian nhà.

Tao nhân mặc khách, người ta thưởng hoa chỉ chọn lấy vài chậu đặc sắc để ngắm, đâu phải trồng để bỏ mối bán sỉ chợ Tết như mấy làng hoa Nhật Tân, Gò Vấp hay Sa Đéc!

Nên ở đây tôi cho là Xuân Diệu phạm lỗi dốt bày đặt nói chữ.

LÒNG TRÚC-BÓNG NON

Cặp luận trong bài Thuật hứng 4, Xuân Diệu diễn giải dài dòng (trích):

Nguyệt xuyên há dễ thấu lòng trúc

Nước chảy âu khôn xiết bóng non

Ở chữ “thấu”, bản Đào Duy Anh phiên âm là thâu và giảng nghĩa: “Trăng soi qua bụi trúc, dễ chi soi thấu qua được lòng cây trúc”. Khi phiên âm thì phiên là “thâu”, đến khi giảng nghĩa thì cũng phải dùng đến chữ “thấu”. Thâu là xuyên suổt qua, có nghĩa vật chất; thấu có nghĩa tâm tình: thấu gan thấu ruột; nguyệt xuyên thâu qua vỏ cây trúc để mà thấu tới lòng cây trúc, dùng từ như thế mới tinh tế. Bởi vậy “Nguyệt xuyên há dễ thấu lòng trúc” thì hay hơn là thâu.

Câu thứ hai, bản Trần Văn Giáp giảng nghĩa: “Nước dầu chảy xiết đến đâu cũng không làm mòn được bóng núi cao”; bản Đào Duy Anh cũng giảng nghĩa: “Nước chảy xiết khiến đá phải mòn, nhưng khó lòng mòn được bóng của núi, ý nói cái lòng hư vô thì không có gì biến chuyển được”. “Nước chảy âu khôn xiết bóng non” là câu thơ vào loại hay nhất của Nguyễn Trãi và của tiếng Việt Nam; theo tôi nghĩ thì nên hiểu như thế này: Núi in bóng xuống dòng sông, nước sông đã chảy, thì nó đẩy cho trôi đi tất cả, đẩy rác rưởi, đẩy bọt bèo, đẩy những cành củi nhỏ, đẩy những súc gỗ to, đẩy cả những thuyền lớn nếu thuyền không được neo buộc. Nó đẩy cả bóng núi lớn in xuống dòng sông nữa, cho trôi phăng đi, nhưng nước đẩy được chút nào thì bóng núi lại in xuống lòng sông ngay tức khắc.

“Nước chảy khó mà trôi bóng núi” viết theo bằng trắc để lấy vần bằng ở cuối câu thơ, thì thành ra “Nước chảy âu khôn xiết bóng non”. Hiểu theo bản Đào Duy Anh, lấy “nước chảy đá mòn” làm trục, thì trái núi không phải ngâm dưới dòng nước như một hòn đá để cho nước chảy đá mòn, mà trái núi đứng trên bờ dòng sông, đứng sát, đứng gần, hoặc là đứng xa, chỉ có thể bị nước mưa chảy theo chiều từ trên xuống dưới, làm cho xói mòn thôi; hiểu như vậy thì còn đâu cái hình tượng hùng vĩ, cương kiên của núi, in bóng xuống lòng sông một li một tấc không chịu xê dịch!

Vả lại nếu đã hiểu theo cái ý “nước chảy xiết khiến đá phải mòn”, đá mà đã phải mòn, thì theo lô-gích, bóng của núi cũng phải mòn theo chứ, mặc dầu phải hàng trăm năm mới nhận thấy và rất khó đo đạc sự mòn ấy. Bản Trần Văn Giáp cũng hiểu là “nước chảy xiết đến đâu cũng không làm mòn được bóng núi”; tôi nghĩ không nên đặt mốì tương quan giữa nước chảy xiết và bóng núi mòn, là một việc khá trừu tượng, mà nên đặt vấn đề: nước chảy xiết có đẩy trôi phăng được bóng núi soi xuống nước hay không, là một việc rất thực tiễn và dễ hiểu. Và câu trả lời theo Nguyễn Trãi: “Không! Không!” Hoàn lại cho chúng ta cái trái núi hùng đẹp hiên ngang in hình trên nền trời và ngang nhiên in bóng xuống lòng sông (Hết trích).

