Tác giả: Olga Dror/ Người dịch: Hà Thủy Nguyên

Dịch từ tiểu luận Establishing Hồ Chí Minh’s Cult: Vietnamese Traditions and Their Transformations của Olga Dror – Giáo sư chuyên ngành Lịch sử tại Texas A&M University.

Sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh được tôn vinh là trung tâm của một tôn giáo chính trị mới được thành lập và cuối cùng đã trở thành một phần của bức tranh tôn giáo Việt Nam. Bài viết này truy tìm nguồn gốc của tín ngưỡng Hồ Chí Minh và vai trò của chính ông trong việc củng cố hình ảnh của ông không chỉ với tư cách là vị lãnh tụ của dân tộc mà còn là Bác, người đứng đầu đại gia đình dân tộc Việt Nam. Việc xem xét tiểu sử đầu tiên (tự truyện) của Hồ Chí Minh, đã giúp khám phá một số cách thức được sử dụng để đạt được những kết quả này. Sự sùng bái Hồ Chí Minh đã biến đổi quốc gia và thay đổi truyền thống văn hóa Việt Nam. Nó được sử dụng để khiến người dân làm quen với trật tự mới, tạo ra cũng như duy trì lòng trung thành của người dân đối với các ban bệ chính phủ mới thành lập. Bài viết này xem xét quá trình Hồ Chí Minh đã đi từ vị trí chủ nhân của sự sùng bái đến việc mất kiểm soát và trở nhân công của chính nó.

“TÔI CÓ THỂ LÀM GÌ? Nhân dân cần một vị thần”, Tổng thư ký Đảng Cộng sản Liên Xô Joseph Stalin nói với nhà văn Mikhail Sholokhov vào năm 1933 khi ông đang xóa sổ các truyền thống tôn giáo ở Liên Xô (Monefiore 2004, 139).1 Như đã xảy ra ở nhiều quốc gia khác, nơi các Đảng Cộng Sản lên nắm quyền, những người cộng sản Việt Nam đã gạt bỏ các vị thần vốn có từ trước khi họ thiết lập chế độ cai trị ở miền Bắc Việt Nam, vì những vị này không phù hợp với mục tiêu chính sách và ý thức hệ của họ. Khoảng đất trống đã trở thành một Olympus mới để hỗ trợ Đảng và nhà nước đạt được mục tiêu của mình. Thay cho các vị thần được tôn thờ vì sức mạnh siêu nhiên, Olympus mới ở Việt Nam, cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác, là nơi sinh sống của con người, trong lịch sử và đương đại, được coi là những vị thần được ban cho sức mạnh siêu nhiên – một hiện tượng được gọi là tôn giáo chính trị.

Emilio Gentile, một học giả người Ý và là nhân vật hàng đầu trong lĩnh vực tôn giáo chính trị, đã định nghĩa đây là “sự thánh hóa của một hệ thống chính trị được thiết lập dựa trên độc quyền quyền lực, chủ nghĩa ý thức hệ không thể bị thách thức, cũng như sự phục tùng bắt buộc vô điều kiện của cả cá nhân và tập thể đối với mệnh lệnh của nó. Do đó, một tôn giáo chính trị không khoan nhượng, xâm lấn và theo chủ nghĩa cơ yếu (tuân thủ nghiêm ngặt các tín điều), đã mong muốn thấm nhuần mọi khía cạnh của đời sống cá nhân và đời sống tập thể của xã hội” (Gentile 2006, xv). Các tôn giáo chính trị nổi lên cùng với chính trị quần chúng và xuất hiện trong các cuộc cách mạng Mỹ và Pháp (xvi), nhưng chúng đã phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XX cùng với chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao.

James Gregor, một nhà khoa học chính trị và một chuyên gia nghiên cứu về chủ nghĩa phát xít, gợi ý rằng hồi kết của chiến tranh vào năm 1945 “không báo hiệu sự biến mất hay sự suy giảm vai trò của các tôn giáo thế tục đối với cuộc sống của nhân loại. Chiến tranh kết thúc đã khởi đầu một thời kỳ mới trong lịch sử của các tôn giáo thế tục”. Theo ông, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản đã trở thành hai biểu hiện phổ biến nhất của sự thần thánh hóa chính trị vào thời điểm đó, và những hình thức ấn tượng nhất là những hình thức “tự nhận mình là người theo chủ nghĩa Mác nói chung và người theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin nói riêng” (Gregor 2012, 226 –27). Ông viết rằng Liên Xô và các quốc gia vệ tinh của mình đã “chiều theo một đức tin chung và hiện thận trong một “Nhà lãnh đạo” có nhiệm vụ bảo vệ và thúc đẩy sự chính thống” và “một hệ thống giám sát đối với giáo dục, xuất bản, chuyển giao thông tin và liên lạc dân sự” (Gentile 2006, xix; Gregor 2012, 228).

Do đó, danh sách những cá nhân là tâm điểm của các tôn giáo chính trị trong những năm trước chiến tranh và trong chiến tranh, chẳng hạn như Lenin, Stalin, Mussolini và Hitler, đã mở rộng sang những năm sau chiến tranh với nhiều người mới đứng đầu các chế độ toàn trị, chẳng hạn như Mao Trạch Đông ở Trung Quốc, Kim Nhật Thành ở Bắc Triều Tiên, Nicolae Ceausescu ở Romania, Enver Hoxha ở Albania, và Mengistu Haile Mariam ở Ethiopia. Những nhân vật này đã trú ngụ trên các đỉnh Olympus mới và trở thành đại diện cho hệ thống chính trị mà họ là một phần trong đó. Là trung tâm của các tôn giáo chính trị mới được thành lập, họ tận hiến để dẫn dắt người dân quen với trật tự mới cũng như tạo ra và duy trì lòng trung thành của người dân đối với ban bệ chính phủ mới thành lập. Bộ mặt, cả mặt tiền và trung tâm của hệ thống chính trị cộng sản và tôn giáo chính trị ở Việt Nam chính là Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh và sự sùng bái trong nền học thuật

Tại Việt Nam, có tới hàng trăm tác phẩm đã viết về Hồ Chí Minh. Tất cả đều duy trì hình ảnh của một nhà lãnh đạo cách mạng kiên trung, người cha của nhân dân mà không có bất kỳ phân tích phê bình nào về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Ở phương Tây, các tác phẩm sớm nhất xuất hiện vào cuối những năm 1940 và nhìn Hồ Chí Minh từ góc độ chính trị, tập trung vào vị trí của ông như một anh hùng dân tộc và nhà giải phóng, hoặc như một điệp viên của Liên Xô hoặc của Quốc tế Cộng Sản. (Mohan 1951; Renaud 1949; Rous 1947). Trong những năm 1960 và 1970, một số tiểu sử của Hồ Chí Minh đã được xuất bản, một vài cuốn trong số đó có tính khai trí ngang ngửa với tiêu đề của chúng; ví dụ: Ho-chi-Minh: Ein leben für Vietnam (Hồ Chí Minh: Một cuộc đời cho Việt Nam; Stuhlmann 1960); Hồ Chí Minh, notre camarade (Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng tôi; Figuères và Fourniau 1970); Hồ Chí Minh, Huyền thoại Hà Nội (Archers 1971); Hồ Chí Minh, sự trân trọng (Burchett 1972); và Hồ Chí Minh: Giới thiệu Tiểu sử (Fenn 1973). David Halberstam’s Ho (1971) cũng có thể góp tên trong danh sách này, vì một nhà phê bình đã mô tả nó là “một bài hát kỷ niệm hơn là một cuốn tiểu sử” (Kirkus Review 1971).

Trong những năm 1960 và 1970, và đặc biệt là sau khi Hồ Chí Minh qua đời vào tháng 9 năm 1969, các tác phẩm học thuật nghiêm túc hơn đã xuất hiện, chủ yếu bằng tiếng Pháp, có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc đời của Hồ Chí Minh (Handache 1970;2 Kobelev 1979; Lacouture 1967, Năm 1968; Rageau 1970; Sainteny 1970, 1972). Trong ba thập kỷ gần đây, các công trình học thuật có tính gợi mở đã xuất hiện, bắt đầu từ các học giả người Pháp gốc Việt Nguyễn Thế Anh (1983, 1990), Daniel Hémery (1990, 1992) và Thu Trang Gaspard (1992). Bước sang thế kỷ được ghi dấu bằng một số các chuyên khảo mang tính học thuật được xuất bản, đã giúp chúng ta có được những hình dung phức tạp về cuộc đời Hồ Chí Minh. Tại Mỹ, cuốn sách của William Duiker (2000) đã trình bày toàn bộ cuộc đời của Hồ Chí Minh, trong khi Sophie Quinn-Judge (2002) tập trung công trình của mình vào những năm từ 1919 đến 1941. Học giả người Ý về Việt Nam Pino Tagliazucchi (2004) đã xuất bản phiên bản riêng của ông về tiểu sử Hồ Chí Minh, tập trung vào khía cạnh chính trị trong những năm tiền cách mạng của ông và chủ yếu dựa vào các nguồn thứ cấp bằng cả ngôn ngữ phương Tây và tiếng Việt. Tất cả đều tái hiện các sự kiện trong cuộc đời của Hồ Chí Minh, nhưng hầu như không đề cập đến quá trình Hồ Chí Minh được thánh hóa.

Duiker (2000, 562–80) bổ sung một phần kết có tựa đề “Từ con người đến thần thoại”, nhưng tập trung vào giai đoạn sau của cuộc đời Hồ Chí Minh và sự phát triển của giáo phái sau khi ông qua đời. Duiker gợi ý rằng “chức năng chính của Hồ Chí Minh trong giữa những năm 1960 là phục vụ với tư cách là “Bác Hồ kính yêu”, đến thăm các trường học, nhà máy và nông trường tập thể để thúc đẩy sự nghiệp chủ nghĩa xã hội và thống nhất đất nước” (553). Nhưng, dễ hiểu khi đó không phải là mục đích của họ, Duiker và các tác giả đã đề cập ở trên trên không tìm hiểu sự hình thành hoặc duy trì sùng bái của Hồ Chí Minh. Hồ Tài Tuệ Tâm, một sử gia Việt Nam thế kỷ XX, đã ghi nhận trong một bài báo rất thú vị rằng “Sự sùng bái Hồ Chí Minh, được chính Hồ Chí Minh chăm sóc cẩn thận, đã bắt đầu lâu trước khi ông qua đời vào năm 1969,” nhưng bài báo của bà tập trung vào di cảo của Hồ Chí Minh, sử dụng ví dụ về bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội (Hồ Tài 1995, 274). Gần đây Marina Marouda, một nhà nhân chủng học người Anh, đã khám phá sự phát triển gần đây của tín ngưỡng Hồ Chí Minh ở Việt Nam đương đại (Marouda 2013). Trong cuốn sách mới nhất của mình, David Marr đã thực hiện một bước tiến để xem xét sự hình thành của sự sùng bái của Hồ Chí Minh vào năm 1945–46, nhưng bị bối rối bởi sự mở rộng của chủ đề mà ông chỉ dành bốn trang cho nó (tháng 3 năm 2013, 561–65).

 Tiêu đề cuốn sách hấp dẫn của học giả người Pháp Pierre Brocheux (2003), Hô Chí Minh: Du révolutionnaire à l’icône (Hô Chí Minh: Từ nhà cách mạng đến biểu tượng), gợi cho tôi rằng đó không chỉ là một cuốn tiểu sử, mà đã lưu tâm đến tín ngưỡng Hồ Chí Minh hơn các tác phẩm khác.3 Trên thực tế, ông ấy chỉ viết một phần ngắn về vấn đề này với tựa đề “Từ huyền thoại đến thần thoại” (Brocheux 2007, 177–82). Brocheux theo dõi tín ngưỡng Hồ Chí Minh từ thời kỳ tiền Cách mạng: “[Đến năm 1945], các yếu tố huyền thoại về Hồ Chí Minh đã được đặt ra; bức chân dung lý tưởng của người đàn ông, câu chuyện huyền thoại của quá khứ, và việc sử dụng hình ảnh đại diện này để huy động người dân và thúc đẩy họ hành động. Điều này đạt được thông qua tất cả các phương tiện có thể, từ nghệ thuật đồ họa đến tạc tượng, điện ảnh, sân khấu, thơ ca, các bài hát, giai điệu trẻ thơ, và giáo dục trong trường học” (179). Ông sử dụng câu bị động trong đoạn văn này, nhưng ngay sau đó ông giải thích chi tiết về các tác nhân tạo ra sự sùng bái: “Sự sùng bái cá nhân thường là công việc của những người tùy tùng (hay chúng ta nên nói là hội đồng?), nhưng liệu có thể lan truyền mà không được sự đồng ý, thậm chí là khuyến khích của đối tượng?” (180). Brocheux khẳng định rằng nó có thể và nó đã làm được. Ông gợi ý rằng việc lập ra giáo phái này nhằm mục đích thống nhất đất nước nhưng cũng để cô lập Hồ Chí Minh trên bệ đỡ, tách biệt khỏi những người khác. Để ủng hộ quan điểm này, ông đề cập đến sự vi phạm mong muốn được hỏa táng và không được để người khác thăm viếng của Hồ Chí Minh, như ông đã thể hiện rõ ràng trong di chúc của mình. “Việc làm sai lệch bản Di chúc và những gì sau khi khám nghiệm tử thi Hồ Chí Minh đã làm sáng tỏ những người chịu trách nhiệm về tín ngưỡng của ông ta, về chức năng của tín ngưỡng, và cả về địa vị thực sự của Hồ Chí Minh trong lòng chế độ” (180). Chỉ tập trung vào những năm cuối đời của Hồ Chí Minh, Brocheux bảo vệ Hồ Chí Minh khỏi bất kỳ trách nhiệm hoặc vai trò nào trong việc dàn dựng giáo phái của chính mình.4 Ông định nghĩa sự sùng bái sau khi chết của Hồ Chí Minh là một nhân vật gần như mang tính tôn giáo (182).

Bài viết này tập trung vào vai trò của Hồ Chí Minh trong hình thành tín ngưỡng của ông, đặc biệt chú ý đến tiểu sử và tự truyện của ông, ngày sinh, gia đình và di chúc cuối cùng của ông. Tôi cho rằng Hồ Chí Minh là công cụ trong sự hình thành tín ngưỡng của ông và một số khía cạnh của tín ngưỡng Hồ Chí Minh khác với những gì thường được cho là tập quán truyền thống của Việt Nam và thay vào đó thể hiện sự mở rộng sang Việt Nam của các tập quán phát sinh tại Liên Xô vốn đã trở nên phổ biến trong thế giới các nước theo chủ nghĩa Mác-Lênin vào giữa thế kỷ XX. Tôi có đề cập đến tài liệu cần cân nhắc của mình tác phẩn gần như được xuất bản trong lúc Hồ Chí Minh còn sống với tựa đề “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Vignettes of President Ho’s life and activities)5 của Trần Dân Tiên, đó là bản tường thuật tổng thể về cuộc đời của Hồ Chí Minh và là một trong những nền tảng cho sự sùng bái ông.6

Tiểu sử (tự truyện) đầu tiên

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong Lễ Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Trần Dân Tiên đã lần đầu tiên nhìn thấy Hồ Chí Minh. Trần Dân Tiên muốn viết tiểu sử của Hồ Chí Minh. Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và nước ngoài mong muốn làm được điều đó, nhưng dường như Hồ Chủ tịch không thích nói về cuộc đời của mình. Ngày hôm sau, Trần Dân Tiên viết thư cho Hồ Chủ tịch để xin gặp. Cùng ngày hôm đó, anh nhận được phản hồi từ chủ tịch mời anh đến tư dinh. Vào lúc 7 giờ 25 phút sáng ngày 4 tháng 9 năm 1945, Trần Dân Tiên gặp gỡ và trò chuyện với Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ rằng viết tiểu sử ông có thể là một ý tưởng hay. Tuy nhiên, ông giải thích rằng thời điểm bấy giờ vẫn chưa thích hợp, vì còn nhiều nhiệm vụ cấp bách khác – người dân thì chết đói và sau tám mươi năm nô lệ thuộc địa quốc gia đã bị tàn phá trên diện rộng. Tiểu sử sẽ phải chờ đợi.

Không nản lòng trước điều này, Trần Dân Tiên quyết định tìm và phỏng vấn những người, dù là người Việt Nam hay người nước ngoài, những người biết Hồ Chí Minh. Cách làm này dù khó khăn đến đâu rồi cũng có kết quả, chỉ trong vòng hai năm, Trần Dân Tiên đã thu thập đủ tư liệu để viết truyện về Hồ Chủ tịch. Chúng tôi biết được tất cả những điều này từ lời tựa của Trần Dân Tiên cho cuốn sách đến từ những nỗ lực của ông. Trần Dân Tiên thừa nhận rằng nhiều giai đoạn trong cuộc đời của Hồ Chí Minh đã không được kể lại. Ông viết rằng đây có thể là những thời kỳ quan trọng nhất, nhưng ông không biết gì về chúng và ông cho rằng không ai ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh biết về chúng.

Sau phần mở đầu này, Trần Dân Tiên dẫn dắt độc giả của mình vào một cuộc hành trình bắt đầu từ một Hồ Chí Minh ở tuổi thanh niên xuất thân từ tỉnh Nghệ An thuộc Bắc Trung bộ; vào Sài Gòn, rồi từ đó ông lên đường sang xứ lạ để học hỏi và tìm đường cứu nước; đến Marseille và Le Havre ở Pháp; đến những chuyến đi vòng quanh thế giới, đến London, Paris, Liên Xô, Trung Quốc, Hồng Kông; và cuối cùng, trở lại Việt Nam, nơi ông lãnh đạo Việt Minh, Việt Nam Độc lập Đồng minh hội, làm đội tiên phong của cuộc cách mạng. Ông tuyên bố chiến thắng bằng bản Tuyên ngôn Độc lập, đây cũng là lúc Trần Dân Tìên và nhiều người khác được nhìn thấy ông lần đầu tiên. Sự kiện này là khởi đầu và chưa phải là kết thúc của cuộc đấu tranh giành độc lập. Trần Dân Tiên đưa độc giả đi qua hai năm đầu của cuộc đấu tranh sau và dừng lại ở đó.

Sáng tác và Tác giả: Trần Dân Tiên và Hồ Chí Minh

Ấn bản còn lưu hành ở Việt Nam cho đến ngày nay là ấn bản xuất bản năm 1955 tại Hà Nội (Trần Dân Tiên 1955). Tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng: Anh (Trần Dân Tiên 1958a), Nga (Trần Dân Tiên 1958b), Indonesia (Trần Dân Tiên 1959), Esperanto (Trần Dân Tiên 1960), và Tiếng Pháp (Trần Dân Tiên 1972, 9–108).7 Nhưng ấn bản tiếng Việt năm 1955 không phải là ấn bản đầu tiên của tác phẩm. Một số nhà nghiên cứu ghi lại sự xuất hiện đầu tiên của nó ở Paris vào năm 1948 bằng tiếng Pháp.8 Tuy nhiên, tôi vẫn chưa tìm thấy ấn bản này hoặc bất kỳ ai đã thực sự xem nó. Nhưng Jean Sainteny, một người Pháp vào năm 1946 đã đàm phán với Hồ Chí Minh về các điều khoản của một “hiệp định” giữa Pháp và VNDCCH, đề cập đến nó trong cuốn sách của ông, mô tả nó là nỗ lực “để xác nhận các khía cạnh đạo đức và khổ hạnh nhưng nhu mì và ôn hòa của người đàn ông được gọi là ‘Bác Hồ tốt bụng’” (Sainteny 1970, 27). Những ấn bản sớm nhất của tác phẩm mà tôi tìm được là bản tiếng Việt và tiếng Trung xuất bản năm 1949.

