Tóm tắt: Trong nhiều năm qua, phương pháp luận được quan tâm nhiều trong các ngành khoa học xã hội nói chung và Nhân học nói riêng. Tuy nhiên, phần nhiều các tác giả đều đặt mối quan tâm vào những công đoạn, những thao tác cụ thể với các điều kiện trên thực địa. Các giờ giảng dạy hay trao đổi về về phương pháp nghiên cứu cũng tập trung vào các phương pháp cụ thể mang tính cầm tay chỉ việc. Trong khi đó, những thảo luận về phương pháp luận trên phương diện triết học rất ít khi được trình bày. Dựa trên quá trình nghiên cứu thực địa về người Dao ở Sa Pa, Lào Cai, bài viết này muốn hướng đến thảo luận về “sự định vị” và “tính phản thân” hai thuật ngữ quan trọng trong nghiên cứu định tính. Đây có thể coi là một thảo luận về phương pháp luận được rút ra trong quá trình nghiên cứu thực địa nhằm trả lời những câu hỏi như nhà nghiên cứu là ai và ở vị trí nào trên thực địa?; Quá trình thực địa nhà nghiên cứu tương tác với đối tượng nghiên cứu như thế nào? Vấn đề đạo đức nghề nghiệp trong quá trình thực địa được thể hiện thế nào?… Nói cách khác, đó là một cách tiếp cận quá trình trải nghiệm của nhà nghiên cứu trên thực địa nhằm tìm hiểu thế giới quan, nhân sinh quan của nhà nghiên cứu.

Từ khóa: Sự định vị; Tính phản thân; Phương pháp nhân học; Nghiên cứu định tính; Phương pháp luận; Người Dao.

Trong vài thập niên gần đây, thuật ngữ “Trải nghiệm” được nhiều nhà khoa học xã hội quan tâm, đặc biệt là các nhà nhân học và hình thành cả một lĩnh vực về nhân học trải nghiệm. Khái niệm trải nghiệm được hiểu như là một quá trình tiếp xúc, tương tác với các yếu tố trong một môi trường nhất định và có ảnh hưởng đến tri thức, kỹ năng và quan điểm cuộc sống của chủ thể nhất định. Nói đến trải nghiệm là nói đến trải nghiệm của một chủ thể nhất định, không phải là một đối tượng chung chung. Chủ thể của trải nghiệm có thể là một cá nhân hoặc một cộng đồng. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu về trải nghiệm tập trung vào phân tích sự trải nghiệm của đối tượng nghiên cứu của họ. Đó là trải nghiệm cá nhân của một người qua những nghiên cứu về lịch sử cuộc đời, hay trải nghiệm của một cộng đồng trong một giai đoạn nào đó qua những nghiên cứu về hồi cố. Điều này phần nào cho thấy sự quan tâm đến trải nghiệm của đối tượng mà nhà nghiên cứu tiếp cận. Sự trải nghiệm được nghiên cứu, phân tích để hướng đến lý giải các quá trình vận động của đối tượng chủ thể. Còn trải nghiệm của chính các nhà nghiên cứu thì sao? Đó vẫn còn là một khoảng trống trong quá trình nghiên cứu về lịch sử khoa học ở Việt Nam. Tại sao phải tìm hiểu sự trải nghiệm của các nhà nghiên cứu? Bởi đó là một con đường để tiếp cận thế giới quan, nhân sinh quan của nhà khoa học, là một con đường để hiểu sâu hơn về các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học. Quá trình trải nghiệm của các nhà nghiên cứu chính là quá trình tương tác giữa nhà nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu, nó ảnh hưởng nhiều đến thế giới quan, nhân sinh quan, quan điểm khoa học và cả đạo đức khoa học của nhà nghiên cứu.