Hai ông học giả giảng đã lằng nhằng, lại thêm một ông nhà thơ “hay chữ lỏng” xía vô khiến càng ra rối rắm, cứ như đám lông mồm mất trật tự. Tôi thì hiểu gọn vầy:

Nguyệt xuyên há dễ thấu lòng trúc

Nước chảy âu khôn xiết bóng non

Là ánh trăng suông dù có xuyên vỏ trúc bất quá chỉ để thấy trong đó rỗng không; Nước chảy cho xiết cũng là để cố lưu lại bóng núi. Cái trường tồn nâng niu cái hư vô bào ảnh, đó là tâm sự của tác giả khi ngắm cảnh mà bâng khuâng nỗi bể dâu.

Đọc thơ thì mỗi người tùy trải nghiệm bản thân mà có cách hiểu khác nhau, từ chỗ cảm thụ khác nhau đó mà cãi nhau thì thậm vô ích. Nhưng tai hại ở chỗ Xuân Diệu một mực cho là chỉ cách hiểu của mình mới “chuẩn”, rồi sùi bọt mép văng cả rác rến ra khi bình thơ.

Tôi cho đây là lỗi thô thiển, dung tục.

CON VỚI CÁI

Bình cặp luận trong bài Tự thán 29 của Nguyễn Trãi, Xuân Diệu viết (trích):

Năm 1957, khi Quốc âm Thi tập vừa được phát hiện lại, lại trở về với đời sống, với chúng ta, tôi cũng như nhiều người, đã vui sướng vô hạn. Và bản thân tôi đã hào hứng đem ngay thơ Nguyễn Trãi vào quần chúng, giới thiệu những bài, những câu hay nhất. Khi ấy, với thiện chí rõ rệt, nhưng rõ ràng là tùy tiện, muốn cho hai câu thơ trên đây đọc êm tai, được thính giả chóng lĩnh hội và dễ thích ngay, tôi đã chữa đi, đọc thành “Tuổi già, tóc bạc, chòm râu bạc…” và tự đắc ý với sự “cải tiến” đó. Hai tuần sau, tôi nằm chiêm bao tưởng thấy Ức Trai tiên sinh trong mộng, và Ức Trai bảo tôi:

“Này, đồng chí Xuân Diệu, ai cho đồng chí chữa thơ tôi? Tôi già bao giờ mà đồng chí bảo là tôi già. Đồng chí là một người cộng sản, mà đồng chí chấp nhận sự già của tâm trí à? Tôi nhiều tuổi, thì tuổi tôi nó chất lên, nó cao, chứ tuổi tôi không già!” Ức Trai mới nói tới đó thì tôi chợt tỉnh dậy, và tôi nghĩ tiếp: Lại còn sự dốt nát mà tùy tiện của mình nữa, dám đổi “cái râu bạc” thành ra “chòm râu bạc”.

Ôi! Nếu Nguyễn Trãi “Tuổi già, tóc bạc, chòm râu bạc”, thì Nguyễn Trãi vừa khòm lưng bước, vừa vuốt chòm râu một cách bùi ngùi an phận, một cách đầu hàng, thì bọn gian nịnh dưới thời Lê Thái Tông đã để cho Nguyễn Trãi sống, đâu cần đem ra mà giết. Chính tại vì Nguyễn Trãi không công nhận tuổi mình già, mà nó chỉ “cao” thôi, và đáng lẽ câu thơ muốn đúng bằng trắc, phải là “chòm râu bạc”, thì Nguyễn Trãi đang tiếng bằng êm ả xuôi tơ, lại đặt tiếng trắc “cái râu bạc”, tức là vừa vuốt râu vừa hất hàm quắc mắt và lắc đầu. À! nhà ngươi cứng đầu à, cái đầu ngang bưóng chống lại chúng tao, chúng tao đưa ra chặt, và chặt đầu cả ba họ!