Hoàng Nguyên, cùng một nhóm khác, được Hồ Chí Minh giao trách nhiệm thành lập Sở Thông tin của VNDCCH tại Rangoon, Miến Điện, cho biết vào năm 1948, họ đã mang từ Việt Nam sang hai cuốn sách, trong đó có một cuốn là Những Mẩu Chuyện viết bằng tiếng Pháp. Nó được dịch ra nhiều thứ tiếng và gửi đi các nước khác để phát tán “nhằm đáp ứng một câu hỏi lớn thời bấy giờ: Hồ Chí Minh, người đã đứng lên thành lập nhà nước Việt Nam độc lập và khéo léo lãnh đạo cuộc Kháng chiến thực dân Pháp là ai? ” (Hoàng Nguyên 1991, 55).

Hoàng Nguyên phản ánh rõ tình hình lúc bấy giờ. Sau cơn phấn chấn và hứng khởi trong ngày Tuyên ngôn Độc lập tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập đã lâm vào tình thế hết sức khó khăn. Người Pháp quyết tâm chiếm lại thuộc địa mà họ đã mất vào tay người Nhật trong Thế chiến thứ hai. Lực lượng Việt Minh đáp trả bằng cách cầm vũ khí. Chế độ mới gây chiến với Pháp trong khi bị cả Hoa Kỳ và Liên Xô coi thường. Trung Quốc, mà Hồ Chí Minh cố gắng kêu gọi, đang bận tâm về cuộc nội chiến giữa những người Quốc Dân và Cộng sản. Mối quan hệ tồn tại giữa Hồ Chí Minh và lực lượng Quốc dân Đảng Trung Quốc đến miền Bắc Việt Nam vào năm 1945 để chấp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản tại đó. Nhưng sau khi người Trung Quốc rút đi vào năm 1946, người Việt Nam bị bỏ mặc tự xoay sở. Không được ai chính thức công nhận, VNDCCH tiếp tục kêu gọi sự giúp đỡ của Trung Hoa Dân Quốc và tìm kiếm các mối liên hệ quốc tế với Thái Lan lân cận cũng như với các thuộc địa cũ vốn đã có những động thái độc lập mạnh mẽ của riêng mình. Là chủ tịch nước mới và cũng là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao,9 có vẻ hợp lý khi cho rằng Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông nghĩ rằng việc xuất bản một cuốn sách như cuốn sách đang được xem xét ở đây sẽ giúp làm cho chính nghĩa của họ được biết đến ở thế giới bên ngoài và đưa VNDCCH lên bản đồ chính trị. Một bằng chứng khác cho điều này được tìm thấy trong ấn bản Trung Quốc của Những Mẩu Chuyện có đề cập đến Nguyễn Ái Quốc, tên mà ông đã sử dụng khi ở Pháp, là tên thật của Hồ Chí Minh (Trần Dân Tiên 1949, 4, 36). Trong chính câu cuối cùng của Những Mẩu Chuyện tại Trung Quốc, được thể hiện như tái bút, Trần Dân Tiên đã đưa ra một nhận xét rất cảm động liên quan đến Trung Quốc: “Người sẽ luôn giữ tên của mình là Hồ Chí Minh [mà người đã sử dụng khi còn ở Trung Quốc] để thể hiện sự trân trọng của mình với Trung Quốc” (191). Đằng sau sự thể hiện lòng trung thành này có lẽ là lời kêu gọi của Hồ Chí Minh về sự trợ giúp của Trung Quốc. Nhận xét này không xuất hiện trong bất kỳ ấn bản nào khác dựa trên các ấn bản Việt mà tôi đã tham khảo.

Trong khi lý do của cuốn sách có vẻ rõ ràng, quyền tác giả lại bí ẩn hơn. Thông tin nhận dạng duy nhất của tác giả là tên của ông, Trần Dân Tiên, được in trên bìa của tất cả các ấn bản Những Mẩu Chuyện mà tôi có thể tìm thấy, với một ngoại lệ duy nhất mà tôi thảo luận dưới đây. Có vẻ như không có một người thực sự liên quan đến cái tên này. Những Mẩu Chuyện là tác phẩm duy nhất được biết đến có ghi tên Trần Dân Tiên. Nhiều học giả Việt Nam và phương Tây đồng ý rằng người thực sự sở hữu cái tên này chính là Hồ Chí Minh (Brocheux 2007, 209n14; Duiker 2000, 579; Hà Minh Đức 1985, 132; Nguyễn ThếˆÁnh 1990, 12n1, 34; Quinn-Judge 2002, 5).

Không phải tất cả mọi người đều đồng ý với việc xác định Trần Dân Tiên là Hồ Chí Minh. Nguyễn Khôi, một nhà văn và nguyên Phó chủ tịch Văn phòng Quốc hội, người từng làm việc với các nhà lãnh đạo cấp cao của cộng sản, đã đưa ra một lập luân chống lại việc đánh đồng Hồ Chí Minh và Trần Dân Tiên, theo một trang web có phỏng vấn ông (Nguyễn Khôi 2013). Nguyễn Khôi lý luận rằng: “Hồ Chí Minh sẽ không có thời gian để viết tiểu sử của mình giữa lúc đang có những việc cấp bách mà ông phải chịu trách nhiệm sau Cách mạng Tháng Tám và trong Kháng chiến chống Pháp. Hơn nữa, Nguyễn Khôi cho rằng là một người khiêm tốn, Hồ Chí Minh sẽ không viết về mình.

Theo Nguyễn Khôi, cần phải làm cho Hồ Chí Minh được thế giới biết đến trong những năm 1945–46, vì vậy Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Trung ương Đảng và Trần Huy Liêu, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, đã bố trí để viết một cuốn sách về chủ tịch. Họ đã giao cho trợ lý của Hồ Chí Minh là Vũ Đình Huỳnh viết. Sau khi hoàn thành, Trần Huy Liêu đã chỉnh sửa và bổ sung một số chi tiết, sau đó giao cho Hoàng Quốc Việt và Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng lúc bấy giờ. Nhóm nghiên cứu đã chọn bút danh Trần Dân Tiên, theo Nguyễn Khôi, có nghĩa là “công dân đầu tiên của dòng họ Trần của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.” Ông kết nối lựa chọn này với tổ tiên chung của một số thành viên trong gia tộc Trần, bao gồm cả Trường Chinh, thuộc dòng dõi Trần Hưng Đạo, vị tướng Việt Nam đã thành công đẩy lùi các cuộc xâm lược của giặc Nguyên vào thế kỷ thứ mười ba. Theo ý kiến ​​của Nguyễn Khôi, tác phẩm của Trần Dân Tiên là một cuốn sách mô tả chân thực cuộc đời của Hồ Chí Minh (Nguyễn Khôi 2013).10

Để góp phần vào cuộc tranh luận này, tôi đề nghị xem qua Tiểu sử Hồ Chí Minh, Tiểu sử Hồ Chủ tịch (Tiểu sử Hồ Chủ tịch) của Trần Ngọc Danh, xuất bản tại Paris năm 1949 và được một số nhà nghiên cứu đề cập đến, nhưng không bao giờ được họ thảo luận (Trần Ngọc Danh, 1949). Rõ ràng tác phẩm cũng đã được xuất bản bằng tiếng Pháp với tên Histoire du Président Ho (Lịch sử Hồ Chủ tịch), đây có thể cũng là một bản dịch đảm bảo thuật ngữ tiểu sử tương đương với thuật ngữ biography trong tiếng Anh. Jean Sainteny (1970, 27 tuổi) đề cập đến nó trong cuốn sách của mình.

Trần Ngọc Danh và Tác quyền

Điểm hấp dẫn nhất trong ấn phẩm của Trà Ngọc Danh chưa bao giờ được hé lộ hoặc tối thiểu là được đưa ra ánh sáng: Những Mẩu Chuyện của Trần Dân Tiên và Tiểu sử của Trà Ngọc Danh không thể nhầm lẫn được, chính xác là đến từ cùng một cuốn sách. Bản tiếng Việt của Trần Dân Tiên năm 1955 và Bản tiểu sử của Trần Ngọc Danh năm 1949 không giống nhau về mặt nguyên văn nhưng chúng trùng hợp ở từng câu như hai bản dịch độc lập của cùng một văn bản, cho thấy cả hai đều được dịch từ bản thảo gốc trong Tiếng Pháp và ấn bản ghi tên Trần Ngọc Danh không có ở Việt Nam vào những năm 1950 hoặc đã bị vứt bỏ.

Ấn bản tiểu sử do Trần Ngọc Danh viết bao gồm lời tựa của Trần Ngọc Danh. Lời tựa này là một bài văn tế nhị về Hồ Chí Minh để giải thích sự cần thiết của việc sùng bái ông. Công nhận rằng người dân được nghe tên Hồ Chí Minh lần đầu tiên vào ngày Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam, lời tựa khẳng định rằng từ ngày đó “cái tên Hồ Chí Minh tuyệt đối không thể tách rời với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.…  Giờ đây Việt Nam tôn sùng [tôn giáo] Hồ Chí Minh, vì Hồ Chí Minh, cả về tinh thần và thể chất, là người con yêu quý của dân tộc Việt Nam…. Sự tôn thờ [tôn sùng] này không phải là điều gì quá đáng, bởi vì trong mỗi giai đoạn lịch sử, một quốc gia sẽ sản sinh ra một nhà lãnh đạo đáp ứng nhu cầu của tình hình hiện nay” (Trần Ngọc Danh 1949, 5). Nhắc đến Hồ Chí Minh là người con yêu quý của dân tộc Việt Nam xuất hiện hai lần ở lời tựa và sau đó lại xuất hiện trong văn bản của cả Tiểu sử và Những Mẩu Chuyện. Lời tựa xác định Hồ Chí Minh là “lẽ sống và vinh quang của dân tộc Việt Nam… Quần chúng Việt Nam tin rằng đến thời điểm hiện tại, Hồ Chí Minh là người duy nhất xứng đáng lãnh đạo dân tộc.… Sự sùng bái và thờ phụng là một vấn đề lịch sử.… Sự sùng bái Hồ Chí Minh phải được thể hiện trong những việc làm hàng ngày” (6–7). Lời nói đầu này phản ánh bản chất của Những Mẩu Chuyện.

Trần Dân Tiên và Trần Ngọc Danh có phải là cùng một người, hay cuốn sách của Trần Ngọc Danh được xuất bản dưới tên Trần Dân Tiên? Tuy thế, chúng ta không thể loại trừ khả năng này, như chúng ta sẽ thấy dưới đây, Tác phẩm của Trần Ngọc Danh được coi là của chính Hồ Chí Minh. Không giống như tên của Trần Dân Tiên là bút hiệu, Trần Ngọc Danh là tên thật của một người có thật; ông là em trai của Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, Trần Phú, người bị Pháp xử tử năm 1931. Trần Ngọc Danh là một trong những người tham gia phong trào cộng sản ngay từ đầu. Năm 1929, ông bắt đầu một khóa học ở Mátxcơva với bút danh Blokov, và thậm chí ông còn trở thành thành viên của Tổ chức Thanh niên Cộng sản Liên Xô Komsomol (Selivanov 2014, 34 tuổi, trích dẫn từ Cơ quan Lưu trữ Nhà nước Nga về Lịch sử Chính trị Xã hội, trang 495, sđd. 201, tập 10; hiếu 82, tập 2, tập 1157, 6). Không hoàn thành chương trình học ở Liên Xô, năm 1931 Trần Ngọc Danh sang Trung Quốc, nơi ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1932, ông bị Pháp bắt tại đó và bị giam trên đảo Poulo Condore. Ông chỉ được trả tự do vào năm 1945 sau Cách mạng Tháng Tám. Trần Ngọc Danh trở thành kẻ gièm pha về Hồ Chí Minh với Stalin. Bị loại khỏi cương vị lãnh đạo ở miền Nam, ông được cử sang Paris năm 1946 để làm trưởng phái đoàn VNDCCH.

Tại Paris, ông đã viết các tài liệu quảng cáo và các bài báo quảng bá nêu bật chính nghĩa của VNDCCH mà không tiết lộ quan điểm cá nhân của ông về Hồ Chí Minh. Ông có vẻ trở nên rất nổi tiếng trong cộng đồng người Việt Nam, bởi vì khi cảnh sát Pháp bắt ông vào tháng Giêng năm 1948 vì “hành vi chống lại sự toàn vẹn của lãnh thổ Pháp,” công nhân Việt Nam đã biểu tình trên đường phố. Có thông tin cho rằng ba mươi ba công dân Việt Nam từ một trại có 2.000 công nhân sống đã bị bắt ở Marseilles (Daily News 1948, 3; Kalgoorlie Miner Năm 1948, 1). Sau đó, Trần Ngọc Danh được trả tự do. Ông chạy trốn từ Paris đến Praha vào tháng 8 năm 1949; từ đó, vào tháng 12 năm 1949 và tháng 1 năm 1950, ông gửi thư cho Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ trích sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1950, ông qua đời ngay sau đó (de Tréglodé 2000; Goscha 2003, 2006; Quinn-Judge 2002, 339). Những lá thư của Trần Ngọc Danh gửi Stalin tố cáo Hồ Chí Minh được gửi từ Praha ngay trước chuyến thăm Liên Xô của Mao và Hồ Chí Minh vào đầu năm 1950. Ông đã buộc tội Hồ Chí Minh về nhiều điểm, nhưng không chỉ giới hạn ở Hồ Chí Minh thiếu tinh thần quốc tế, thiếu kiến ​​thức về chủ nghĩa Mác-Lênin và sai lệch so với thực tế. Trần Ngọc  Danh gọi Hồ Chí Minh là Tito mới, gợi lên mối nguy hiểm mà người Liên Xô nhìn thấy ở nhà lãnh đạo Nam Tư không mấy tuân thủ, người đã xích mích với Stalin vào năm 1948. Những bức thư dường như được viết để tỏ lòng thương tiếc của Trần Ngọc Danh đối với các nhà lãnh đạo Liên Xô và để lật đổ Hồ Chí Minh. Nhưng điều thú vị đối với chủ đề của chúng tôi là Trần Ngọc Danh đã cáo buộc Hồ Chí Minh là coi thường các nhà lãnh đạo một cách mù quáng” (Huỳnh Kim Khánh 1982, 255n51; Quinn-Judge 2002, 339).

Để hỗ trợ cho lập luận của mình, Trần Ngọc Danh trích dẫn những đoạn văn cho thấy sự tôn sùng Hồ Chí Minh. Một số trong số đó tôi đã trích dẫn khi thảo luận về lời tựa của Tiểu sử do Trần Ngọc Danh viết; những người khác xếp Hồ Chí Minh vào hàng ngũ những kẻ đào mỏ, bao gồm cả những người có vẻ xa vời đối với thế giới cộng sản: “như những nhân vật lịch sử vĩ đại, các hoàng đế vĩ đại của Trung Quốc, Chúa Giê-su, Tôn Trung Sơn, Lê-nin, và Mahatma Gandhi, Chủ tịch Hồ là một người đơn giản, thẳng thắn và trung thành” (Selivanov 2014, 245). Trần Ngọc Danh trình bày đây là bằng chứng cho thấy Hồ Chí Minh có tư tưởng lệch lạc và tự sùng bái mình. Ông tuyên bố rằng những đoạn văn này đến từ cuốn Tiểu Sử hay Những Mẩu Chuyện Về Cuộc Đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, thường được gán cho Trần Dân Tiên và đồng thời gán với Trần Ngọc Danh. Thứ nhất, vào thời điểm đó, đây là nguồn thông tin duy nhất được lưu hành rộng rãi về cuộc đời của Hồ Chí Minh, bất kể đó là tiểu sử hay tự truyện. Thứ hai, những đoạn văn này thực sự tương ứng với những đoạn trong Những Mẩu Chuyện được xuất bản vào thời điểm đó, những đoạn có thể có trong nguyên bản tiếng Pháp, và chắc chắn là trong Tiểu sử và lời tựa của nó là do Trần Ngọc Danh viết. Hơn nữa, chúng cũng xuất hiện trong phiên bản Tiếng Trung của Những Mẩu Chuyện (Trần Dân Tiên 1949), trong đó phân tích ngôn ngữ cho thấy nó tương tự với ấn bản của Trần Ngọc Danh, đã được dịch từ tiếng Pháp.

Việc ghi nhận quyền tác giả của Trần Ngọc Danh trong ấn bản tiếng Việt tại Pháp có thể được giải thích bởi sự nổi tiếng của ông đối với kiều bào Việt Nam, đã được minh chứng bằng các cuộc biểu tình phản đối bắt giữ ông. Vào thời điểm đó, cộng đồng người Việt Nam tại Pháp có khoảng hàng chục nghìn người và chính phủ Hồ Chí Minh đã cố gắng tiếp cận họ (Blanc 2005; Daum 2009; Rettig 2012). Tên của Trần Ngọc Danh đã được nhiều người Việt Nam tại Pháp biết đến và theo đó nó sẽ “hợp pháp hoá” và “ủy quyền” Những Mẩu Chuyện/Tiểu Sử và nâng cao địa vị của vị lãnh tụ mới nuuwocs Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh, trong mắt cộng đồng người Việt hải ngoại tại Pháp.

Tác quyền của Những Mẩu Chuyện Về Cuộc đời Hồ Chủ Tịch bằng tiếng Trung

Phiên bản tiếng Trung của Những Mẩu Chuyện, có tựa đề “Hồ Chí Minh truyện” 胡志明 傳 (Những câu chuyện về Hồ Chí Minh), được xuất bản năm 1949, ngay trước khi Trung Hoa Dân Quốc sụp đổ và gần như đồng thời với việc xuất bản Tiểu sử của Trần Ngọc Danh (xem Hình 1). Giống với ấn bản của Trần Ngọc Danh, cuốn Những Mẩu Chuyện bản Trung Quốc bao gồm một số đoạn, chẳng hạn như đoạn đưa Hồ Chí Minh ngang hàng với Chúa Giêsu Kitô và các hoàng đế vĩ đại của Trung Quốc, không bao giờ được tìm thấy trong các ấn bản sau này của cuốn sách. Ấn bản tiếng Trung cung cấp cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ về tác quyền của Những Mẩu Chuyện. Với bản thảo bằng tiếng Trung, tất cả các tên riêng và địa danh đều được viết bằng tiếng Trung. Phần lớn chúng cũng được chuyển ngữ sang chữ cái tiếng Pháp, điều này cho thấy rằng văn bản đã được dịch từ tiếng Pháp.