Hơn 10 năm trước, từ đầu năm 2008, tôi bắt đầu tiếp cận với nhóm người Dao ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai để tìm hiểu về quá trình chuyển đổi từ kinh tế truyền thống tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị trường. Sau đó, có nhiều điều kiện thuận lợi nên tôi tiếp tục tìm hiểu về cộng đồng này. Qua các giai đoạn, các mối quan tâm cũng thay đổi theo chiều hướng đi sâu vào mô tác và phân tích quá trình chuyển đổi kinh tế của cộng đồng này. Giai đoạn từ 2012-2015, tập trung vào các hoạt động kinh tế hàng hóa, quá trình tiếp cận thị trường và các hệ quả về văn hóa của người Dao. Tuy nhiên, tôi vẫn luôn băn khoăn về việc tại sao cùng một môi trường nhưng các cộng đồng tộc người ở Sa Pa lại đi vào thị trường theo những con đường khác nhau và mang những đặc trưng khác nhau. Để tìm cho riêng mình một lời giải về vấn đề này, tôi khảo sát hoạt động thị trường của người Dao xoay quanh khái niệm Vốn văn hóa (Cultural Capital). Dù đã có nhiều chuyến đến khảo sát thực địa tại đây trong hơn 10 năm qua, nhưng chưa có dịp để trình bày có hệ thống những phương pháp, thao tác kỹ thuật đã vận dụng trong quá trình nghiên cứu, đặc biệt là các phương pháp định tính-phương pháp chủ đạo mà tôi lựa chọn trong quá trình sản xuất tri thức của mình. Nói chính xác hơn thì những vấn đề này chỉ mới đưa ra chia sẻ với người cố vấn khoa học hay một vài nhà nghiên cứu khác mà ít khi được trình bày trên văn bản để trao đổi dù ở cấp độ vừa phải. Điều đó cũng không phải lạ lẫm gì bởi trong truyền thống học thuật Việt Nam, các vấn đề phương pháp nghiên cứu thường được coi như là công tác hậu trường và ít khi được đưa ra để phân tích trên các công trình nghiên cứu học thuật. Nó chỉ được bàn luận nhiều trong khâu chuẩn bị cho một dự án nghiên cứu.

Gần đây, các phương pháp trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam được nhiều người quan tâm. Khi thảo luận về vấn đề này, một nhà nghiên cứu nước ngoài nhận xét: “Việt Nam có khuynh hướng áp dụng mô hình thực chứng đã thống trị trong các thiết kế nghiên cứu thực nghiệm và thực tiễn, nên các phương pháp định lượng được chú trọng nhiều hơn. Điều này có nghĩa là các bảng câu hỏi, khảo sát và lập bản đồ thường được ưa thích hơn các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc, lịch sử truyền miệng, quan sát tham gia hay các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác” (Scott, Miller và Lloyd, 2005, 31). Nhận xét này có thể đúng trong một số lĩnh vực khoa học, tuy nhiên, trong nghiên cứu dân tộc học-nhân học ở Việt Nam thì chưa hẳn chính xác. Từ khá sớm, các nhà dân tộc học Việt Nam, có thể chịu ảnh hưởng từ truyền thống dân tộc học Pháp, đã hình thành phương pháp nghiên cứu điền dã dài ngày và sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu định tính (Nguyễn Duy Thiệu, 2016). Hầu hết các công trình nghiên cứu Dân tộc học, Nhân học của nhiều học giả nổi tiểng ở Việt Nam từ giữa thế kỷ XX đến cuối thế kỷ XX như Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Từ Chi, Đặng Nghiêm Vạn, Phan Hữu Dật… đều là kết quả của quá trình nghiên cứu định tính là chủ yếu. Đặc biệt là quá trình nghiên cứu thực địa và phương pháp định tính của Nguyễn Từ Chi, một người có ảnh hưởng rộng lớn về phương pháp luận đối với Dân tộc học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, và được nhiều người xem là mẫu mực trong phương pháp luận (Bùi Xuân Đính, 2016; Nguyễn Duy Thiệu, 2016; Lê Hồng Lý, 2016; Trần Hữu Sơn, 2016). Các phương pháp định lượng mới phổ biến vài thập niên gần đây trong xã hội học hay một số ngành khác. Điều đó để phần nào khẳng định rằng các phương pháp nghiên cứu định tính trong khoa học xã hội, đặc biệt trong nghiên cứu nhân học không phải là vấn đề mới. Tuy nhiên, bàn luận về các phương pháp định tính dưới góc nhìn triết học hay phương pháp luận thì lại mới được quan tâm gần đây khi xuất hiện những công trình nghiên cứu thảo luận trực tiếp về vấn đề này (Rose, 1997; Scott, Miller và Lloyd, 2005; Nairn, Munroand và Smith, 2005; Nguyen Thu Huong, 2007; Bonnin, 2010; MacKenzie, Christensen và Turner, 2013…).