Ôi, văn chương gắn liền với tính mạng, “cái râu bạc” của Nguyễn Trãi hiên ngang biết chừng nào, mà lại hiên ngang đến từng mỗi sợi một, can trường ngạo nghễ đến mức bọn gian thần phải quyết liệt phủ định! Sao lại đem một “chòm râu bạc” tội nghiệp, thảm hại mà thay vào!

Mặt nữa, ở câu dưới, đáng lẽ theo bằng trắc tự nhiên, thì phải là “Nhà ngặt [=nhà nghèo ngặt], đèn xanh cặp mắt xanh”; nhưng “cặp mắt” thì mắt thô lố như mắt cá thia tàu, cặp mắt với nhập thanh và dấu nặng thì dung tục và vô tình; Nguyễn Trãi đáng tiếng trắc lại đặt tiếng bằng: con mắt xanh. Con mắt xanh không thô lố nữa, mà sâu hoắm, thức suốt đêm cùng với ngọn đèn xanh ở giữa cái nhà nghèo, thức ngàn đêm vì ưu quốc ái dân, và thức mãi mãi trong lịch sử để hỏi tội bọn nịnh thần gian ác, để chong một ngọn đèn cảnh giác đối với cái tà, cái ác trong đời đời! (Hết trích).

Bỏ qua ba mớ mộng mị tầm xàm của “đồng chí Xuân Diệu”, thì lối khen thơ ai đó là phá cách, “đáng bằng lại trắc, đáng trắc lại bằng” này thường được Xuân Diệu áp dụng cho cả Nguyễn Trãi tới Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, vân vân.

Nếu tôi nhớ không lầm thì trong môn Ngữ pháp của ta, hồi cấp 2 đã có dạy niêm luật thơ Đường là “Nhất tam ngũ bất luận, Nhị tứ lục phân minh”. Nghĩa là những chỗ lẻ trong câu thì không cần đúng bằng trắc, mấy chỗ chẵn thì bắt buộc phải niêm cho đúng. Vậy mà mấy chỗ Diệu khen đó thẩy toàn chỗ lẻ trong câu (và đều ngay chữ thứ năm), làm tôi không khỏi hoang mang, hổng hiểu ông này đang bàn thơ luật Đường hay thơ luật Muối!

Về hai chữ “con” đối với “cái” mà Xuân Diệu khen nức nở. Hãy đọc toàn bài:

TỰ THÁN 29

Phúc thay sinh gặp thuở thăng bình,

Nấn ná qua ngày được dưỡng mình.

Trong mặt những mừng ơn bậu bạn,

Trên đầu luống đội đức triều đình.

Tuổi cao tóc bạc cái râu bạc,

Nhà ngặt đèn xanh con mắt xanh.

Ở thế đấng nào là của trọng,

Bui chẳng đã đạo làm lành.

Bài thơ tuôn một hơi xổ ra nỗi buồn kín đáo, hết quẩn quanh lo xử thế lại than tuổi già xồng xộc tới mà mình chưa kịp làm giàu, cuối cùng kết lại chỉ mong an phận thủ thường. Tách riêng hai câu ra rồi luận khí phách ngang tàng này nọ thì hơi quá!

Đã vậy, cách đối “con” với “cái” cũng thường thôi. Không cần phải là nhà văn nhà thơ, miễn ai thường xuyên viết lách sẽ nhận ra một điều là chữ nghĩa tự chúng dắt díu nhau, chữ này lòi ra sẽ kéo theo chữ kia. Điều này thể hiện càng rõ rệt khi làm thơ Đường luật, “con” kéo theo “cái” là rất tự nhiên.

Thí dụ, bài “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan mà ai nấy đều thuộc lòng từ nhỏ cũng có cặp luận:

Nhớ nước đau lòng CON quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng CÁI gia gia.

Rồi bài thơ của Trương Vĩnh Ký:

TUYỆT MỆNH

Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai

Xô đẩy người vô giữa cuộc đời

Học thức gởi tên CON mọt sách

Công danh rốt cuộc CÁI quan tài

Dạo hòn lũ kiến men chân bước

Bò xối con sùng chắt lưỡi hoài

Cuốn sổ bình sanh công với tội

Tìm nơi thẩm phán để thừa khai

Qua cách đối đá đó mà đi khen “con” với “cái” của Bà Huyện Thanh Quan và học giả Trương Vĩnh Ký thì bằng thừa, vô duyên lãng xẹt.