Tất cả các tên và địa danh không phải tiếng Trung Quốc đều được viết bằng ký tự ngoại trừ tên của tác giả, Trần Dân Tiên, và của một người khác được đề cập trong văn bản. Việc thể hiện tên tác giả là “Trần Dân Tiên” bằng chữ La-tinh trên bìa sách cũng như trên hai trang tiêu đề thực sự nổi bật trong một bản chữ Hán hoàn hảo khác. Sự lặp lại này loại trừ khả năng do sơ suất của tác giả hoặc nhà xuất bản.

Không giống như các ngôn ngữ khác mà Những Mẩu Chuyện được xuất bản, nơi mà ý nghĩa của tên thường bị che khuất, hệ thống chữ viết của Trung Quốc thực sự xác định ý nghĩa của mỗi tên tùy thuộc vào các ký tự được sử dụng để viết nó. Một phần rất lớn các từ trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Trung Quốc nhưng có cách phát âm tiếng Việt. Phần từ vựng này được gọi là Hán Việt hoặc Hán tự.

(Hình 1) Trang tiêu đề của phiên bản Trung Quốc của Những Mẩu Chuyện — Hu Zhiming zhuan 胡志明 傳 (Những mẩu chuyện về Hồ Chí Minh), xuất bản năm 1949 (Trần Dân Tiên 1949).

Mặc dù trong chữ Hán, nghĩa của từng từ luôn rõ ràng, nhưng trong tiếng Việt, chúng ta có thể cần biết ký tự tương ứng với một từ để hiểu nghĩa. Ví dụ, từ được viết trong tiếng Việt hiện đại là “châu” có ít nhất năm ký tự khác nhau trong tiếng Trung Quốc — ba ký tự được phát âm trong tiếng Trung là zhuo¯: 州 (tiểu bang, tỉnh), 洲 (lục địa, đảo), và 舟 (thuyền); và hai thứ phát âm trong tiếng Trung là zhu¯: 珠 (hạt hoặc ngọc trai) và 朱 (chu sa). Văn cảnh và ý nghĩa chung thường làm giảm những trường hợp như vậy. Nhưng khó xác định nghĩa của các từ hoặc tên đứng riêng biệt và tên tiếng Việt thường bao gồm các từ Hán Việt với các ký tự tương đương.

Thiếu ký tự, cách giải thích hợp lý nhất trong tiếng Việt của cái tên được viết trong tiếng Trung là 陈 民 先 là “người họ Trần đi trước mặt mọi người”: Trần 陈 (Chen trong tiếng Trung Quốc) là một họ rất phổ biến; dân 民 có nghĩa là “người”; và tiên 先 có nghĩa là “Đầu tiên, ở phía trước.” Tước bỏ ký tự của cái tên “Trần Dân Tiên” hoặc thậm chí các dấu phụ cho thấy rằng tác giả hoặc dịch giả không muốn người đọc có ý niệm rõ ràng về những điều đằng sau cách kết xuất bằng tiếng Latin của tên này. Thực ra, có vẻ như tác giả muốn đánh đố người đọc, vì có thể dễ dàng đưa ra những cái tên khác nhau với nhiều nhân vật. Do đó, độc giả Trung Quốc có thể tùy ý hình dung về cái tên Trần Dân Tiên. Liệu rằng các ký tự có bị lược bỏ như thể một sự dẫn dụ độc giả đi sâu khám phá một văn bản bí ẩn, hay liệu rằng dịch giả không biết cách xử lý kết hợp các từ trong cái tên này. Cái sau chỉ hỗ trợ cho câu đố của cái trước, vì người dịch đã tìm cách chuyển sang chữ Hán tên của tất cả người phương Tây và người Việt khác với Trần Dân Tiên cũng như đối với tên các địa danh và ấn phẩm. Có thể việc đưa tên của Trần Dân Tiên vào các ký tự là điều không mong muốn, vì nó sẽ thể hiện Trần Dân Tiên, bề ngoài chỉ là một nhà văn và tác giả của Những Mẩu Chuyện, với tư cách là một người vượt trên những người dân khác, người “đứng trước toàn dân”.

 Nhưng thủ thuật không chỉ dừng ở việc không có các ký tự Trung Quốc đứng tên tác giả. Như Những Mẩu Chuyện nói, cuốn sách bao gồm hồi tưởng của những người biết Hồ Chí Minh ở các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của ông. Để tìm hiểu về thời gian Hồ Chí Minh ở Le Havre, Pháp, Trần Dân Tiên đã cử người đồng nghiệp trẻ tuổi của mình, người mà ông chỉ gọi là Trần, sử dụng ký tự 陈 trong bản tiếng Trung, đến gặp một người tên Zan, không được kết xuất thành một ký tự. Zan là một biến thể của Dan nếu được sử dụng không có dấu hoặc Dân có dấu, và do đó giống với Dan trong Trần Dân Tiên, tên trên trang bìa của Những Mâu Chuyển bản Trung Quốc, hoặc tên Dân từ Trần Dân Tiên như được xuất bản trong các bản tiếng Việt sau này. Chữ “Zan” này là sự xuất hiện duy nhất khác của một từ chữ cái trong văn bản, ngoài tên của chính tác giả Trần Dân Tiên, được đặt tự do trong hệ thống chữ La Mã hóa mà không có ký tự tương đương. Hơn nữa, đồng nghiệp trẻ tuổi Trần gọi Zan (hoặc Dân) là Ông Zan (Zan 先生 trong văn bản và “Dân tiên sinh” trong tiếng Việt), tập hợp Dân và Tiên, tạo thành một phần của cái tên Trần Dân Tiên, ngay cả khi không có trong một biểu thức thành ngữ. Vì vậy, như trong một câu đố, câu chuyện này tập hợp Trần, Dân và Tiên trở thành người kể chuyện liên quan đến các sự kiện trong cuộc đời của Hồ Chí Minh, vẫn trêu chọc độc giả với câu đố về tên của tác giả. Những Mẩu Chuyện đề cập đến những chi tiết mà nếu chính xác, chỉ bản thân Hồ Chí Minh mới biết: những suy nghĩ sâu xa và kinh nghiệm bản thân của ông. Ví dụ, khi chiêm ngưỡng sự giản đơn và vẻ đẹp của các tác phẩm của Leo Tolstoy và Anatole France, ông nghĩ: “Mọi người chỉ nên viết về những điều họ đã thấy và tự mình trải nghiệm” (Trần Dân Tiên 1949, 41–42; 1955, 35). Trong một ví dụ khác, Trần Dân Tiên mô tả Hồ Chí Minh bị biệt giam ở Hồng Kông: khẩu phần ăn hàng ngày ít ỏi của ông là cơm nát với nước sốt dở và hai lần một tuần ông nhận được thịt bò với cơm trắng. “Vào những ngày đó, dường như người đã được dự một bữa tiệc linh đình” (Trần Dân Tiên 1955, 69). Trần Dân Tiên trình bày chi tiết những mô tả về phòng giam của Hồ Chí Minh, về thời gian ở tù và về những suy nghĩ cá nhân của ông. Những đoạn văn như vậy đặt ra câu hỏi làm sao ai đó lại biết về những chi tiết của phòng biệt giam trừ khi chính người tù viết về nó hoặc liên hệ nó với tác giả, điều mà Trần Dân Tiên đã loại trừ rõ ràng trong phần giới thiệu của mình. Rất nhiều ví dụ tương tự trong Những Mẩu Chuyện/ Tiểu Sử.

Dù Những Mẩu Chuyện / Tiểu sử do chính Hồ Chí Minh viết hay được sự đồng ý của ông, điều đó chứng tỏ rằng Hồ Chí Minh là một nhân tố quan trọng trong tạo dựng hình ảnh của chính mình. Ông quyết định những gì có thể được viết và biết, cách thông tin này có thể được truyền đi, và hình ảnh nào có thể tạo ra từ thông tin này. Trong trường hợp rất khó xảy ra khi Hồ Chí Minh bị các học giả xác định sai là tác giả và tác giả thực sự hoặc các tác giả vẫn chưa được biết đến, thì việc những cuốn sách này xuất hiện đã hỗ trợ vai trò của Hồ Chí Minh trong tạo dựng hình ảnh của mình. Ở Việt Nam, Những Mảnh Đời chỉ được xuất bản vào năm 1955 dưới dạng một phiên bản đã được chỉnh sửa, chuẩn hóa tại những địa điểm là cơ quan hoặc bộ phận chân rết của Đảng Cộng sản hoặc do Đảng kiểm soát chặt chẽ và cũng xuất bản các tác phẩm của các nhà lãnh đạo cộng sản khác. Sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh, với tư cách là chủ tịch nước và đôi khi là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đang ở trên đỉnh cao quyền lực của mình. Sau đó, ít nhất là cho đến năm 1960s, ông vẫn có ảnh hưởng chính trị mạnh mẽ, nên việc xuất bản tiểu sử của ông từ các nhà xuất bản này không thể xảy ra nếu không có sự chấp thuận trực tiếp của ông, nếu không muốn nói là có sự tham gia tích cực. Nếu ông muốn, ông có thể ngăn họ lại. Nhưng ông ấy đã không làm thế.

Trần Dân Tiên giải thích cách tiếp cận tường thuật của mình bằng một câu cách ngôn cổ: “Một nghệ sĩ giỏi không phác họa chi tiết của cả một con rồng, mà vẽ chi tiết của một con rồng, chỉ tô bên trái và phác vào bên phải để làm cho hình ảnh con rồng mờ sau những đám mây”. Mặc dù ngay lập tức bác bỏ kỹ thuật này, không coi mình là một nghệ sĩ giỏi, và do đó không cố gắng làm mờ hình ảnh con rồng, nhưng ông nhận ra rằng rất nhiều cuộc đời của Hồ Chí Minh vẫn chưa được biết đến (Trần Dân Tiên 1949, 67; 1955, 53–54).11 Thật vậy, bên ngoài, Những Mảnh Đời trông giống như một cái sàng cho phép các mảnh vụn nhỏ đi qua trong khi các mảnh nhỏ quan trọng hơn bị kẹt lại. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng đây là một bộ sưu tập các mẩu chuyện, không phải là một tiểu sử, và hệ quả là niên đại rất hỗn loạn.

Những Mảnh Đời chứa nhiều mâu thuẫn về trình tự thời gian. Ví dụ, ông Nam, một trong những người được phỏng vấn về cuộc gặp gỡ với Hồ Chí Minh ở Anh, đã nhận xét rằng ông ấy rất ấn tượng về tình cảm của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã vô cùng đau khổ, nước mắt đầm đìa khi đọc một bài báo nói về tinh thần anh hùng của một người được viết là Thị trưởng Cook trên ấn bản tiếng Việt, một nhà yêu nước người Ai Len, đã bị Anh bắt và qua đời trong nhà tù sau cuộc tuyệt thực kéo dài. Hồ Chí Minh ngưỡng mộ tinh thần anh hùng ấy và so sánh ông với Tống Duy Tân, một chiến sĩ chống Pháp người Việt đã bị bắt và xử tử năm 1892. Ông Nam nhớ rằng Hồ Chí Minh bày tỏ sự ngưỡng mộ vô bờ bến đối với cả hai vị này, đây là điều khiến ông bị ấn tượng sâu sắc.12

Sau phần đó, Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu và Hồ Chí Minh rời Luân Đôn sang Pháp. Chiến tranh hoành hành. Nam tỏ ra lo lắng khi quân Đức tiến đến Marne, một con sông ở Pháp, nơi quân Đức rốt cuộc đã bị chặn đứng. Hai tháng sau khi Hồ Chí Minh lên đường sang Paris, ông gửi cho ông Nam một lá thư thông báo về hoạt động của ông ở Paris và cuộc gặp gỡ với nhà Việt Nam Quốc dân chủ nghĩa Phan Châu Trinh. Đó là lần liên lạc cuối cùng mà ông Nam có được với Hồ Chí Minh, và ông rất tiếc vì không bao giờ được nghe tin tức từ ông nữa.

Chúng ta có thể thấy điểm kì quặc của câu chuyện này nếu cố gắng sắp xếp theo thứ tự thời gian của các sự kiện. Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu vào tháng 7 năm 1914. Trận Marne diễn ra vào tháng 9 năm 1914. Theo lời kể của ông Nam, Hồ Chí Minh đã rời London vào một thời điểm nào đó giữa hai sự kiện này. Tuy nhiên, trình tự quay vượt quá tầm kiểm soát khi chúng ta xem xét người yêu nước Ai-len đã chết trong nhà tù Anh, và người mà Hồ Chí Minh vô cùng ngưỡng mộ, điều này khiến ông Nam rất ấn tượng. Tên ông ấy là Terence Joseph MacSwiney.13 Ông từng là thị trưởng của Cork, được cho là Cook trong ấn bản tiếng Việt. MacSwiney thực sự đã bị bắt vì các hoạt động chống Anh và chết trong tù. Tuy nhiên, sự việc xảy ra vào tháng 10 năm 1920, rất lâu sau khoảng thời gian được cho là tình bạn giữa Hồ Chí Minh và ông Nam, rất lâu sau khi Hồ Chí Minh rời Luân Đôn đến Paris, rất lâu sau khi ông gửi thư cho ông Nam từ Pháp, và thậm chí sau giai đoạn cuối Thế chiến thứ nhất (Costello 1995; Hannigan 2010). Tôi đã kiểm tra lịch sử của tất cả các thị trưởng của Cork trong thế kỷ 20, và không một ai trong số họ ngoài MacSwiney rời nhiệm sở theo hoàn cảnh được mô tả, điều này không thể xảy ra ngoài khả năng rằng ông Nam đang nhớ một tình tiết khác nhưng tương tự.14 Cho rằng việc Hồ Chí Minh đọc một bài báo về cái chết của MacSwiney là một trong những ấn tượng chính trong ký ức của ông Nam về sự tương tác và tình bạn của ông với Hồ Chí Minh (chiếm khoảng một phần ba câu chuyện của ông) và ông không hề thấy Hồ Chí Minh sau khi rời sang Pháp vào đầu Thế chiến thứ nhất, chúng ta không thể cho rằng sự khác biệt này là do trí nhớ bị hỏng nên loại bỏ tính xác thực của toàn bộ câu chuyện của ông.

Tôi sẽ đề cập đến một ví dụ khác từ một giai đoạn khác trong cuộc đời của Hồ Chí Minh để chứng minh rằng những sự không chính xác này không chỉ liên quan đến năm người được phỏng vấn không xác định được, mà còn tồn tại trong câu chuyện về cuộc đời sau này của Hồ Chí Minh khi chính Trần Dân Tiên tiếp quản phần tường thuật và mô tả những lần Hồ Chí Minh đến Liên Xô và Trung Quốc. Trần Dân Tiên liên hệ chúng với các sự kiện diễn ra vào thời điểm đó. Theo Những Mẩu Chuyện, Hồ Chí Minh đến Petrograd bằng tàu thủy, sau này là Leningrad.

Mục đích của Hồ Chí Minh khi đến đó là được gặp Lenin, nhưng ước mơ của ông không thể thành hiện thực vì hai ngày trước khi Hồ Chí Minh đến, Lenin đã qua đời. Sau đó, ông đến Trung Quốc, theo Những Mẩu Chuyện, vài ngày sau khi Phạm Hồng Thái, một nhà cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu, liều mình kích nổ một quả bom để ám sát Martial Merlin, toàn quyền Đông Dương thuộc Pháp, người đang thăm Quảng Châu vào thời điểm đó. Vụ ám sát thất bại, Phạm Hồng Thái tự sát. Cứ cho là Lenin qua đời vào ngày 21 tháng 1 năm 1924, và việc Phạm Hồng Thái diễn ra vào ngày 18 tháng 6 năm 1924, chúng ta có thể dễ dàng xác định Hồ Chí Minh đến Petrograd, theo Những Mẩu Chuyện vào ngày 19 tháng 1 năm 1924, và ông có mặt ở Quảng Châu vào cuối tháng 6 năm 1924. Các học giả phương Tây về cuộc đời của Hồ Chí Minh đưa ra rất nhiều ngày tháng khác nhau trong thời gian ông ở Liên Xô, và các ý kiến ​​khác nhau về việc ông đến Matxcơva hay Petrograd lần đầu, khi ông đến, và ông đã đến bằng phương tiện giao thông nào, nhưng dường như có một sự nhất trí rằng nó xảy ra vào mùa hè năm 1923, và ông đến Quảng Châu vào tháng 11 năm 1924 (Quinn-Judge 2002, 51, 65).15 Những Mẩu Chuyện khiến Hồ Chí Minh có rất ít thời gian ở Liên Xô, nhất là khi chúng ta xem xét rằng, theo Những Mẩu Chuyện, ông đã đến thăm không chỉ Petrograd mà còn cả Matxcơva và tìm hiểu rất nhiều về đất nước, ngành công nghiệp và nền giáo dục.

Mô tả kì tích của đất nước mà ông đưa ra không thể là Liên Xô vào năm 1924. Ông cũng không thể thực sự nhìn thấy lăng mộ bằng đá granit của Lenin trên các cuộc dạo chơi quanh Moscow, vì lăng mộ bằng đá granit được hoàn thành vào năm 1930. Không nghi ngờ gì nữa, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy lăng mộ trong lần lưu trú thứ ba của ông tại Liên Xô năm 1930.

Bản chất của Những Mẩu Chuyện Về Cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch

Theo nhà khoa học chính trị Graeme Gill: “Sùng bái lãnh tụ hiếm khi chỉ đơn giản là kết quả của mong muốn được tôn vinh cá nhân hoặc sự tôn thờ của công chúng từ phía nhà lãnh đạo, mặc dù các yếu tố quan trọng có thể là trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào, nhưng phần lớn là do các đặc điểm cấu trúc của hệ thống chính trị đang được xem xét” (Gill 1980, 167).

Quan điểm này cung cấp manh mối mang tính định hướng nhất về bối cảnh của sự sùng bái Hồ Chí Minh.

Đảng và sự lãnh đạo của Đảng đã phải vật lộn để tìm cách kết nối vững chắc với dân chúng; Sự sùng bái của Hồ Chí Minh được vẽ trên một tấm bình phong để sau đó có thể vận động chương trình cách mạng của Đảng, mà Hồ Chí Minh là hiện thân. Cấu trúc hệ thống cai trị của Đảng đòi hỏi sự phục tùng không chút nghi hoặc, điều này tốt nhất được gợi ra bằng những lời mời thể hiện tình yêu và sự tận tụy đối với Bác.

Hồ Chí Minh đã có một khoảng thời gian đáng kể ở Liên Xô. Ông cư trú tại đó từ năm 1923 đến năm 1924, một lần nữa từ năm 1927 đến năm 1928, và lần thứ ba từ năm 1934 đến năm 1938 (Quinn-Judge 2002, 51, 65, 116, 120, 216–20). Vì vậy, ông nhận thức được các quá trình chính trị và văn hóa đang diễn ra ở đó. Daniel Leese, một nhà sử học người Đức về Trung Quốc nói về sự sùng bái Mao Trạch Đông, đã viết rằng sự sùng bái nhân cách của Stalin đã đóng vai trò như một bản thiết kế cho các tôn giáo của các nhà lãnh đạo ở các nước xã hội chủ nghĩa khác sau Thế chiến thứ hai (Leese 2007, 623).