Trong khi các nhà nghiên cứu Việt Nam tập trung sự quan tâm vào các thao tác, kỹ thuật hay các phương pháp cụ thể trong nghiên cứu định tính, thì các nhà nghiên cứu nước ngoài lại quan tâm nhiều đến góc độ triết học. Trong đó, người ta thảo luận nhiều về hai khái niệm PositionalityReflexivity. Positinality là một thuật ngữ trìu tượng, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Trong nghiên cứu nhân học, có thể tạm hiểu thuật ngữ này là “sự định vị” của nhà nghiên cứu, bao gồm dân tộc, giới tính, tôn giáo, xu thế tình dục, giai tầng, quan điểm sống (hay quan điểm chính trị), sự trải nghiệm… cũng như khả năng kết hợp, vận dụng các yếu tố này vào các trường hợp cụ thể. Trong khi đó, reflexivity có thể hiểu là “tính phản thân”, là quá trình tự nhận thức về bản thân nhà nghiên cứu trong sự đồng cảm, chia sẻ và tương tác với đối tượng nghiên cứu, là một quá trình hướng nội của nhà nghiên cứu trong quá trình tương tác với đối tượng nghiên cứu. Sự định vị và tính phản thân có vai trò quan trọng trong việc xác định vị thế, quá trình tiếp cận và khai thác thông tin cũng như đạo đức khoa học của người làm nghiên cứu. Nó cũng ảnh hưởng lớn đến thế giới quan, nhân sinh quan của người nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, không phải ai bước vào con đường nghiên cứu nhân học cũng được trang bị những hiểu biết về sự định vị và tính phản thân trong nghiên cứu định tính. Nhất là ở Việt Nam, khi mà sự trang bị về phương pháp luận trong quá trình học tập không thật sự chu đáo. Nó được nhận thức lại qua quá trình trải nghiệm, tương tác và suy nghiệm trong quá trình tiếp cận với đối tượng nghiên cứu dựa trên nền tảng tri thức về phương pháp luận được học hỏi và đúc rút từ bản thân.

Khi bắt đầu thực địa ở Sa Pa (2008), tôi chưa biết đến những khái niệm “sự định vị” hay tính “phản thân”. Việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu lúc đó, một phần là kỹ năng ít ỏi mới được học một ít trên giảng đường và một phần bản năng của một người sinh ra và lớn lên ở nông thôn. Sự tiếp cận khi đó là thực hành một số thao tác được gọi nôm na là “ba cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) để tìm hiểu cuộc sống của đối tượng nghiên cứu. Dân tộc và cả quốc tịch cũng là những vấn đề ảnh hưởng đến công việc của người nghiên cứu. Tiếp cận với người dân tộc thiểu số thì tôi là người Kinh-dân tộc đa số ở Việt Nam, là người “ngoại tộc” nên cũng có những khó khăn. Tuy nhiên, tôi là công dân Việt Nam thì việc tiếp cận các dân tộc thiểu số trong nước vẫn thuận lợi hơn so với các nhà nghiên cứu là người nước ngoài khi muốn tiếp cận vấn đề nay. Các nhà nghiên cứu nước ngoài khi tiếp cận các đối tượng nghiên cứu là các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Việt Nam như Scott, Miller và Lloyd (2005) hay Bonnin (2010) kể lại cuộc hành trình vất vả về các thủ tục hành chính mà họ phải trải qua để tiếp cận được địa bàn và đối tượng thực địa. Một thực tế đã qua là càng nhìn về quá khứ, quá trình tiếp cận đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nước ngoài ở Việt Nam càng nhiều khó khăn. Khó khăn vì hệ thống thủ tục hành chính chồng chéo, về các mối quan tâm liên quan đến an ninh con người, vì sự tương tác của người dân với người nước ngoài còn hạn chế… Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập, số lượng các nhà khoa học nước ngoài đến Việt Nam nghiên cứu cũng tăng lên. Cái nhìn về học thuật của người nước ngoài ở Việt Nam cũng thay đổi. Cùng với đó là những cải cách hành chính, những thay đổi về tư duy, suy nghĩ của người dân và các cán bộ địa phương. Những điều đó làm cho việc tiếp cận nghiên cứu của người nước ngoài được thuận lợi hơn. Dù vậy, họ vẫn gặp nhiều khó khăn mà những phản ánh của Scott, Miller và Lloyd hay Bonnin đến nay vẫn còn hiện hữu. Còn với tôi, dù có những điều kiện thuận lợi hơn khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu của mình nhưng mất khá nhiều thời gian đến sưu tầm tài liệu ở các cơ quan địa phương do vẫn đề thủ tục. Khi mới bắt đầu công việc tôi còn chưa có kinh nghiệm gì về thực địa, mọi thứ đều rất lạ lẫm và mới mẻ. Trải qua một hành trình gần chục năm với nhiều chuyến điền dã đã cho tôi một số trải nghiệm khá thú vị. Thêm một chút tri thức hạn hẹp về phương pháp luận càng ngày càng gợi mở ra những nhận thức khác hơn về công việc của mình, nhất là nhìn lại quá trình thực địa qua những khái niệm như “sự định vị” hay “tính phản thân”.