Thêm một thí dụ về “con” với “cái” ngay trong Quốc âm Thi tập:

MẠN THUẬT 14

Án tuyết mười thu uổng độc thư,

Kẻo còn lọt lọt chữ Tương Như.

Nước non kể khắp quê hà hữu,

Sự nghiệp nhàn khoe phú Tử hư.

Con mắt họa xanh đầu dễ bạc,

Lưng khôn uốn lộc nên từ.

Ai ai đều đã bằng câu hết

Nước chẳng còn có Sử Ngư.

Cái ô vuông đầu câu 6 đó chính là thiếu mất một chữ. Để người đọc khỏi cụt hứng, có thể chữa bằng hai cách: hoặc là bỏ chữ “con” ở đầu câu trên đi; hoặc là chỗ ô vuông câu dưới phải thêm một chữ, mà chữ thêm vô đó chắc chắn phải là chữ “cái”:

CON mắt họa xanh đầu dễ bạc,

CÁI lưng khôn uốn lộc nên từ.

Cái lưng không chịu uốn ở đây mới là cứng cỏi, ngang ngạnh nè, sao chớ thấy ông khen, bớ Xuân Diệu?

Cho nên chỗ “con với cái” này, tôi cho là Diệu phạm lỗi hàm hồ, nổ bậy linh tinh.

* * *

Tóm lại, về Quốc âm Thi tập, ai rảnh thử đọc sẽ thấy chỗ giá trị nhất của nó là lưu lại lời ăn tiếng nói của đồng bào miền Bắc nước ta vào thời Lê, vậy thôi. Mà chưa chắc đã là của Nguyễn Trãi, bởi đây là công trình mà sau khi Lê Thánh Tôn “rửa oan” cho Trãi đã ban lệnh sưu tầm lại.

Rất có thể tụi nịnh thần muốn làm đẹp bụng vua đã hốt đại đâu đó đem về rồi sàm tấu là thơ của Ức Trai. Bằng chứng là trong đó có hơn 20 bài trùng với tập Bạch vân Quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức là đời sau lại có đứa gom thêm vô, và ai biết được là tụi nó còn mót thêm vô bao nhiêu bài khác nữa?

Còn về lối bình thơ của Xuân Diệu thì tôi chịu thua, hết muốn nói thêm. Đành up lên cái hình minh họa: đồng chí Nguyễn Trãi đang tìm ai vậy cà?

Lêu lêu!

_________

[1] TRẦN TÌNH 8

Chớ cậy sang mà ép nề,

Lời chăng phải vuỗn khôn nghe.

Co que thay bấy ruột ốc,

Khúc khuỷu làm chi trái hòe.

Hai chữ công danh chăng dám cóc,

Một trường ân oán những hăm he.

Làm người mựa cậy khi quyền thế,

Có thuở bàn cờ tốt đuổi xe.

[2] Nghe đâu có đứa nào đó làm bài thơ học đánh cờ cũng có ý tương tự:

Lạc nước hai xe đành bỏ phí

Gặp thời một chốt cũng thành công

Đây là một ý thơ như hạch, dù có diễn giải kiểu nào cũng không khỏa lấp được hình tượng tiểu nhân gặp thời, nhớ nha!

[3] Ngoài ra còn có thành ngữ “Cửu khúc hồi trường” 九曲回腸, nói về nỗi đau buồn đòi đoạn. Câu ca dao của ta:

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau

Chính là dùng theo nghĩa này. “Chín chiều ruột đau” là nỗi niềm cô gái lấy chồng xa chịu nhiều nỗi buồn lo rối bời, bởi cha già, mẹ yếu, em thơ, nhà quạnh chứ không phải ruột gan đứt làm chín khúc hay… chín luống!

Tác giả: Vinhhuy Le

Tags:

Đại khái tôi là Ba Tàu, sinh ra ở Biên Hòa, cạnh dòng Đồng Nai, lập nghiệp ở…