Trong khi về nhiều phương diện, sự hình thành của tín ngưỡng Hồ Chí Minh vốn tuân theo kế hoạch của Liên Xô, cũng khác ở một số khía cạnh so với dạng thức của cả tín ngưỡng Lenin và Stalin. Năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có 5.000 đảng viên (Marr 1995, 238). Vào thời điểm đóngười dân không biết gì hoặc biết rất ít về Hồ Chí Minh, cũng như không biết về Đảng. Với nhu cầu tạo ra một tiêu điểm của sự tôn sùng, việc đặt Hồ Chí Minh, một con người cụ thể, dễ dàng hơn nhiều so với một khái niệm hoặc chương trình chính trị mà hầu hết mọi người dân không biết và không thể hiểu được.

Do đó, sự sùng bái Hồ Chí Minh là một trường hợp đặc biệt. Nó không giống như sự sùng bái Lenin, vốn bắt nguồn từ sự sùng bái Đảng và sau khi ông qua đời, thì mới chuyển sang ông. Nó không giống như sự sùng bái Stalin, bởi vì Stalin đã trở thành trung tâm của tín ngưỡng khi vẫn còn sống để sử dụng nó cho lợi ích quyền lực của mình. Đường lối sùng bái của Hồ Chí Minh thì ngược lại – ông ta phát triển sự sùng bái của mình để vận động cả nước thực hiện các quyết định của Đảng và chính phủ. Dần dần, Đảng đã tiếp nhận sự sùng bái của ông, lấy Hồ Chí Minh làm đại diện.

Hồ Tài Tuệ Tâm (1995, 274-5) cảnh báo độc giả của Những Mẩu Chuyện “về khả năng không đáng tin cậy của trí nhớ.” Nhưng tôi không nghĩ rằng bộ nhớ đó nhất thiết phải liên quan đến Những Mẩu Chuyện. Sainteny (1970, 26–27) lưu ý rằng các yếu tố phi thực tế có rất nhiều hoặc có thể được coi là những câu chuyện ngụ ngôn, cung cấp cho mọi người một la bàn đạo đức. Nhưng Trần Dân Tiên không phải là Aesop hay La Fontaine, và Những Mẩu Chuyện không phải là Truyện ngụ ngôn. Mục tiêu của Trần Dân Tiên còn sâu rộng hơn. Trước hết nó là một tác phẩm văn học sùng đạo. Những Mẩu Chuyện thể hiện hai điểm chính bằng thứ ngôn ngữ dễ tiếp cận. Việc đầu tiên là đưa Hồ Chí Minh đến gần hơn với nhân dân và truyền lửa cho ông. Nhưng quan trọng hơn Những Mẩu Chuyện được tạo ra để dạy người dân hãy coi những gì được nhà nước công bố là sự thật

Lịch sử không quan trọng; nhân chứng không quan trọng. Trên thực tế, có vẻ như Những Mẩu Chuyện — với sự nhầm lẫn về trình tự thời gian, thiếu tài liệu tham khảo rõ ràng và làm xiếc ngôn từ – được thiết kế để thôi miên người đọc, muốn nói rằng: đừng thách thức tôi, đừng kiểm tra tính xác thực hay tính hợp lý — hãy tin tôi.

Những Mẩu Chuyện không được thiết kế để cung cấp trải nghiệm học tập, nếu chúng ta coi việc học là “tập hợp các câu lệnh có thể được tuyên bố đúng hoặc sai” (Lyotard 1984, 18). Văn bản không được tạo ra để kiểm tra, và ngay cả khi tình cờ mọi người kiểm tra những điều trái ngược và bối rối thì họ vẫn phải tiếp tục tin: tin lời tường thuật, nhà nước, Đảng, vứt bỏ những nghi ngờ của họ và học cách không bao giờ thắc mắc bất cứ thứ gì. Đó là lý do tại sao chúng ta thấy Những Mẩu Chuyện có sức bền như vậy trong các phiên bản khác nhau và bằng nhiều ngôn ngữ, không hề thay đổi hoặc chỉ thích nghi với các đối tượng khác nhau về chi tiết chứ không phải về tinh thần. Những ai từng làm việc với nó hoặc bị mê hoặc và tham dự vào khái niệm của nó hoặc, ngay cả khi chúng ta cho rằng chúng không đáng tin nhưng bị buộc phải dịch và làm việc với Những Mẩu Chuyện mà không cần thắc mắc, họ vẫn tiếp tục duy trì học thuyết cho những người khác. Như vậy, Những Mẩu Chuyện là một đại diện của một văn bản tôn giáo, một ví dụ về việc xây dựng các lời tôn thờ. Nó đã trở thành một cẩm nang, một bản thiết kế để nhận thức và khắc họa Hồ Chí Minh và để thiết lập nền tảng cho sự sùng bái của ông, vốn chủ yếu dựa vào nền kinh tế quà tặng.

NỀN KINH TẾ QUÀ TẶNG

Nền kinh tế quà tặng

Jeffrey Brooks, người đã nghiên cứu về sùng bái cá nhân của Stalin và sự truyền bá, đã đề xuất một cách tiếp cận để hiểu cách xây dựng sự tôn sùng có thể áp dụng cho Những Mẩu Chuyện và tín ngưỡng Hồ Chí Minh. Brooks nói về cái mà ông gọi là “nền kinh tế của quà tặng”, xuất hiện ở Liên Xô khi Stalin và các đồng nghiệp của ông đấu tranh để khẳng định quyền lực chính trị của họ trong những năm thảm khốc của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1928–32), khi đất nước chìm trong đói kém. Ví dụ của Liên Xô về nền kinh tế quà tặng có thể được tóm tắt trong một cụm từ: “Cảm ơn Đồng chí Stalin vì một Tuổi thơ Hạnh phúc.” Điều này ngụ ý mối quan hệ giữa người cai trị với tư cách là người cung cấp vị tha và người dân với tư cách là người nhận xứng đáng. Mô tả về sự hy sinh quên mình của người cai trị là một lời kêu gọi, nếu không phải là mệnh lệnh, vì lòng biết ơn, biến mọi người vì lợi ích mà nhà lãnh đạo đã hy sinh thành những con nợ của mình (Brooks 2000, 83–105; 2003, 50).

Tương tự, Những Mẩu Chuyện thể hiện lòng biết ơn vô bờ bến của nhân dân đối với vị lãnh tụ – chủ nợ của Hồ Chí Minh. Toàn bộ nội dung của Những Mẩu Chuyện, miêu tả những hoạt động và phẩm chất của Hồ Chí Minh dẫn đến Cách mạng Tháng Tám và kết quả của nó, khiến người đọc liên tưởng đến ý niệm và sự sẵn lòng để đền đáp công ơn của Người đối với dân tộc: “Nhân dân kính yêu Hồ Chủ tịch” vì tình yêu của ông đối với đất nước và nhân dân. Hơn bốn mươi năm Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi mục tiêu giải phóng Tổ quốc và nhân dân. Hồ Chủ tịch bị kết án tử hình vắng mặt, bị bắt giam nhiều lần.

Ông liên tục phải vượt qua những nguy hiểm. Trong quá trình hoạt động ngầm của mình, Chủ tịch đã không ngừng chịu đựng những đau khổ và khó khăn không thể tưởng tượng được”. Trần Dân Tiên mô tả thêm về công lao của Hồ Chí Minh và sau đó kết luận rằng những người sống dưới chế độ thực dân trong tám mươi năm “tự nhiên có tình yêu và sự ngưỡng mộ” đối với người đàn ông đã giải phóng họ khỏi chế độ thực dân (Trần Dân Tiên 1949, 187; Năm 1955, 145).

Tình yêu bộc phát từ cảm xúc cá nhân Hồ Chí Minh – thể hiện qua sự lo lắng rằng liệu đồng bào có thể nghe hay hiểu Người khi đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 – đã lan rộng, như Trần Dân Tiên cho biết. Nhưng đó chỉ là một sự khởi đầu. Vào tháng 10 năm 1946, Hồ Chí Minh từ Pháp trở về, tại đây ông đã tiến hành các cuộc đàm phán mà kết quả gần như bằng không, điều này mãi về sau mới được tiết lộ. Tương tự như mô tả về sự nhiệt tình của người dân trong Lễ Tuyên ngôn Độc lập, Bản tóm tắt kể lại sự việc người dân Hải Phòng đã chào đón Hồ Chí Minh với tình yêu lớn lao như thế nào. Những người từ các thành phố và làng lân cận đến cảng trước hai hoặc ba ngày để chào đón ông. Toàn bộ con đường từ Hải Phòng đến Hà Nội ngập tràn những người dân (Trần Dân Tiên 1949, 175; 1955, 132). Hiện không thể xác định rõ mức độ này là do huy động hay tự phát, nhưng các cuộc mít tinh và biểu tình có tổ chức chắc chắn đã gia tăng, như David Marr (2013, 518–20) đã chỉ ra. Một số nguồn hoàn toàn phủ nhận tính tự phát. Báo Nam Việt Nam Chính luận phủ nhận mọi sự tự phát và quy hoàn toàn là do tổ chức Việt Minh cưỡng chế; Theo Chính luận (1965), mặc dù được hoan nghênh nhiệt liệt, nhưng trên thực tế, rất nhiều người đã tức giận vì bị ép buộc tham gia vì họ cảm thấy rằng họ “bị biến thành nô lệ như trước đây”.

Sau đó, cũng giống như ở Liên Xô, người ta đã báo cáo rằng công nhân trong các nhà máy và nông dân trên các cánh đồng đã tăng giờ làm việc của họ “vì Cha Hồ”.  Cũng giống như trên chiến trường của Thế chiến thứ hai, những người lính Liên Xô đã chiến đấu và hy sinh “vì Tổ quốc và vì Stalin!” Những Mẩu Chuyện mô tả cách những người lính xông lên tấn công, hô vang: “Vì Tổ quốc và vì Cha Hồ!” (Trần Dân Tiên 1949, 189; 1955, 147).16 Trong một đoạn khác của cuốn sách, một thương binh đã vẽ chân dung Hồ Chí Minh bằng chính máu của mình. Ở cuối cuốn sách, Trần Dân Tiên cung cấp một danh sách các tấm gương khác về sự tôn thờ của nhân dân đối với Hồ Chí Minh.

Tình yêu đối với Hồ Chí Minh không chỉ từ người lớn mà còn từ trẻ thơ. Trong các ấn bản tiếng Việt, các ví dụ mạnh mẽ về điều này đã được giữ nguyên từ các bản Những Mẩu Chuyện gốc.

Gương mặt Hồ Chí Minh rạng ngời khi đọc những bức thư đầy tình yêu thương của các em nhỏ:

“Bác Hồ kính yêu, giờ chúng em đã biết đọc, biết viết, rửa mặt giỏi hơn trước.

Bác Hồ, đến thăm chúng con! Chúng con hôn bác ngàn lần” (Trần Dân Tiên 1949, 187; Năm 1955, 146).

Miêu tả của Những Mẩu Chuyện về sự tôn thờ Hồ Chí Minh của quần chúng đã cung cấp một khuôn mẫu về kỳ vọng của dân chúng.  Những Mẩu Chuyện là một ví dụ cho cấu trúc của sự bợ đỡ. Như trường hợp của Liên Xô và sau đó là ở Trung Quốc, nền kinh tế quà tặng đã được ban hành ở tất cả các nơi có thể. Nó cũng được kết nối chặt chẽ với lễ kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chí Minh.

Sự phát minh các ngày sinh nhật

Ngày sinh của Hồ Chí Minh vẫn còn là một bí ẩn. Trong những tài liệu lưu trữ và trong các tài liệu được trưng bày tại các bảo tàng của Thành phố Hồ Chí Minh ở cả Hà Nội, chúng ta có thể thấy rất nhiều ngày sinh nhật của Hồ Chí Minh mà cũng đã tìm cách xuất hiện trong nền học thuật phương Tây. Các khả năng của ngày sinh nhất trải dài từ năm 1887 và kết thúc vào cuối năm 1903.17

Chúng tôi tìm thấy một ví dụ đặc biệt đặc biệt về sự bấp bênh như vậy trong cả Tiểu sử và Những Mẩu Chuyện, trong đó nó thay đổi từ năm 1887 đến năm 1892. Ví dụ, Tiểu sử và phiên bản Tiếng Trung của Những Mẩu Chuyện đề cập đến Huang Qiang 黄 强 (Hoàng Cương), một vị tướng trong Quân đội Trung Hoa từng học ở Pháp, sau đó sống nhiều năm ở Việt Nam, và trở thành đại diện của Ủy ban Quân vụ do Tưởng Giới Thạch cử đến Hà Nội để chấp nhận sự đầu hàng của quân Nhật ở Bắc Việt Nam vào năm 1945 (Worthing 2001, 78). Huang Qiang nhận xét về ngày sinh của Hồ Chí Minh như sau: “Người chiến sĩ già đáng kính này sinh năm 1887. Giờ đây, năm 1947, ông đã sáu mươi tuổi.” Chỉ ba trang sau, trong phần chính của Những Mẩu Chuyện, ngày sinh của Hồ Chí Minh được trích dẫn vào một năm khác, 1892. Trong ấn bản tiếng Việt xuất bản tại Hà Nội năm 1955, ngày sinh của Hồ Chí Minh cuối cùng được ấn định là năm 1890 (Trần Ngọc  Danh 1949, 11, 13; Trần Dân Tiên 1949, 4, 7; 1955, 10).

Hồ Chí Minh có thể dễ dàng giải thích sự không chắc chắn về ngày sinh của mình trước cuộc cách mạng.

Cuộc đời của Hồ Chí Minh với tư cách là một nhà cách mạng quốc tế quen với việc di chuyển với các tài liệu giả mạo, các chi tiết của chúng không quan trọng miễn là chúng hợp lý cho mục đích sử dụng. Nhưng vào năm 1945, Hồ Chí Minh đã trở thành chủ tịch của chính quyền nhà nước, chứ không phải là một nhà cách mạng phải hoạt động bí mật và liên tục trốn tránh bị bắt. Kể từ đó, ông cần một ngày sinh nhật.

Ngày 20 tháng 5 năm 1946, báo Cứu Quốc, nhật báo của Việt Minh, đưa tin lễ kỷ niệm ngày sinh Hồ Chí Minh tại Hà Nội vào ngày trước đó, ngày 19 tháng 5 năm 1946. Đông đảo người lớn và trẻ em đến chúc mừng sinh nhật lần thứ năm mươi sáu vui vẻ của ông (Cứu quốc 1946b). Do đó, vào năm 1946, người ta đã chính thức quyết định, ít nhất là đối với người dân Việt Nam, rằng Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890. Tháng 5 năm 1947, L’Humanité, tờ báo của Đảng Cộng sản Pháp, đưa tin rằng tại Sài Gòn, tất cả các ấn phẩm đều ghi nhận ngày sinh lần thứ năm mươi bảy của Hồ Chí Minh và được đưa tin rộng rãi (L’Humanité 1947, 3). Tại sao Những Mẩu Chuyện vẫn chỉ ra một ngày sinh khác vào năm 1949 vẫn còn là một bí ẩn.

Tổ chức sinh nhật không phải là một phần trong đời sống của người Việt Nam vào thời điểm Hồ Chí Minh đến thế giới này. Ngay cả sau nhiều thập kỷ sống dưới chế độ thực dân Pháp, chúng vẫn chưa được phổ biến trong người Việt Nam. Hồ Tài Tuệ Tâm, một trong những học giả hàng đầu của Việt Nam hiện đại, nhớ rằng gia đình bà tổ chức sinh nhật của họ vào những năm 1960, nhưng đó là điều họ đã quen khi họ sống ở Pháp vào đầu những năm 1950.18

Tuy nhiên, truyền thống mừng thọ của các vị vua không hề xa lạ với văn hóa Việt Nam. Bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ mười và ít nhất là cho đến đầu thế kỷ thứ mười sáu, một lễ hội cộng đồng để kỷ niệm ngày sinh của vị vua trị vì đã được duy trì (Ngô Sĩ Liên 1993, Tập IV, Bản Kỷ, I: 17a và 28b; II: 9a và 16b; III: 1a và 31b; IV: 1b và 18b; V: 2a, 25b và 39b; VI: 33a; VII: 1a, 12a và 40b; VIII: 1b; XI: 59a; XII: 4a; XIV: 36a – b và 41a; XV: 3b và 62a). Hoạt động này có lẽ vẫn tiếp tục kể cả sau thời gian này, nhưng do các cuộc nội chiến nên thông tin sẵn có vẫn còn thiếu. Với sự ra đời của một nhà nước mới vào năm 1945, truyền thống có thể đã được tái tạo lại.

Việt Nam không phải là ngoại lệ. Ở Nhật Bản, nơi các lễ mừng thọ được tổ chức, nghi thức mừng thọ của nhà vua có từ thế kỷ 18 nhưng sau đó lại chìm vào bóng tối, khi các shogun, hay lãnh chúa, trở thành những người cai trị có thực quyền tại Nhật Bản, đã giáng chức các hoàng đế xuống vai trò hợp lễ. Năm 1868, năm đầu tiên của cuộc Duy tân Minh Trị, thời kỳ hiện đại hóa ở Nhật Bản cũng đánh dấu sự trở lại nắm quyền của gia đình hoàng gia, và ngày sinh của hoàng đế được công bố là ngày lễ quốc gia “như một bước tiếp theo trong việc củng cố mối quan hệ giữa hoàng đế và dân tộc của ông” (Nhật Bản và Mỹ 1902; Keene 2002, 159). Ngày lễ quan trọng đối với công cuộc xây dựng đất nước đến nỗi nó được coi là một trong những thủ phạm dẫn đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản và bị cấm sau khi Nhật Bản thất bại trong Thế chiến thứ hai.19

Khó có thể nói Hồ Chí Minh có biết về truyền thống tổ chức sinh nhật hoàng gia của Việt Nam hay không hay ông quan tâm đến các cơ chế dẫn đến sự trỗi dậy của Nhật Bản. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh, như tôi đã chỉ ra trước đó, đã dành một khoảng thời gian đáng kể ở Liên Xô. Ban đầu, những người Bolshevik khinh bỉ cá nhân để ủng hộ các mặt chính trị trong cuộc sống của họ. Lenin rất kín tiếng về ngày sinh của mình.

