Bản tiếng Việt:

Lưa thưa mưa Thái Hồ, phủ mờ Động Đình San
Đâu bóng ngư long, mây mù buông kín mờ không gian
Ngẫm sự Trương Hàn – Phạm Lãi, bỗng thuyền nhẹ khua gấp nhịp, vệt sóng đã vội tan
Chiều tà giông bão nổi, quanh co đường gian nan

Chí trượng phu, đương buổi thịnh, thẹn cảnh nhàn
Tuổi xanh cớ gì khốn đốn, tóc hoa ngả sắc tàn
Toan buông câu đầm vắng, lại lo chim âu ngờ, chẳng màng tựa thanh quan.
Khua chèo qua lau sậy, lặng ngắm con sóng lan.

Bản Hán Việt:

Tiêu sái thái hồ ngạn, đạm trữ động đình sơn.
Ngư long ẩn xử, yên vụ thâm tỏa miểu di gian.
Phương niệm đào chu trương hàn, hốt hữu biển chu cấp tưởng, phiết lãng tái lư hoàn.
Lạc nhật bạo phong vũ, quy lộ nhiễu đinh loan.

Trượng phu chí, đương cảnh thịnh, sỉ sơ nhàn.
Tráng niên hà sự tiều tụy, hoa phát cải chu nhan.
Nghĩ tá hàn đàm thùy điếu, hựu khủng âu điểu tương sai, bất khẳng bàng thanh quan.
Thứ trạo xuyên lô địch, vô ngữ khán ba lan

Giải thích:

Đây là bài từ của Tô Thuấn Khâm (1008-1048) mà em Cụt Đuôi nhờ mình dịch thơ để đưa vào một tiểu thuyết tiếng Trung em ấy đang dịch. Ban đầu định dịch “trả hàng” thôi, ai ngờ bài thơ phần nào gần với tâm tư của mình. Vì vậy, mình lưu lại trên trang này.

Phần chú thích mình sẽ đăng nguyên vẹn phần Cụt Đuôi gửi mình để hỗ trợ mình dịch:

– Thủy điệu ca đầu: tên điệu từ, 2 khổ 95 chữ, vần bằng.

– Thương Lang Đình: nguyên là quán ao của người họ Tiền, cây cỏ tốt tươi. Tô Thuấn Khâm trông thấy thích đem bốn vạn tiền ra mua, cất đình ở bên nước, tên là Thương Lang làm nơi chơi bời nghỉ ngơi sau khi mất chức; Thương Lang lấy từ bài đồng ca trong tích “Ngư phụ” của Khuất Nguyên: Nước Thương Lang trong a, thì ta giặt khăn đầu; Nước Thương Lang đục a, thì ta rửa chân vào.

– Đào Chu: tức Phạm Lãi

– Âu điểu tương sai: “Liệt tử – Hoàng Đế” viết, có người thân thiết với chim âu, nhưng khi hắn ôm lòng dạ bất chính, chim âu không tín nhiệm hắn nữa, bay đi rất xa. Ở đây dùng với ý ngược lại, mượn chim âu để chỉ người có ý đồ riêng.

– Thanh quan: ấn tín và dây đeo triệu đan từ tơ đen, chỉ thân phận làm quan.