Pravda (Sự thật), tờ báo hàng đầu của Liên Xô và là cơ quan chính của Đảng Cộng sản, đã không đánh dấu ngày sinh của Lenin, ngày 22 tháng 4, cho đến năm 1923, khi Lenin đã ốm nặng và gần như mất khả năng lao động. Số ra năm 1923 nhân ngày sinh của Lenin mở đầu bằng những lá thư của độc giả chúc mừng và chúc sức khỏe ngài. Ông rất cần nó, vì cùng một số báo đã đưa một bản tin báo cáo tình trạng suy giảm nhanh chóng của ông (Pravda 1923). Đây là số đầu tiên và trong một thời gian là số báo kỷ niệm cuối cùng nhân ngày sinh của Lenin. Pravda chỉ kỷ niệm sinh nhật của ông một cách lẻ tẻ kể từ khi ông qua đời vào tháng 1 năm 1924 cho đến năm 1935, sinh nhật lần thứ sáu mươi lăm của Lenin.20 Sau đó, Pravda đã bày tỏ lòng kính trọng đối với nhà lãnh đạo đã khuất vào ngày sinh nhật lần thứ 70 của Lenin vào năm 1940, và sau đó không thường xuyên trong chiến tranh, ca ngợi ông như một cựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản và là người truyền cảm hứng cho những chiến thắng của Liên Xô. Hầu hết những bài báo đó không được đưa lên trang nhất. Việc kỷ niệm ngày sinh của Lenin được tăng cường bắt đầu từ năm 1945. Tuy nhiên, đó là lễ tưởng niệm những người đã chết, một lễ tưởng niệm được trang trọng chủ yếu trong các hồi ký (thường của Stalin) hoặc các bài báo lý thuyết (Pravda 1940, 1942, 1944, 1945, 1946, 1947).

Lúc đầu, ngày sinh của Stalin không có bất kỳ vai trò nào trong diễn ngôn của Liên Xô. Trên thực tế, giống như Hồ Chí Minh, Stalin không chắc chắn về ngày sinh của mình. Ông sinh ngày 18 tháng 12 năm 1878, nhưng sau đó không rõ vì lý do gì mà ngày sinh của ông liên tục bị làm sai lệch với các ngày khác cho đến ngày 15 tháng 12 năm 1925, ông đột ngột chọn ngày sinh chính thức vào ngày 21 tháng 12 năm 1879 một cách khó hiểu (Kun 2003, 8–10); Điều đặc biệt là Stalin không có giấy khai sinh ban đầu của Giáo hội. Ngày sinh của Stalin nổi bật vài năm sau khi ông lên nắm quyền. Người cộng sự trung thành của Stalin, Lazar Kaganovich, đã tổ chức lễ kỷ niệm lớn đầu tiên, kết hợp cả khía cạnh cá nhân và chính trị, nhân dịp sinh nhật lần thứ 50 của Stalin vào tháng 12 năm 1929. Lễ kỷ niệm chính thức diễn ra tại Điện Kremlin. Pravda đã xuất bản một số báo sinh nhật có độ dài bất thường gồm tám trang (độ dài thông thường là từ bốn đến sáu trang), đầy những bức thư chúc mừng và điện tín bày tỏ lòng kính yêu đồng chí Stalin (Pravda 1929). Lễ kỷ niệm tạm lắng cho đến ngày sinh nhật lần thứ sáu mươi của Stalin vào ngày 21 tháng 12 năm 1939. Sự kiện đó đã ghi dấu ấn của Pravda thậm chí dài hơn mười hai trang truyền tải những tình cảm tương tự nhưng ở quy mô lớn hơn, đến nỗi sự thể hiện của họ tràn sang số tiếp theo (Pravda 1939a, 1939b).

Không thể tưởng tượng được rằng Hồ Chí Minh không biết về truyền thống này; ông nổi tiếng là người được thông báo về các sự kiện trong thế giới cộng sản, và phần lớn thành công của ông là nhờ ông đã học được cách bám sát các xu hướng lãnh đạo trong phong trào cộng sản quốc tế và làm sứ giả Việt Nam tại các trung tâm quyền lực ở Matxcova và Bắc Kinh.

Cũng có một khía cạnh quốc tế để đánh dấu ngày sinh của Hồ Chí Minh. Đối với người phương Tây, tổng thống của một quốc gia có ngày sinh không ổn định sẽ là một điều bất thường. Cộng sản Việt Nam cần một nhà lãnh đạo tương xứng với một số tiêu chuẩn của phương Tây.

Có một thông lệ trong thế giới cộng sản là các nhà lãnh đạo thế giới nhận được điện báo chúc mừng vào ngày sinh nhật của họ. Ví dụ, vào năm 1929, nó đã được công bố tại hội nghị giao hưởng được tổ chức để kỷ niệm sinh nhật của Stalin: “Không biết bao nhiêu điện tín từ khắp Liên minh và các nước ngoài chúc mừng sinh nhật lần thứ 50 của Stalin” (Cuộc đời của Stalin 1930, 12). Ngay cả trong giai đoạn khó khăn nhất của Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô vẫn duy trì truyền thống; Ví dụ, vào ngày 18 tháng 12 năm 1941, Mikhail Kalinin, người đứng đầu danh nghĩa của nhà nước Liên Xô đã gửi tới Vua George của Anh một bức điện chúc mừng sinh nhật (Pravda 1941). Nhưng không có lễ kỷ niệm công khai hoặc thậm chí cả các số báo chúc mừng nhân dịp sinh nhật của Stalin trong Thế chiến thứ hai.

Kỷ niệm ngày sinh của nhà lãnh đạo được mở rộng sau chiến tranh, đặc biệt là đối với những người đã bay vào quỹ đạo của Liên Xô. Các quan sát đã được đăng trên báo chí và chứng tỏ cho người dân các nước thấy rằng họ là một phần không thể thiếu của cộng đồng quốc tế, được những người khác tôn trọng và kính ngưỡng.

Năm 1946, không có bất kỳ bức điện nào chúc mừng Hồ Chí Minh từ các nhà lãnh đạo nước ngoài. Nhưng Cứu Quốc đã công bố một bức điện chúc mừng từ một “Nhóm Yêu nước” ở Hà Nội (Cứu quốc 1946a). Vào tháng 4 năm 1950, ngay sau khi Liên Xô công nhận VNDCCH, “các đồng chí Việt Nam” đã đến gặp Đại sứ Liên Xô tại Trung Quốc Nikolai Roshchin để nhờ giúp đỡ thu xếp một bức điện chúc mừng từ các nhà lãnh đạo Liên Xô nhân dịp sinh nhật Hồ Chí Minh. Roshchin đã báo cáo với Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Đảng ủy Trung ương, Vagan Gri-goryan, người đã tiếp cận Stalin. Người Liên Xô bối rối trước sự khác biệt giữa thông tin của họ về ngày sinh của Hồ Chí Minh và ngày 19 tháng 5 năm 1890, nhưng quyết định gửi một bức điện, mặc dù không có chữ ký của Stalin mà của Mikhail Suslov, tổng biên tập của Pravda thay mặt Đảng Cộng sản (Cục Lưu trữ Nhà nước Nga 1950).21 Theo thời gian, với sự công nhận của VNDCCH và sự mở rộng của phe Liên Xô, ngày càng có nhiều bức điện và thư chúc mừng của các nhà lãnh đạo, tổ chức và nhóm nước ngoài xuất hiện trên các phương tiện truyền thông.22 Từ trong nước, những lá thư chúc mừng đã được gửi tới Hồ Chí Minh. Ngoài ra, cũng như ở Liên Xô, nhiều cuộc thi đã được tổ chức để kết quả của họ có thể được báo cáo vào ngày sinh nhật của nhà lãnh đạo và những người chiến thắng có cơ hội được đích thân trình bày những lời chúc tốt đẹp nhất của họ. Vì vậy, ngày sinh đã chứng tỏ là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển mối quan hệ của Hồ Chí Minh với nhân dân và với sự sùng bái ông.

Nguyễn Thế Anh cho rằng chính Hồ Chí Minh cũng không biết chính xác ngày sinh của mình, hoặc có lẽ không liên hệ được âm lịch với Gregorian, nhưng có khả năng ông đã biết năm âm lịch (Nguyễn Thế Anh 1983, 23).23 Có thể hình dung rằng Hồ Chí Minh không biết năm sinh của mình theo lịch nào, vì ngày sinh không quan trọng trong văn hóa truyền thống Việt Nam. Vào Ngày Tết âm lịch, một đứa trẻ sơ sinh sẽ tròn một tuổi, bất kể đứa trẻ đó được sinh ra trước đó một ngày hay mười một tháng. Không giống như ở phương Tây, không có giấy khai sinh. Ngày mất của một người, không phải ngày sinh của một người, là ngày quan trọng nhất trong lịch sử cá nhân của một người, bởi vì vào ngày kỷ niệm ngày mất của một người, con cháu của một người sẽ tưởng nhớ những người đã khuất và tiến hành các nghi lễ tại bàn thờ của họ. Với sự  Tây hóa của truyền thống Việt Nam và có lẽ còn quan trọng hơn, với sự quan liêu hóa của nhà nước đến Việt Nam cùng với thực dân Pháp, nhà nước dần dần yêu cầu các giấy tờ có ngày tháng năm sinh. Nhưng điều này bắt đầu sau thời điểm sinh của Hồ Chí Minh, và thậm chí sau đó độ chính xác của ngày sinh của một người vẫn rất tương đối, như tôi hiểu từ các cuộc thảo luận của tôi với người Việt Nam.

Tôi không biết năm 1890 được chọn như thế nào. Có lẽ sự lựa chọn cũng ngẫu nhiên như sự lựa chọn của Stalin. Có lẽ việc ghi nhớ ngày tháng kết thúc bằng số 0 được coi là dễ dàng hơn và giúp việc đếm tuổi trở nên dễ dàng như sinh nhật của Lenin (1870) và Engels (1820). Đối với ngày 19 tháng 5, tồn tại hai cách giải thích.

Theo Nguyễn Thế Anh, ngày 19/5 được chọn vì đây là ngày diễn ra phiên họp cuối cùng của Hội nghị lần thứ tám Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1941 tại Pác Bó, được công nhận là ngày thành lập mặt trận Việt Minh chiến đấu giải phóng Việt Nam khỏi thực dân Pháp. Ngày 18/5/1946, Đô đốc Thierry d’Argenlieu, Cao ủy Pháp tại Đông Dương đến thăm chính thức Việt Nam. Nguyễn Thế Anh (1983, 23) cho rằng lễ kỷ niệm được tổ chức để gây ấn tượng với d’Argenlieu. Một phiên bản chống cộng cũng liên hệ nó với chuyến thăm của d’Argenlieu nhưng trong một bối cảnh khác. Theo đó, những người cộng sản nghĩ rằng họ phải trang trí thành phố để khen ngợi sự xuất hiện của d’Argenlieu nhưng lại xung đột về việc huy động người dân làm điều đó cho một người Pháp, vì vậy họ giải thích rằng việc trang trí này là để kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chí Minh (Hồ Chí Minh: Tên phản quốc số 1, 1965, 2).

Những lý do này không loại trừ lẫn nhau. Sự trùng hợp về sự thành lập của Việt Minh với ngày sinh của Hồ Chí Minh dường như là quá ngẫu nhiên đến mức không thể bỏ qua, cũng như chuyến thăm của d’Argenlieu đến Hà Nội. Năm 1946 là năm đầu tiên Việt Nam độc lập, là cơ hội đầu tiên để tổ chức công khai, và điều thực sự có thể tốt hơn là kỷ niệm ngày sinh của Liên đoàn đấu tranh giành độc lập và ngày sinh của lãnh tụ. Chuyến thăm của D’Argenlieu đã mang lại một phần thưởng bổ sung để chứng tỏ với người Pháp rằng người dân Việt Nam luôn theo dõi và yêu mến nhà lãnh đạo của họ, đặc biệt quan trọng trong tình hình phức tạp lúc bấy giờ, với việc quân đội Trung Quốc vẫn đóng trong nước và các cuộc đàm phán với Pháp vẫn đang diễn ra.

Về lâu dài, lễ kỷ niệm ngày sinh đã góp phần xây dựng mối liên kết giữa nhà nước và nhân dân, báo hiệu sự củng cố quyền lực cho chế độ mới và đặt nền móng xây dựng tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay cả sau khi ông qua đời và tới nay, ngày sinh của Hồ Chí Minh vẫn là tâm điểm trong sự tưởng nhớ ông, được gắn với truyền thống tôn kính các bậc tổ tiên đã khuất vào những ngày giỗ tổ. Cái chết của ông vào ngày 2 tháng 9 năm 1969, dường như là một sự tình cờ, vào dịp kỷ niệm 24 năm Ngày Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam, và do đó, nó được xếp vào ngày lễ lớn của đất nước.

Lễ kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng đến quan niệm của Eric Hobsbawm (1983, 1) về truyền thống được phát minh “như một tập hợp các thực hành, thường được điều chỉnh bởi các quy tắc được chấp nhận một cách công khai hoặc ngấm ngầm và mang tính chất nghi lễ hoặc biểu tượng, tìm cách khắc sâu các giá trị và chuẩn hóa hành vi nhất định bằng cách lặp đi lặp lại, điều này tự thân trở thành liên tục- khó khăn với quá khứ. ” Sự phát minh và phát triển của truyền thống này sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã góp phần xã hội hóa lòng yêu mến của mọi người, khắc sâu niềm tin và thấm nhuần lòng tôn kính Hồ Chí Minh và thông qua Người, lòng trung thành với Đảng và chính phủ. Nó góp phần tạo nên tâm lý xây dựng đất nước và tạo nên tinh thần thủy chung, thống nhất thiên hạ. Người Việt Nam tổ chức các cuộc thi dành cho cả người lớn và trẻ em để chào mừng sinh nhật Hồ Chí Minh. Những người chiến thắng trong một số cuộc thi đã có cơ hội đến thăm nơi ở của Hồ Chí Minh để tổ chức lễ kỷ niệm công khai. Ngày sinh của Hồ Chí Minh đã trở thành một sự kiện quan trọng trong xã hội miền Bắc Việt Nam. Trong khi Chiến tranh thế giới thứ hai ở Liên Xô không lễ kỷ niệm ngày sinh của Stalin không được tổ chức thì ngày sinh của Hồ Chí Minh đã được tổ chức trong suốt các cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ ở Việt Nam.

Đối với Hồ Chí Minh, truyền thống Việt Nam xem trọng ngày mất đã được chuyển thành truyền thống tôn vinh ngày sinh của người sống. Pierre Brocheux cho rằng Hồ Chí Minh thường phản hồi công việc tổ chức sinh nhật của mình. Ví dụ, Hồ Chí Minh nhận ra rằng kỷ niệm sinh nhật của Marx và Lenin là hợp pháp, nhưng không hợp pháp, vì không thể xếp ngang với họ (Brocheux 2007, 180). Brocheux không cung cấp bất kỳ tài liệu tham khảo cụ thể nào về nguồn của tuyên bố này. Hơn nữa, những tuyên bố như thế này không có gì lạ đối với những người luôn là trung tâm của các tôn giáo của chính họ. Như sử gia người Anh về Chủ nghĩa Mao, Rana Mitter đã chứng minh, “Sự tôn sùng của Mao phụ thuộc vào những người cổ vũ. Bản thân Mao hiếm khi ca ngợi vai trò của chính mình, và người ta thậm chí còn thấy ông ta đưa ra những tuyên bố mà bề ngoài có vẻ như hạ thấp sự sùng bái nhân cách” (Mitter 2008, 155). Tuy nhiên, Hồ Chí Minh tích cực tham gia các sự kiện kỷ niệm liên quan đến ngày sinh chính thức của ông, chẳng hạn như công khai nhận thư chúc mừng và chúc mừng người chiến thắng trong cuộc thi được tổ chức để tôn trọng vinh danh ngày sinh của ông, cho thấy ông đã trực tiếp tham gia vào việc phát triển tín ngưỡng của mình.

Quốc gia như một gia đình

Hồ Chí Minh, giống như Stalin, đã được ca ngợi là Cha Già Dân tộc. Những Mẩu Chuyện bản Trung Quốc sử dụng một số tài liệu tham khảo về ông với tư cách này: Fuqin Hu Zhiming 父親 胡志明: “Cha Hồ Chí Minh”; Fuqin Ho 父親 胡: “Cha Hồ”; hay thậm chí là Hu baba 胡 爸爸 rất thân mật: “Cha” hoặc Cha Hồ”. “Cha” trong tiếng Việt, thể hiện sự gần gũi và nồng hậu trong tình cảm của mọi người đối với Hồ Chí Minh. Trong số rất nhiều ví dụ khác mà chúng tôi đọc được: “Tại mặt trận, những người chiến đấu xung phong hét lên: “Vì Tổ quốc, vì Cha Hồ”! Tiến lên! “Đối với cha Hồ, công nhân trong nhà máy và trên các cánh đồng đã tăng thời gian làm việc” (Trần Dân Tiên 1949, 189). Hầu hết các ví dụ này đã được chuyển sang phiên bản tiếng Việt.

Nhưng “Cha” là một địa vị không trở thành từ tham chiếu hoặc thuật ngữ xưng hô thông thường đối với Hồ Chí Minh. Hình thức xưng hô rất quan trọng ở Việt Nam, vì nó cho biết vị trí của mỗi người đối với những người khác trong một cấu trúc xã hội phân cấp. Hình thức xưng hô thông thường của Hồ Chí Minh đã trở thành Bác Hồ tiếng Việt và “Uncle Ho” tiếng Anh. Nhưng thuật ngữ “Bác” trong bất kỳ ngôn ngữ phương Tây nào đều làm mất đi sắc thái của từ “bác” trong tiếng Việt, có nghĩa là anh cả của cha ai đó. Với tư cách là một người anh, người bác nắm giữ quyền lực không chỉ đối với thế hệ trẻ mà còn đối với cha anh, trở thành một trong những nhân vật có ý nghĩa nhất trong gia đình. Ngoài Hồ Chí Minh hay Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác Hồ còn là thuật ngữ xưng hô được sử dụng trong ấn bản tiếng Việt năm 1955 và là thuật ngữ mà người đàn ông này đã sử dụng trong các bài diễn văn phổ biến của Việt Nam. Bùi Tín, một nhà báo thân cận với chính quyền, người đã đào tẩu sang phương Tây năm 1991, lưu ý rằng việc truyền bá ‘tên gọi Hồ Chí Minh’, Hồ Chí Minh đã đóng một vai trò quan trọng không thể tách rời truyền thống Việt Nam. Bùi Tín (1995, 17–18) cho rằng đối với thanh niên và trẻ em là ổn, nhưng “[t] ở đây có nhiều người lớn hơn Hồ rất nhiều, những người xứng đáng hơn với hình thức xưng hô này,” và không có anh hùng nào khác trong Lịch sử Việt Nam được đề cập đến với từ ngữ mang tính chất gia đình này. Bùi Tín cho rằng Hồ Chí Minh tự xưng là “Cha” trong Những Mâu Chuyện giống với sự sùng bái cá nhân của Stalin, chứ không phải theo truyền thống của Việt Nam.

Có rất ít thông tin về gia đình Hồ Chí Minh. Tiểu sử của ông thường không đề cập đến phụ thân của Hồ Chí Minh như một học giả gốc nông dân (Trần Ngọc Danh 1949, 11, 13; Trần Dân Tiên 1949, 4, 7; 1955, 10). Chỉ có ấn bản sớm nhất, Tiểu sử của Trần Ngọc Danh và bản tiếng Trung của Trần Dân Tiên, mới nói sơ lược về đời sống hôn nhân của Hồ Chí Minh. Tướng Hoàng Cương đã đề cập đến ở trên, tường thuật trong Tiểu sử và trong ấn bản Trung Quốc của Những Mẩu Chuyện rằng thời trẻ, Hồ Chí Minh đã kết hôn, góa vợ, chưa từng tái hôn và chưa từng có con. Khi được một người bạn hỏi khi nào sẽ kết hôn lại, Hồ Chí Minh nói rằng ông sẽ kết hôn khi Việt Nam độc lập (Trần Ngọc Danh 1949, 12; Trần Dân Tiên 1949, 5). Tuy nhiên, đoạn văn này không bao giờ được tìm thấy trong các ấn bản được xuất bản ở Việt Nam hoặc trong các bản dịch sang các thứ tiếng nước ngoài khác được thực hiện sau năm 1955.

Trong một bức thư được cho là viết vào năm 1947, Hồ Chí Minh đã tự đặt mình là người đứng đầu một gia đình quốc gia khi ông viết: “Tôi không có gia đình và cũng không có con. Việt Nam là đại gia đình của tôi” (Hồ Chí Minh 1978, “Gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng” [Thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng], 26). Nhưng tuyên bố này không nhất thiết loại trừ sự tồn tại của một người vợ trong cuộc sống trước đó của ông, như đã được ghi lại trong Những Mẩu Chuyện.

Rõ ràng, hình ảnh Hồ Chí Minh với Việt Nam như một gia đình duy nhất của ông vốn chưa được hình thành vào thời điểm sáng tác nguyên bản của Những Mẩu Chuyện, hoặc người ta cho rằng hình ảnh một nhà lãnh đạo có quan hệ vợ chồng hoặc cũng chẳng hại gì nếu ai đó nghĩ rằng ông ấy cũng cõ một gia đình. Rốt cuộc, các nhà lãnh đạo khác trong hàng ngũ mà Hồ Chí Minh muốn được coi là ở cả phương Tây và châu Á đều có cuộc sống cá nhân (Trần Dân Tiên 1949). Tôn Trung Sơn đã kết hôn ba lần. Nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa Indonesia Sukarno, được nhắc đến như một nhà lãnh đạo có thể so sánh với Hồ Chí Minh trong phiên bản sớm nhất của Những Mẩu Chuyện, từng có bốn người vợ cùng một lúc. Gandhi cũng có vợ, Lenin và Stalin cũng vậy. Có lẽ lúc đó Hồ Chí Minh không nghĩ rằng lịch sử hôn nhân của mình là một vấn đề.

Nhưng sau lần xuất bản đầu tiên của Những Mẩu Chuyện năm 1949, người ta không thấy đề cập đến cuộc sống cá nhân của ông trong bất kỳ ấn bản nào khác hoặc trong bất kỳ cuốn sách nào khác được xuất bản ở Việt Nam, cũng như không thấy nó xuất hiện trong một tác phẩm khác có tựa đề Chuyện kể trên đường mòn do T. Lan viết, một bút danh của Hồ Chí Minh, và được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1961 (Lan 1961).24 Hình ảnh một vị lãnh tụ bất cần đời, hết lòng vì cách mạng, vì nước, vì dân đã trở thành thứ được truyền từ ấn phẩm này sang ấn phẩm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Mặc dù đã kết hôn và không ác cảm với các nữ đồng chí trong suốt cuộc đời của mình, nhưng có một đứa con (hoặc nhiều con) ở Trung Quốc và có thể ở Liên Xô (Brocheux 2007, 39–40, 181–82; Duiker 2000, 143, 198–99; Quinn- Judge 1993; 2002, 182–83), Hồ Chí Minh thích hình ảnh một nhà cách mạng khổ hạnh, người hy sinh quan hệ gia đình cho cách mạng. Ngay cả sau khi Hồ Chí Minh qua đời, hình ảnh của ông như một nhà lãnh đạo khổ hạnh không màng đến cuộc sống cá nhân vẫn được lưu giữ và truyền bá ở Việt Nam và trên thế giới. Việc từ chối gia đình của chính mình là công cụ tạo ra cho ông một hình ảnh của một nhân vật tiêu biểu cho tất cả người Việt Nam.

Mối quan hệ vợ chồng không chỉ trở thành một chủ đề cấm kỵ, một số phận tương tự đã diễn ra cuộc diễn thuyết về gia đình ruột thịt của ông. Không có gì về cha mẹ và anh chị em của ông, ngoại trừ nhận xét rằng cha ông là một người có học thức xuất thân từ nông dân. Sự xa cách của Hồ Chí Minh từ cả gia đình riêng của mình và gia đình của người phối ngẫu cũng tránh các vấn đề với những người có liên hệ với các nhà lãnh đạo quyền lực bằng quan hệ gia đình hoặc hôn nhân.

Patricia Pelley, một nhà sử học về Việt Nam thời hậu thuộc địa, lập luận rằng bất chấp những nỗ lực của nhà cầm quyền cộng sản nhằm phi gia đình hóa một xã hội dựa trên gia đình, Hồ Chí Minh “vun trồng mối ràng buộc thân hữu hư cấu” (Pelley 2000, 158). Là người đứng đầu dòng họ Việt Nam, Hồ Chí Minh có quyền không chỉ là tôn trọng địa vị của mình mà quan trọng hơn là mong đợi tình yêu thương với tư cách là Cha già dân tộc, và hơn nữa là người bác của mọi người Việt Nam. Điều này đặc biệt được tạo điều kiện bởi thực tế là ông không có mối quan hệ gia đình rõ ràng nào của riêng mình.

Trong bài diễn văn về cuộc đời của Hồ Chí Minh đối với cả người lớn và trẻ em đều không có tình cảm gia đình hay tình cảm thân thuộc. Trước năm 1975, chỉ có một số tài liệu tham khảo rải rác và sơ sài về Hồ Chí Minh trong các tác phẩm khác với tiểu sử chính thức. Một ví dụ, do Vương Lộc và Vương Kính viết cho thiếu nhi, có tựa đề “Về quê Bác”, được xuất bản lần đầu năm 1965 với 18.000 bản. Năm 1970, sau khi Hồ Chí Minh qua đời, nó đã được tái bản với một số thay đổi với số lượng báo chí rất lớn là 80.200 bản.

Cuốn sách này nêu bật nguồn gốc cách mạng và lòng yêu nước của Hồ Chí Minh, nhưng không phải là mối quan hệ gia đình của ông (Vương Lộc và Vương Kính 1965, 19; 1970, 17). Cuốn sách kể rằng sau khi Hồ Chí Minh rời Việt Nam vào năm 1911, cha của ông là Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929) chuyển đến Sài Gòn, nơi ông sống trong hoàn cảnh eo hẹp để hành nghề y. Khi cụ Nguyễn Sinh Sắc qua đời, một người học trò cũ nghe tin cụ mất đã sáng tác đôi câu đối để tưởng nhớ cuộc đời cụ, theo đúng truyền thống Việt Nam. Những điểm này giống nhau trong cả hai lần xuất bản Về quê Bác (Vương Lộc và Vương Trọng 1965, 23; 1970, 21–22).

Các tác giả không thuật lại việc Hồ Chí Minh tưởng niệm cuộc đời và cái chết của cha mình như thế nào hay học trò cũ là người duy nhất làm việc đó. Việc thiếu bất kỳ chi tiết nào về điều này là một sự tò mò. Lời giải thích hợp lý nhất cho người đọc là Hồ Chí Minh đi xa và bận nhiều việc khác, giá trị của việc này vượt quá tầm quan trọng của gia đình; do đó, ông không thể bày tỏ cảm xúc của mình.

Tuy nhiên, ấn bản thứ hai giới thiệu một đoạn văn có thể được coi là một phần của lời giải thích. Sách trích dẫn hồi ký của Lê Mạnh Trinh, người đã viết vài cuốn sách về cuộc sống của Hồ Chí Minh trước những năm 1940 ở hải ngoại và về phong trào cách mạng. Theo bản thứ hai, Lê Mạnh Trinh đến thăm cha của Hồ Chí Minh vào năm 1926 và kể lại rằng Nguyễn Sinh Sắc đã nói: “Tôi nghe nói Quốc [Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh] đang ở Quảng Châu. Nếu anh nhìn thấy Quốc, hãy nói với Quốc rằng  sức khỏe tôi vẫn tốt, đừng lo lắng… rằng hãy cố gắng hoàn thành sự nghiệp.… Quốc trung với nước, và điều đó chính là có hiếu với tôi ”(Vương  Lộc và Vương Kinh 1970, 22) (ND: Chúng tôi chưa tìm được văn bản tiếng Việt, do đó chúng tôi sẽ bổ sung sau). Thông điệp ở đây là trung thành với đất nước tương đương với hiếu thảo với cha, một khuôn mẫu điển hình của Nho giáo.

Quan hệ của Hồ Chí Minh với hai anh chị em còn sống của mình — chị gái Nguyễn Thị Bạch Liên (tức Nguyễn Thị Thanh, 1884–1954) và anh cả Nguyễn Tất Đạt (hay còn gọi là Nguyễn Tất Khiêm, 1888–1950) —cũng có vẻ hòa thuận.25 Vương Lộc và Vương Kính miêu tả Nguyễn Thị Bạch Liên là người có phẩm chất cách mạng giống Hồ Chí Minh; bà tràn ngập “tinh thần cách mạng và không nghĩ đến chồng con.” Theo họ, người Pháp bắt bà hai lần, lần đầu tiên vào khoảng năm 1914, sau đó bà phải ngồi tù bảy năm. Không lâu sau khi được trả tự do và trở về Vinh, bà lại tham gia hoạt động cách mạng và lại bị Pháp bắt và chỉ được trả tự do vào năm 1942, khoảng thời gian Hồ Chí Minh trở về Việt Nam sau ba mươi năm định cư ở nước ngoài. Cuốn sách không đề cập đến việc Hồ Chí Minh thiết lập bất kỳ liên lạc nào với chị gái của mình hoặc thậm chí cố gắng làm điều này. Ông đã tiếp tục con đường của mình và dẫn dắt đất nước đến với Cách mạng Tháng Tám và Tuyên ngôn Độc lập. Chính khi những bức ảnh của ông sau đó xuất hiện trên khắp đất nước, theo các tác giả, những người ở quê hương Kim Liên của Hồ Chí Minh đã nhận ra cậu bé đã từng sống tại đây. Chị gái của Hồ Chí Minh “nói với những người dân làng của mình:“ Để tôi tự đi xem. ”Với hai con vịt và hai chục quả trứng, bà lên đường đến thủ đô để gặp em trai mình. Hai chị em gặp nhau, sau đó bà trở về nhà và mất năm 1954 (Vương Lộc và Vương Kinh 1965, 25–26; 1970, 25–26). Người chị gái chắc chắn đã nỗ lực để thiết lập lại liên lạc với em trai mình, nhưng họ dường như không gặp lại nhau và không có gì được tiết lộ về phản ứng của Hồ Chí Minh trước cái chết của bà.

Cuốn sách không cung cấp bất kỳ thông tin nào về cuộc hội ngộ với anh trai của ông là Nguyễn Tất Đạt, người mà cuốn sách mô tả là một nhà cách mạng tiến bộ được chú ý theo đúng nghĩa. William Duiker tuyên bố rằng cả hai thực sự đã gặp nhau, nhưng nguồn gốc của thông tin này là không rõ ràng và chưa được kiểm chứng. Duiker cũng tuyên bố rằng trong thời gian sống ở nước ngoài, Hồ Chí Minh thỉnh thoảng trao đổi thư từ với anh chị em của mình. Năm 1926, theo Duiker, Hồ Chí Minh thậm chí còn gửi cho anh trai mình một số tiền nhỏ (Duiker 2000, 386). Mục đích của tôi ở đây không phải là thiết lập tính lịch sử của các mối liên hệ của họ mà là để xem xét mối quan hệ giữa hai anh em được miêu tả như thế nào để xác định thông điệp được công bố. “Về quê Bác” không đề cập đến bất kỳ cuộc gặp gỡ anh em nào và không chỉ ra bất kỳ hình thức liên hệ nào khác.

Vương Lộc và Vương Kính miêu tả Nguyễn Tất Đạt chịu ảnh hưởng của một trong những người đầu tiên theo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, Phan Bội Châu. Nguyễn Tất Đạt đã tổ chức hương ước chống ma chay và thờ phụng lãng phí, chống hối lộ. Ông cũng là người đầu tiên dạy chữ cái cho dân làng. Cũng như chị gái, ông bị Pháp bắt đày ra khỏi làng và chỉ được trở về vào năm 1941. Năm 1950, ông Nguyễn Tất Đạt, giống như anh em ruột của mình, không vợ con, qua đời. Như Vương Lộc và Vương Kính giải thích:

“Do bận việc nhà nước nên Bác không về dự lễ tang được.

Bác gửi một bức điện vào ngày 9 tháng 11 năm 1950:

Khi nghe tin anh trai tôi qua đời, lòng tôi ngập tràn nỗi buồn. Nhưng vì bận nhiều việc quốc gia đại sự và đường xa, khi anh già yếu, tôi không thể chăm sóc anh, và cả khi anh lìa đời, tôi cũng không có điều kiện nhìn mặt anh lần cuối.

Chao ôi! Chúng con xin tỏ lòng kính ngưỡng và nguyện cầu cho con người đã hi sinh tình cảm gia đình để lo sự nghiệp quốc gia.”

(Vương và Vương 1965, 24–25; 1970, 23–24) (ND: Chúng tôi chưa tìm được văn bản tiếng Việt, do đó chúng tôi sẽ bổ sung sau).

Hồ Chí Minh về thăm quê nhà lần đầu tiên vào năm 1957; ông trở lại đó một lần nữa vào năm 1961 (Vương Lộc và Vương Kinh 1965, 31, 33; 1970, 33, 35). Mối quan hệ của ông với gia đình cũng như mối liên hệ của ông với quê nhà vẫn còn khá bí ẩn. Việc rũ bỏ những ràng buộc gia đình riêng không chỉ đặt Hồ Chí Minh vào vị trí của một người yêu nước, chọn quốc gia thay vì gia đình và cuộc sống cá nhân mà còn tạo ra khí chất chí công vô tư, khi không còn những ràng buộc cá nhân, cả đất nước đã trở thành gia đình của ông, trong đó trẻ em có một vị trí đặc biệt. Việc miêu tả cuộc đời của Hồ Chí Minh cũng đã chứng minh rõ ràng cho người dân Việt Nam thấy thứ tự khinh trọng giữa nhà nước và gia đình mà họ phải tuân thủ, phá bỏ truyền thống hiếu thảo vốn là lý tưởng trong xã hội của họ suốt nhiều thế kỷ.

Cái chết và di chúc Hồ Chí Minh

Vào cuối những năm 1940s và đến những năm 1950s khi Hồ Chí Minh đang ở đỉnh cao quyền lực, sự sùng bái ông vẫn chưa thể hình thành và phát triển nếu không có sự chủ động và tham gia của ông, hoặc ít nhất là không có sự đồng tình tích cực của ông. Trong những năm 1960s, ông mất quyền lực chính trị thực sự, bị Lê Duẩn, người nắm quyền lãnh đạo Đảng vào cuối những năm 1950s, đẩy ra rìa (Liên-Hằng Nguyễn 2012, 51, 68). Trong một bài báo nhân dịp sinh nhật lần thứ bảy mươi lăm của Hồ Chí Minh, Chính Luận đã mô tả sự thay đổi vị trí của Hồ Chí Minh là do Lê Duẩn gạt sang một bên (Chính luận 1965, 1).

Già yếu ở bên lề, Hồ Chí Minh biến thành một nhân viên cho giáo phái của mình vẫn tiếp tục phục vụ Đảng và chính phủ.

Quyền sở hữu và quyền kiểm soát giáo phái đã tuột khỏi tay ông khi sức khỏe của ông giảm sút. Hồ Chí Minh viết di chúc đầu tiên vào năm 1965, yêu cầu được hỏa táng để làm gương cho những người khác, vì ông thấy hỏa táng hợp vệ sinh hơn và không tốn đất để chôn cất. Hồ Chí Minh muốn tro của ông được rải và xương của ông được chôn trên đỉnh đồi ở khu vực núi Tam Đảo, phía bắc Hà Nội, hoặc núi Ba Vì, phía tây bắc Hà Nội. Ông muốn một ngôi nhà đơn sơ rộng rãi và mát mẻ được xây dựng trên âm phần của mình để những người đến thăm có thể nghỉ ngơi tại đó. Ông cũng mong mọi người đến thăm sẽ trồng cây; bằng cách này một khu rừng sẽ mọc lên vừa làm đẹp cảnh quan vừa tốt cho nông nghiệp. Ông quy định nếu ông qua đời trước khi đất nước thống nhất, một phần xương máu của ông sẽ được gửi đến đồng bào miền Nam. Năm 1968, ông yêu cầu chia xương của ông vào ba thùng đất nung và chôn cất ở Bắc, Trung, Nam Việt Nam tại các địa điểm do cư dân các vùng đó chọn. Bản di chúc thứ ba và cuối cùng của ông, được viết vào tháng 5 năm 1969, là bản di chúc ngắn nhất và không có nội dung nào liên quan đến công việc cá nhân của ông (Hồ Chí Minh 1989, 37, 39, 44).

Năm 1989, cả ba bản Di chúc đều được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam công bố. Trong phần giới thiệu, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư Đảng Cộng sản lúc bấy giờ, giải thích về tranh cãi di chúc. Theo ông, Bộ Chính trị quyết định công bố Di chúc năm 1965 của Hồ Chí Minh là di chúc chính thức vì Lê Duẩn đã chứng kiến ​​tại thời điểm viết. Tuy nhiên, Bộ Chính trị đã quyết định rằng thi hài của Hồ Chí Minh phải được bảo tồn cho nhân dân Việt Nam, và đặc biệt cho đồng bào ở miền nam. Theo Nguyễn Văn Linh, chính vì lo ngại điều này mà họ đã xin phép Hồ Chí Minh để hành động khác với lời di chúc. Nguyễn Văn Linh không cho biết khi nào họ yêu cầu Hồ Chí Minh cho phép hoặc liệu ông có cấp phép hay không (Hồ Chí Minh 1989, 7).

Trong quá khứ, dù hiếm khi, đã có tiền lệ không chôn cất. Thi hài của một số nhà sư Phật giáo quá cố vào thế kỷ XVII được sơn mài bằng vecni và được bảo quản để trưng bày trong các ngôi chùa (Hà Văn Tấn 1993, 250). Nhưng việc ướp xác Hồ Chí Minh không bắt nguồn từ truyền thống đó; đúng hơn, nó được lấy cảm hứng từ sự bảo tồn của Lenin trong lăng Matxcơva. Bộ chính trị Việt Nam đã bắt đầu chuẩn bị trước cho quá trình chuyển đổi này, sau di chúc đầu tiên của Hồ Chí Minh và trước di chúc thứ hai.

Nguyễn Văn Cương, thiếu tướng, trưởng ban quản lý lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là người chỉ huy bảo vệ lăng, hồi tưởng lại như sau:

“Do sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng giảm sút, ngày 15 tháng 7 năm 1967, sau lễ kỷ niệm 77 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng dưới sự chủ trì của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã họp kín phiên đặc biệt liên quan đến vấn đề sức khỏe của Chủ tịch nước. Tại cuộc họp này, họ đã xác định các biện pháp bảo quản lâu dài thi hài của Người sau khi Người qua đời để đồng bào, chiến sĩ cả nước, nhất là từ miền Nam, có thể nhìn thấy Hồ Chí Minh và bày tỏ lòng thành kính và tưởng niệm.”

Để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này, Bộ Chính trị đã quyết định tiếp cận Liên Xô vì Liên Xô là một nước xã hội chủ nghĩa và là người bạn chân thành, trung thành của nhân dân Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Liên Xô cũng có kinh nghiệm bảo quản thi hài của V.I.Lênin. Cũng tại cuộc họp đó, Ủy ban Quân vụ Trung ương Đảng giao trách nhiệm bảo quản thi thể Hồ Chí Minh khi ông qua đời; Bộ Xây dựng được giao trách nhiệm chủ trì xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng với thành tích vĩ đại của Người.

Ngay sau cuộc họp này, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ VNDCCH Lê Thanh Nghị đã lên đường sang Liên Xô để đề nghị phía Liên Xô hỗ trợ chuẩn bị cho các chuyên gia y tế được đào tạo đặc biệt để bảo quản thi thể của Hồ Chí Minh khi ông qua đời và trong quá trình xây dựng Lăng.

Những người bạn Liên Xô đồng ý đáp ứng yêu cầu và cung cấp mọi sự trợ giúp cần thiết. Từ tháng 9 năm 1967 đến tháng 4 năm 1968, Nguyễn Gia Quyền, Lê Ngọc Mẫn và Lê Diệu đi thực tập nghề ướp xác tại Liên Xô. (Nguyễn Văn Cương 2013, 396–97)

Bộ Chính trị và Hồ Chí Minh đã hành động riêng rẽ. Bộ Chính trị đã chuẩn bị cho việc ướp xác Hồ Chí Minh sau khi họ biết về di chúc đầu tiên của ông, trong đó yêu cầu hỏa táng. Nếu họ hỏi ông trong khoảng thời gian từ 1965 đến 1967, chắc chắn ông không đồng ý, vì ông đã nhắc lại mong muốn của mình vào năm 1968. Ý kiến ​​riêng của Hồ Chí Minh về sự sùng bái ông khác với ý kiến ​​của Đảng. Với lời giải thích của Nguyễn Văn Linh và việc công bố những phần chưa được công bố trong Di chúc của Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã công nhận ý chí vượt trội của Đảng đối với mong muốn cá nhân của Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh không muốn được trưng bày trong lăng. Nhưng điều đó không có nghĩa là ông không muốn một giáo phái – mà hoàn toàn ngược lại. Trước hết, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một bộ phận rất lớn của di sản văn hóa Việt Nam. Người Việt Nam sợ hãi không có con cháu để tôn kính họ khi họ qua đời. Ngày chết, chứ không phải là ngày sinh, là ngày kỷ niệm chính. Hồ Chí Minh là một người Việt Nam, và đó là một phần văn hóa của ông ấy.

Hơn nữa, ngay cả khi là một người theo chủ nghĩa vô thần, ông dường như vẫn nuôi hy vọng về thế giới bên kia vì trong cả ba bản di chúc của mình, ông ấy đều bày tỏ ý định gặp gỡ Marx, Lenin và các nhà cách mạng tiền bối khác (Hồ Chí Minh 1989, 35, 39 (48).

Khi bày tỏ mong muốn được hỏa táng, Hồ Chí Minh dường như đã rời xa truyền thống mai táng của Việt Nam. Trong truyền thống Phật giáo, người quá cố thường được hỏa táng.

Tuy nhiên, ở Việt Nam ngay cả trước Cách mạng Tháng Tám, người dân, bao gồm cả Phật tử, thích chôn cất người chết hơn là hỏa táng. Không ai trong số các nhà lãnh đạo của thế giới cộng sản vào thời điểm đó được hỏa táng. Chúng ta chỉ có thể đoán xem Hồ Chí Minh tự nghĩ ra kịch bản này hay được truyền cảm hứng từ những tấm gương của các nhà lãnh đạo Ấn Độ.

Cả Mahatma Gandhi, lãnh đạo của Phong trào Độc lập Ấn Độ khi Anh cai trị, người bị ám sát năm 1948 và thủ tướng Ấn Độ đầu tiên Jawaharlal Nehru, người qua đời tự nhiên vào năm 1964, đều được hỏa táng, theo nghi thức của người Hindu.

Tro cốt của Gandhi đã được phân phát khắp Ấn Độ vào năm 1948 để xoa dịu đám đông tang tóc của Ấn Độ độc lập, phu nhận Mahatma chôn cất theo truyền thống của người Hindu — trộn lẫn tro ở sông Hằng hoặc một vùng nước khác — mà ông muốn (Ramesh 2008). Theo di chúc của Nehru, tro cốt của ông đã được phân phát khắp Ấn Độ (New York Times 1964). Ngay cả khi Hồ Chí Minh mượn ví dụ của Gandhi và Nehru, không giống như họ, ông thích có những nơi chôn cất nhất định để mọi người có thể viếng tro cốt của ông.

Việc tôn kính Hồ Chí Minh gần như đã được định trước ở Việt Nam, việc tôn kính những người đã khuất, dù là tổ tiên hay những cá nhân anh hùng, đã là một phần chính trong đời sống nghi lễ của người Việt Nam trong nhiều thế kỷ. Với Hồ Chí Minh, truyền thống này đã có những hình thức mới. Về mặt chính thức, ông không có con cháu để thực hiện các nghi lễ của tổ tiên, vì vậy người dân Việt Nam như dòng họ của ông sẽ là những người sau này phải tôn kính ông. Yêu cầu chia tro cốt của mình, Hồ Chí Minh đã thể hiện nhận thức về bản thân hoặc của người khác như một thực thể quý giá mà người Việt Nam muốn được tiếp cận sau khi ông qua đời, như họ đã từng làm trong cuộc đời của ông. Việc chia tro cốt của ông sẽ giúp nhiều người tiếp cận hơn. Hồ Chí Minh hình dung rằng cây cối trồng gần mộ của mình sẽ cải thiện cảnh vật và nông nghiệp, đem lại lợi ích cho nhân dân và đất nước, đồng thời cho phép sự sùng bái ông được tiếp tục theo cùng một phong cách đơn giản và dễ tiếp cận đã được sử dụng trong Những Mẩu Chuyện, khác với văn phong nặng nề liên quan đến các nhà lãnh đạo Liên Xô Lenin và Stalin, hoặc cho vấn đề đó, của Trường Chinh, Phạm Văn Đong, hoặc Lê Duẩn. Đây sẽ là kiểu gia đình, thực ra là kiểu truyền thống của Việt Nam, chắc chắn không phải kiểu nhà nước. Sự sùng bái của ông sẽ không còn phục vụ Đảng, sẽ không bị Đảng kiểm soát, mà thay vào đó là phục vụ đất nước và nhân dân, theo một nghĩa nào đó là truyền thống Việt Nam tôn nghiêm. Nhưng điều đó đã không xảy ra.

Sau khi ông qua đời, sự sùng bái của Hồ Chí Minh, mà ông không thể ảnh hưởng trực tiếp được nữa, biến tướng hoàn toàn dưới sự kiểm soát của Đảng và nhà nước. Không phụ lòng mong mỏi của Hồ Chí Minh, Đảng và nhà nước đã cẩn thận duy trì sự sùng bái Hồ Chí Minh vì nó tiếp tục phục vụ tốt cho họ.

Trong các bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, có một bức ảnh nổi tiếng chụp cảnh Hồ Chí Minh chỉ huy một dàn nhạc (xem hình 2). Nhiếp ảnh gia Lâm Hồng Long đã chụp bức ảnh vào tháng 9 năm 1960 nhân dịp Đại hội Đảng lần thứ ba tại Vườn Bách thảo Hà Nội với cảnh Hồ Chí Minh chỉ huy một dàn nhạc chơi bài “Kết Đoàn” (Trần Đương 2014).

Hồ Chí Minh không chỉ huy hòa tấu nhạc truyền thống Việt Nam, vì chúng không cần nhạc trưởng. Một dàn nhạc với một nhạc trưởng chưa được biết đến trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. Chỉ có dàn nhạc kiểu phương Tây mới cần có nhạc trưởng. Hồ Chí Minh là một điều gì đó mới mẻ ở Việt Nam. Điều này được truyền cảm hứng từ các sự tôn kính các nhà lãnh đạo cộng sản của những người cộng sản Việt Nam, là trung tâm của phong trào quốc tế. Nó không thể hoạt động như một bản hòa tấu Việt Nam với các nhạc sĩ ngẫu hứng trong các chế độ truyền thống và ứng đáp kỹ thuật điêu luyện của những người khác. Các nhạc cụ trong dàn nhạc của Hồ Chí Minh là từ một nền văn hóa khác, và việc tạo ra âm nhạc đòi hỏi ông phải cung cấp quyền hạn cho chiếc đũa chỉ huy của mình.

Dàn nhạc của tín ngưỡng Hồ Chí Minh bao gồm nhiều người, nhiều tổ chức và những ấn phẩm đã nâng ông lên mức cao nhất của tình yêu dân tộc. Không có kỹ năng chỉ huy âm nhạc, ông vẫn tỏ ra là người có công trong chỉ huy dàn nhạc đã xóa nhòa sự sùng bái của ông ấy và giúp giữ chân mọi người trong đảng. Chơi cùng một lúc, dàn nhạc và người chỉ huy đã tạo ra một giai điệu tiếp tục thu hút những người nghe mới, nhiều người trong số họ đã lần lượt trở thành thành viên của dàn nhạc; họ đã cùng nhau chuyển hóa truyền thống Việt Nam và góp phần đáng kể vào sự thống nhất và vận động của xã hội Việt Nam. Trong bức ảnh ở hình 2, chúng ta thấy Hồ Chí Minh quay lưng lại với dàn nhạc, nhìn chằm chằm vào khán giả của mình và nhìn chúng ta ngày nay, như thể mời chúng ta tham gia Bài hát Kết Đoàn, tham gia vào cộng đồng, như khi Người còn sống. Bức ảnh này đã xuất hiện hàng trăm lần trên các ấn phẩm và triển lãm khác nhau ở Việt Nam và nước ngoài. Như một bài báo trên tờ Nhân dân của Đảng khẳng định, những người xem bức ảnh thường bình luận: “Bác Hồ là một nhạc trưởng vĩ đại! Toàn thể dân tộc Việt Nam là một dàn hợp xướng khổng lồ!” (Hoàng Kim Đáng 2007).

Hình 2. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ huy dàn nhạc chơi ca khúc “Kết Đoàn” tại Botanic Park, Hà Nội, vào ngày 19 tháng 9 năm 1960, để chào mừng Đại Hội Đảng lần thứ III (Trần Đương 2014).

Lời cảm ơn

Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến William Duiker, nếu không có ông dự án này có lẽ đã rất khác. Nguyễn Thế Anh, Hồ Tài Tuệ Tâm, Keith Taylor, Christopher Goscha, Chester Dunning, Di Wang, Yufen Lee Mehta, và Igor Selivanov đã mở rộng tầm nhìn của tôi trong các lĩnh vực tương ứng khi tôi tham khảo ý kiến ​​của họ. Tôi đặc biệt muốn cảm ơn Pierre Brocheux đã trả lời câu hỏi của tôi và công trình của ông ấy. Mặc dù tôi không đồng tình với quan điểm của ông ấy, như thể hiện rõ trong bài luận này, tôi tôn trọng niềm tin và quan điểm của ông ấy. Theo nhiều cách, tác phẩm của ông có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự hiểu biết của tôi về tín ngưỡng Hồ Chí Minh là gì và không là gì. Tôi cũng cảm ơn Jeffrey Wasserstrom và những độc giả ẩn danh đã giúp cải thiện đáng kể bài viết này, cũng như Jennifer Munger và Andrea Kings-ton, những người đã hướng dẫn tôi trong quá trình sản xuất. Tác phẩm này lần đầu tiên được trình bày tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội Nghiên cứu Châu Á vào tháng 3 năm 2015. Tôi được hưởng lợi từ cuộc thảo luận diễn ra tại hội thảo. Tất cả các bản dịch, trừ khi có chỉ định khác, là của tôi. Mọi sai lầm cũng là của tôi.

CHÚ THÍCH

  1. Họ hàng của Stalin, Maria Svanidze, nhớ một dị bản khác của cụm này khi Stalin nói với bà vào năm 1935 rằng: “Người dân cần một Sa hoàng, một ai đó để thần tượng, để sống và làm việc vì người đó.” (Radzinsky 1997, 355).
  2. Tác phẩm của Handache Hồ Chi Minh: l’homme et son message (Người đàn ông và thông điệp của ông ấy) là một tập hợp các bài viết, bài báo về Hồ Chí Minh, và các bài phỏng vấn những người biết ông. 
  3. Cuốn sách này là bản mở rộng của cuốn sách về Hồ Chí Minh của Brocheux’s (2000). Cuốn sách của Brocheux được dịch sang tiếng Anh bởi Claire Duiker (Brocheux 2007). Tôi sẽ sử dụng bản dịch của cô ấy để tham chiếu tới tác phẩm của Brocheux. Các bản nguyên văn và được dịch thì giống hệt nhau.
  4. Trong bản dịch của Duiker, phần tiêu đề phản ánh về sự chuyển mình của Hồ Chí Minh từ một nhà cách mạng thành một biểu tượng đã bị lãng quên, và bản dịch tiếng Anh thích hợp hơn được gọi là Ho Chi Minh: A Biography (Brocheux 2007).
  5. Chủ tịch (zhuxi 主席) có nghĩa là “chủ tịch.” Cả Mao và Hồ Chí Minh đều được gọi bằng thuật ngữ này. Tuy nhiên, tước hiệu của Mao, mà ông nhận được trước Hồ Chí Minh, thường được dịch là “Chairman-Chủ tịch”, trong khi Hồ Chí Minh được dịch là “President-Chủ tịch.”
  6. NHỮNG MẨU CHUYỆN được xuất bản vào năm 1955, và trong hai thập kỷ sau đó đã được tái bản bởi Văn nghệ (Văn học nghệ thuật), Hội nhà văn (Hội nhà văn), Văn học (Văn học) và Sự thật (Sự thật) vào gần như hàng năm. Sau năm 1975, các nhà xuất bản khác đã tham gia xuất bản NHỮNG MẨU CHUYỆN. Tôi mượn thuật ngữ “NHỮNG MẨU CHUYỆN-vignettes” từ mô tả của Sophie Quinn-Judge (2002, 5) về tác phẩm.
  7. Ấn bản tiếng Pháp năm 1972 chỉ cung cấp một phần của Vignettes trong một tập bao gồm các hồi ký khác về Hồ Chí Minh. Ấn bản này được tái bản bởi cùng một nhà xuất bản năm 1990 với tựa đề L’itinéraire de Ho Chi Minh jusqu’à 1945 (Con đường Hồ Chí Minh đến năm 1945). Ngoài những ấn bản này, tôi đã tham khảo hơn một chục ấn bản tiếng Việt xuất hiện sau năm 1955 và một ấn bản tiếng Pháp khác xuất hiện năm 1990. Tôi không tham khảo bản dịch tiếng Lào năm 2003, vì nó đến sau thời gian tôi học.
  8. Theo Quinn-Judge (2002, 2), nó được xuất bản bằng tiếng Pháp năm 1948. Brocheux (2007, 243) đề cập rằng nó đã được xuất bản ở Hà Nội với tựa đề tiếng Việt là Những câu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Nó cũng được đề cập trong Huy Đức (2012, 1: 259n408). Nhưng không ai trong số họ nhìn thấy nó, theo như họ nói với tôi.
  9. Hồ Chí Minh là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ ngày 2 tháng 9 năm 1945, cho đến tháng 3 năm 1947, khi Hoàng Minh Giám lên kế vị, ngoại trừ một số tuần từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1946, khi Nguyễn Tường Tam, một nhà văn và một thành viên của Đại Việt Quốc Dân Đảng (Quốc dân Đảng Đại Việt) làm Bí thư Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
  10. Tôi chưa xác minh được Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu có phải là người họ Trần hay không.
  11. Các dịch giả tiếng Nga (họ tự gọi mình là “chúng tôi”) không áp dụng phương pháp này, họ nói rằng họ không muốn che khuất bức tranh, do đó xóa bỏ tuyên bố của Trần Dân Tiên về việc thiếu khả năng (Trần Dân Tiên 1958b, 48).
  12. “Thị trưởng” và chỉ đặt tên người đó là “Cook” (Trần Dân Tiên 1958b, 31). Ấn bản tiếng Anh xác định chính xác người đó là “Thị trưởng Cork” (Trần Dân Tiên 1958a, 12), cũng như các ấn bản Indonesia (Trần Dân Tiên 1959, 18) và Pháp (Trần Dân Tiên 1972, 30).
  13. Ấn bản tiếng Esperanto gần hơn bất kỳ ấn bản nào khác khi cung cấp đầy đủ, nếu sai chính tả, nhận dạng của ông là “Max Swiney, Thị trưởng của Cork” (Trần Dân Tiên 1960, 29), tiết lộ rằng người dịch đã xem xét vấn đề này hoặc có một phiên bản chứa thông tin này.
  14. Ông Paul O’Regan, trợ lý thư viện của Phòng Nghiên cứu Địa phương của Thư viện Thành phố Cork đã cung cấp cho tôi, một cách cực kỳ hiệu quả, thông tin từ O’Callaghan (2000, 31–42), một cuốn sách không thể truy cập được ở Hoa Kỳ. Xin chân thành cảm ơn anh ấy.
  15. Quinn-Judge (2002) viết rằng Hồ Chí Minh đã đến Leningrad, nhưng Hémery (1990, 60) cho rằng ông đã đến Moscow qua Berlin.
  16. Bản tiếng Việt và các ấn bản khác sử dụng “Bác” thay vì “Cha.”
  17. Ví dụ, Brocheux (2007, 207n4) viết rằng chính Hồ Chí Minh đã đưa ra một số năm sinh khác nhau: 1890, 1893, 1900 và 1903.
  18. Trao đổi cá nhân với tác giả, ngày 7 tháng 7 năm 2014.
  19. Nó xuất hiện trở lại vào năm 1948 như một Lễ hội Ngày Văn hóa trung lập.
  20. Có các lễ kỷ niệm vào các năm 1926, 1927 và 1928 (xem Pravda 1926, 1927, 1928, 1935).
  21. Tôi biết ơn Igor Selivanov, một nhà sử học từ Đại học Bang Kursk, Nga, đã chia sẻ tài liệu này với tôi.
  22. Ví dụ, các bức điện từ Albania, Hungary và Cộng hòa Dân chủ Đức (xem Nhân dân 1955).
  23. Cũng là trao đổi cá nhân với tác giả, ngày 9 tháng 7 năm 2014.

Vừa đi đường vừa kể chuyện được đăng nhiều kỳ trên báo Nhân dân (số 2606–10, 2685, 2686, 2688, và 2691–94) và được nhiều nhà xuất bản khác nhau tái bản như Nxb Sự thật năm 1963, và sau đó là của các nhà xuất bản khác, bao gồm cả Nhà xuất bản Thanh niên. Bản gốc hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội. Năm 2009, bảo tàng hợp tác với Nhà xuất bản Thế giới đã sản xuất bản dịch tiếng Anh với tựa đề: Stories Told on the Trail: A Number of Anecdotes about Uncle Hồ from before 1945.

  • Hồ Chí Minh có một người em trai chết từ khi còn nhỏ.

DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO

ARCHERS, JULES. 1971. Hồ Chí Minh: Legend of Hanoi. New York: Crowell-Collier Press.

BLANC, MARIE-EVE. 2005. “Vietnamese in France.” In Encyclopedia of Diasporas: Immigrant and Refugee Cultures Around the World, eds. Carol R. Ember, Melvin Ember, and Ian A. Skoggard, 1158–68. New York: Springer.

BROCHEUX, PIERRE. 2000. Ho Chi Minh. Paris: Presses de Sciences Po.

——. 2003. Hô Chi Minh: Du révolutionnaire à l’icône [Ho Chi Minh: From revolutionary to icon]. Paris: Éditions payots.

——. 2007. Ho Chi Minh: A Biography. Translated by Claire Duiker. Cambridge: Cambridge University Press.

BROOKS, JEFFREY. 2000. Thank You, Comrade Stalin! Soviet Public Culture from Revolution to Cold War. Princeton, N.J.: Princeton University Press.

——. 2003. “Stalin’s Politics of Obligation.” Totalitarian Movements and Political Religions 4(1):47–68.

BÙI TÍN. 1995. Following Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel.

Translated by Judy Stowe and Do Van. Honolulu: University of Hawaii Press.

BURCHETT, WILFRED. 1972. Ho Chi Minh, an Appreciation. New York: Wilfred Burchett Fund in association with the Guardian.

CHÍNH LUẬN [POLITICAL DISCUSSION]. 1965. “Ngày 19-5-65, miền Bắc cộng sản đã dàn cảnh sinh nhật họ Hồ để che dấu sự xâu xé nội bộ” [May 19, 1965, communist north stages Hồ Chí Minh’s birthday to conceal internal rupture]. May 20 or 21

(dates on the microfilm are cut off), 1, 3.

COSTELLO, FRANCIS J. 1995. Enduring the Most: The Life and Death of Terence MacSwiney. Dingle, Kerry, Ireland: Brandon.

CỨU QUỐC [SALVATION OF THE COUNTRY]. 1946a. “Điện văn mừng Hồ Chủ-tịch của vệ quốc đoàn Hà-nội” [Telegram congratulating President Ho from the National Army]. 244.

May 20.

——. 1946b. “Nhân ngày sinh-nhật Hồ Chủ-tịch hầu khắp đại biểu các giới và toàn thể

Thiếu-niên, nhi-đồng của Hà-nội đã đến mừng thọ Hồ Chủ-tịch” [On the occasion of President Hồ’s birthday representatives of almost all groups and of all youth and children came to wish longevity to President Hồ]. 244. May 20.

DAILY NEWS. 1948. “Vietnam Workers Arrested in Marseilles.” February 4.

DAUM, PIERRE. 2009. Immigrés de force: Les travailleurs Indochinois en France (1939–

1952) [Force of immigrants: Indochinese workers in France (1939–1952)]. Paris: Actes sud.

DE TRÉGLODÉ, BENOÎT. 2000. “Les relations diplomatiques Hanoï-Moscou-Pékin à travers les documents (1950–1954)” [The diplomatic relations of Hanoi-Moscow-Beijing through documents (1950–1954)]. Revue Historique des Armées 4:55–62.

DUIKER, WILLIAM. 2000. Ho Chi Minh. New York: Hyperion.

FENN, CHARLES. 1973. Ho Chi Minh: A Biographical Introduction. New York: Scribner.

FIGUÈRES, LEO, and CHARLES FOURNIAU, eds. 1970. Ho Chi Minh, notre camarade [Ho Chi Minh, our comrade]. Paris: Éditions sociales.

GASPARD, THU TRANG. 1992. Ho Chi Minh à Paris, 1917–1923 [Ho Chi Minh in Paris, 1917–1923]. Paris: L’Harmattan.

GENTILE, EMILIO. 2006. Politics as Religion. Translated by George Staunton. Princeton, N.J.: Princeton University Press.

GILL, GRAEME. 1980. “The Soviet Leader Cult: Reflections of the Structure of Leadership in the Soviet Union.” British Journal of Political Science 10:167–86.

GOSCHA, CHRISTOPHER. 2003. “La survie diplomatique de la République Démocratique du Vietnam: Le doute Soviétique effacé par la confiance Chinoise (1945–1950)?”

[The diplomatic survival of the Democratic Republic of Vietnam: Soviet doubt erased by Chinese trust (1945–1950)?]. Approches Asie 18:19–52.

——. 2006. “Courting Diplomatic Disaster? The Difficult Integration of Vietnam into the Internationalist Communist Movement (1945–1950).” Journal of Vietnamese Studies 1(1–2):59–103.

GREGOR, A. JAMES. 2012. Totalitarianism and Political Religion: An Intellectual History.

Stanford, Calif.: Stanford University Press.

HÀ MINH ĐỨC. 1985. Tác phẩm văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh [Literary works of Ho Chí Minh]. Hanoi: Nxb khoa học xã hội.

HÀ VĂN TẤN. 1993. Chùa Vietnam Buddhist Temples. Hanoi: Nhà xuất bản khoa học xã hội.

HALBERSTAM, DAVID. 1971. Ho. New York: Random House.

HANDACHE, GILBERT, ed. 1970. Ho Chi Minh: L’homme et son message [Ho Chi Minh: The man and his message]. Paris: Le nouveau planète.

HANNIGAN, DAVE. 2010. Terence MacSwiney: The Hunger Strike that Rocked an Empire.

Dublin: O’Brien Press.

HÉMERY, DANIEL. 1990. Ho Chi Minh: De l’Indochine au Vietnam [Ho Chi Minh: Indochina in Vietnam]. Paris: Gallimard.

——. 1992. “Jeunesse d’un colonisé, genèse d’un exil, Ho Chi Minh jusqu’en 1911”

[Youth of a colonized, genesis of an exile: Ho Chi Minh until 1911]. Approches-Asie 11:83–155.

HỒ CHÍ MINH. 1978. Về vai trò và nhiệm vụ của thanh niên [On the role and the tasks of youth]. Hanoi: Nxb sự thật.

——. 1989. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh [Testaments of President Hồ Chí Minh].

Hanoi: Ban Chấp hành Trung ương, Đảng cộng sản Việt Nam.

[HỒ CHÍ MINH: NO. 1 TRAITOR OF HIS COUNTRY] 1965.

Saigon: Nha tác động tâm lý, Bộ Thông tin tâm lý chiến ban hành.

HO TAI, HUE-TAM. 1995. “Monumental Ambiguity.” In Essays into Vietnamese Pasts, eds.

Keith Weller Taylor and John K. Whitmore, 272–88. Ithaca, N.Y.: Cornell Southeast Asia Program Publications.

HOÀNG KIM ĐÁNG. 2007. “Bác Hồ bắt nhịp bài ca kết đoàn” [Uncle Hồ conducts the solid-arity song]. Nhân dân, May 15. http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/di-san/item/

3915902-.html (accessed February 15, 2016).

HOÀNG NGUYÊN. 1991. “Tôi tham gia đoàn cán bộ đối ngoại đầu tiên đi Đông Nam Á” [I participated in the first delegation of foreign service cadres to go to Southeast Asia].

Nghiên cứu Đông Nam 1:51–56.

HOBSBAWM, ERIC. 1983. “Introduction: Inventing Traditions.” In The Invention of Tradition, eds. Eric Hobsbawm and Terence Ranger, 1–15. Cambridge: Cambridge University Press.

L’HUMANITÉ. 1947. May 21.

HUY ĐỨC. 2012. Bên thắng cuộc [The winning side]. 2 vols. Los Angeles, Calif.: OsinBook.

HUỲNH KIM KHÁNH. 1982. Vietnamese Communism, 1925–1945. Ithaca, N.Y.: Cornell University Press.

JAPAN AND AMERICA. 1902. “Tencho-Setsu: The Emperor’s Birthday.” 2(8):25–26.

KALGOORLIE MINER. 1948. “Delegate Arrested in Paris.” February 3.

KEENE, DONALD. 2002. Emperor of Japan: Meiji and His World, 1852–1912. New York: Columbia University Press.

KIRKUS REVIEW. 1971. “Ho.” March 1. https://www.kirkusreviews.com/book-reviews/

david-halberstam/ho/ (accessed July 28, 2014).

KOBELEV, EVGENIY V. 1979. Ho Shi Min [Ho Chi Minh]. Moscow: Molodaya gvardia.

KUN, MIKLÓS. 2003. Stalin: An Unknown Portrait. Budapest: Central European University Press.

LACOUTURE, JEAN. 1967. Hô Chi Minh. Paris: Éditions du seuil.

——. 1968. Hô Chi Minh: A Political Biography. Translated by Peter Wiles. New York: Random House.

LAN, T. 1961. Vừa đi đường vừa kể chuyện [Stories told on the trail]. Nhân dân (2602–10, 2685–86, 2688, 2691–94).

LEESE, DANIEL. 2007. “The Mao Cult as Communicative Space.” Totalitarian Movements and Political Religions 8(3–4):623–39.

THE LIFE OF STALIN: A SYMPOSIUM. 1930. New York: Workers’ Library Publishers.

LYOTARD, JEAN-FRANÇOIS. 1984. The Postmodern Condition: A Report on Knowledge.

Translated by Geoff Bennington and Brian Massumi. Minneapolis: University of Minnesota Press.

MAROUDA, MARINA. 2013. “The Unending Death of an Immortal: The State Commemoration of Hồ Chí Minh in Contemporary Việt Nam.” South East Asia Research 21(2): 303–21.

MARR, DAVID G. 1995. Vietnam 1945: The Quest for Power. Berkeley: University of California Press.

——. 2013. Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946). Berkeley: University of California Press.

MITTER, RANA. 2008. “Maoism in the Cultural Revolution: A Political Religion?” In The Sacred in the Twentieth-Century Politics: Essays in Honour of Professor Stanley G. Payne, eds. Roger Griffin, Robert Mallett, and John Tortorice, 143–65. Basing-stoke, England: Palgrave Macmillan.

MOHAN, S. DAS. 1951. Ho Chi Minh: Nationalist or Soviet Agent? Bombay: Democratic Research Service.

MONEFIORE, SIMON SEBAG. 2004. Stalin: The Court of the Red Tsar. New York: Vintage.

NEW YORK TIMES. 1964. “Planes Scatter Nehru Ashes.” June 13.

NGÔ SĨ LIÊN. 1993. Đại Việt sử ký toàn thư [Complete historical annals of Great Việt].

Hanoi: Nxb Khoa học xã hội.

NGUYỄN KHÔI. 2013. “Trần Dân Tiên thực là ai?” [Who is the real Trần Dân Tiên?]. September 26. http://nguyentrongtao.info/2013/09/26/tran-dan-tien-thuc-la-ai/ (accessed February 20, 2016).

NGUYEN, LIEN-HANG. 2012. Hanoi’s War: An International History of War for Peace in Vietnam. Chapel Hill: University of North Carolina Press.

NGUYỄN THẾ ANH. 1983. “Du rêve mandarinal au chemin de la révolution: Hồ Chi Minh et l’École Coloniale” [From mandarinal dream to the path of revolution: Ho Chi Minh and the Colonial School]. Ðường Mới 1:8–25.

——. 1990. “L’intinéraire politique de Hô Chi Minh” [The political path of Ho Chi Minh]. In Ho Chi Minh: L’homme et son heritage [Ho Chi Minh: The man and his heritage], ed. Marcel Bénichou, 12–38. Paris: Ðường mới.

NGUYEN VAN CUONG. 2013. “Mavzolei Ho Shi Mina – Tvorenie Vietnamo-Rossiyskoi druzhby” [Ho Chi Minh’s mausoleum – Creation of the Vietnamese-Russian friendship]. In Rossiysko-Vietnamskie otnoshenia: Sovremennost’ i istoria

[Russian-Vietnamese relations: Modernity and history], eds. E. V. Kobelev and V. M.

Mazyrin, 396–406. Moscow: Institute of Far Eastern Studies.

NHÂN DÂN [PEOPLE]. 1955. “Điện mừng sinh nhật Hồ Chủ-tịch” [Congratulatory telegrams on the occasion of President Ho’s birthday]. 448. May 25.

O’CALLAGHAN, ANTÓIN. 2000. The Lord Mayors of Cork: 1900 to 2000. Cork, Ireland: Inversnaid Publications.

PELLEY, PATRICIA M. 2000. Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past.

Durham, N.C.: Duke University Press.

PRAVDA [TRUTH]. 1923. April 22.

——. 1926. April 22.

——. 1927. April 22.

——. 1928. April 22.

——. 1929. December 21.

——. 1935. April 22.

——. 1939a. December 21.

——. 1939b. December 22.

——. 1940. April 22.

——. 1941. December 18.

——. 1942. April 22.

——. 1944. April 22.

——. 1945. April 22.

——. 1946. April 22.

——. 1947. April 22.

QUINN-JUDGE, SOPHIE. 1993. “Hô Chi Minh: New Perspectives from the Comintern Files.” Việt Nam Forum 14:61–81.

——. 2002. Ho Chi Minh: The Missing Years, 1919–1941. Berkeley: University of California Press.

RADZINSKY, EDVARD. 1997. Stalin. Moscow: Vagrius.

RAGEAU, CHRISTIANE PASQUEL. 1970. Ho Chi Minh. Paris: Éditions universitaires.

RAMESH, RANDEEP. 2008. “60 Years On, Gandhi’s Ashes Laid to Rest.” Guardian, January 31. http://www.theguardian.com/world/2008/jan/31/india.international (accessed June 29, 2015).

RENAUD, JEAN. 1949. Ho-Chi-Minh, Abd-El-Krim et cie [Ho Chi Minh, Abd El Krim and company]. Paris: G. Boussac.

RETTIG, TOBIAS. 2012. “From Subaltern to Free Worker: Exit, Voice, and Loyalty among Indochina’s Subaltern Imperial Labor Camp Diaspora in Metropolitan France, 1939–1944.” Journal of Vietnamese Studies 7(3):7–54.

ROUS, JEAN. 1947. Le conflit Franco-Vietnamien [The Franco-Vietnamese conflict]. Paris: Les documents populaires.

RUSSIAN STATE ARCHIVE OF SOCIAL AND POLITICAL HISTORY. 1950. “Pismo V. G. Grigoriana na imia I. V. Stalina po povodu 60-letia Ho Shi Mina” [Letter from V. G. Grigorian to I. V. Stalin regarding Hồ Chí Minh’s sixtieth birthday]. May 1. Ossobaya Papka

[Special dossier]. File 17, op. 163, d. 1549.

SAINTENY, JEAN. 1970. Face à Ho Chi Minh [Faced with Ho Chi Minh]. Paris: Édition seghers.

——. 1972. Ho Chi Minh and His Vietnam: A Personal Memoir. Translated by Herma Briffault. Chicago: Cowles Book Company.

SELIVANOV, IGOR N. 2014. Stalin, Ho Shi Min i “delo” Chan Ngok Dana: Fakty, hipotezy, arhivnye dokumenty [Stalin, Ho Chi Minh, and the “affair” of Tran Ngoc Danh: Facts, hypothesis, archival documents]. Kursk, Russia: Kursk State University.

STUHLMANN, MANFRED. 1960. Ho-chi-Minh: Ein leben für Vietnam [Ho Chi Minh: A life for Vietnam]. Berlin: Dietz verlag.

TAGLIAZUCCHI, PINO. 2004. Ho Chi Minh: Biografia politica (1890–1945) [Ho Chi Minh: Political biography (1890–1945)]. Torino, Italy: L’Harmattan Italia.

TRẦN DÂN TIÊN. 1949. Hu Zhiming zhuan 胡志明傳 [Stories about Hồ Chí Minh]. Translated by Zhang Nianshi 張念式 and Trương Niệm Thức. Shanghai: Bayue chubanshe.

——. 1955. Những mẩu chuyện veˆ` đời hoạt động của Hồ Chủ tịch [Vignettes of President Ho’s life and activities]. Hanoi: Nxb văn nghệ.

——. 1958a. Glimpses of the Life of Ho Chi Minh, President of the Democratic Republic of Vietnam. Hanoi: Foreign Languages Publishing House.

——. 1958b. Rasskazy o zhizni i deiatelnosti Prezidenta Kho Shi Mina [Stories about the life and activities of President Hồ Chí Minh]. Translated by V. I. Karpov. Moscow: Izdatelstvo inostrannoy literatury.

——. 1959. Nukilan dari kehidupan Ho Chi Minh, presiden Republik Demokrasi Vietnam [Vignettes from the life of Ho Chi Minh, president of the Democratic Republic of Vietnam]. Jakarta: Pembaruan Publishing House.

——. 1960. Anekdotoj pri la vivo de Prezidanto Ho Chi Minh [Stories of President Hồ

Chí Minh’s life]. Translated by Nguyen Minh Kinh. Hanoi: Fremdlingva Eldonejo Publications.

——. 1972. Avec l’Oncle Ho [With Uncle Ho]. Hanoi: Éditions en langues étrangères.

TRẦN ĐƯƠNG. 2014. “Taˆ´m ảnh Bác Hồ bắt nhịp bài ca Keˆ´t đoàn” [Uncle Hồ’s picture of conducting the Solidarity Song]. Nhà xuaˆ`t ban chinh tri quoc gia, http://www.

nxbctqg.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=4504:tm-nh-bac-

h-bt-nhp-bai-ca-kt-oan&catid=120:hc-tp-va-lam-theo-tm-gng-o-c-h-chi-minh&Itemid=

603 (accessed February 15, 2016).

TRẦN NGỌC DANH. 1949. Tiểu sử Hồ Chủ tịch [Biography of President Hồ]. Paris: Chi-hội Liên-Việt tại pháp. Archives Nationales d’Outre-Mer, Aix-en-Provence, fonds du Haut Commissariat de l’Indochine: SPCE, carton 370.

VƯƠNG LỘC and VƯƠNG KÍNH. 1965. Veˆ` quê Bác [Going to Uncle’s native place]. Hanoi: Nxb Kim Đoˆ`ng.

——. 1970. Veˆ` quê Bác [Going to Uncle’s native place]. 2nd ed. Hanoi: Nxb Kim Đoˆ`ng.

WORTHING, PETER. 2001. Occupation and Revolution: China and the Vietnamese August Revolution of 1945. Berkeley, Calif.: Institute of East Asian Studies.