Thực ra, không phải gần đây người ta mới quan tâm đến “sự định vị” hay “tính phản thân” trong nghiên cứu điền dã dân tộc học-nhân học. Có chăng đó chính là đi sâu hơn vào phân tích và thảo luận về phương diện khái niệm và đưa những vấn đề này lên thành đối tượng nghiên cứu về phương pháp luận khoa học. Còn những giá trị của sự định vị và tính phản thân đã được nhiều nhà dân tộc học tiền bối thể hiện từ hàng chục năm trước. Trước hết, đó là nhà dân tộc học nổi danh thế giới Goerge Condominas với một diễn ngôn nổi tiếng. Năm 1948, Condominas đến Sar Luk, tiếp xúc với người Mnông Gar khởi đầu cho một sự nghiệp lẫy lừng của mình. Quá trình thực địa ở Tây Nguyên Việt Nam đã đưa ông đi đến một kết luận: “Tôi đã tìm ra chính bản thể của mình” (Nguyên Ngọc, 2009, 116). Đây chính là một tuyên ngôn về “tính phản thân” trong nghiên cứu thực địa dân tộc học. Quá trình nghiên cứu thực địa không chỉ là quá trình nhà nghiên cứu tìm hiểu về đối tượng nghiên cứu, mà còn là quá trình khám phá bản thân qua sự tương tác với đối tượng nghiên cứu. Sau đó nữa, cũng một học giả nổi tiếng là Nguyễn Từ Chi đã nhận mạnh đến sự định vị của nhà dân tộc học trong quá trình nghiên cứu thực địa khi đưa ra diễn ngôn mang tính nguyên tắc: “Dân tộc học là học dân”. Trên thực địa, với đối tượng nghiên cứu, nhà dân tộc học không phải là những nhà thông thái, càng không phải là những người cán bộ chính sách hay nhà quản lý. Ở đó, họ phải đặt mình vào nhiều vị trí khác nhau, để học được nhiều tri thức, hiểu được nhiều vấn đề. Đó cũng là lý do mà G.Condominas đã kết luận về cuộc đời làm dân tộc học của mình: “Với tôi, dân tộc học là một loại hình sống” (Nguyên Ngọc, 2009, 113). Quan niệm đó cũng ảnh hưởng lớn đến Nguyễn Từ Chi sau đó. Xuyên suốt cuộc đời nghiên cứu của hai nhà dân tộc học trứ danh này là khẳng định sự định vị của nhà nghiên cứu trên thực địa. Nó đúng với tuyên ngôn của G. Condominas về công tác của nhà dân tộc học trên thực địa: “Anh vừa phải quên và làm cho mọi người trong làng quên tư cách nhà dân tộc học đến quan sát của anh đi, cố gắng không để cho sự có mặt của mình làm biến dạng cuộc sống ở đây, đồng thời anh phải cứ là một nhà dân tộc học tò mò, chăm chú, thậm chí trong từng giây phút, để quan sát, ghi chép, đánh giá. Nghĩa là vừa phải nhập vào đến tận cùng, vừa lại phải tách ra đến mức tỉnh táo”. (Nguyên Ngọc, 2009, 116-117). Điều đó cho thấy, ngay từ giữa thế kỷ XX, các nhà dân tộc học đã quan tâm đến sự định vị và tính phản thân trong nghiên cứu thực địa. Nhưng các nhà dân tộc học thời đó xem đó là những nguyên tắc mà họ thực hiện trong quá trình nghiên cứu, chứ chưa xem nó là đối tượng để nghiên cứu, để trình bày trong các nghiên cứu. Nhưng nó cũng là sự nhận thức, phát triển các nguyên tắc của các nhà dân tộc học khi tiến hành thực địa ở các cộng đồng, các nền văn hóa khác biệt.

Khi tiến hành nghiên cứu về người Dao là bắt đầu đi vào một nền văn hóa khác biệt. Sự khác biệt là một vấn đề đáng được quan tâm trong nghiên cứu thực địa vì nó ảnh hưởng nhiều đến quá trình khai thác thông tin. Làm sao để từ sự khác biệt về nhiều yếu tố, có thể tìm và nhận được sự đồng cảm, chia sẻ và tương tác của đối tượng nghiên cứu? Bước vào cuộc sống của một cộng đồng với nền văn hóa khác cũng là một cuộc dấn thân mà ở đó, nhiều điều thú vị đang chờ khám phá nhưng cũng không thiếu những nguy hiểm mà nhà nghiên cứu phải đối diện. Nhiều tình huống không mong đợi lại xẩy ra bất ngờ và nhiều khi trở nên khó xử, trong những trường hợp, chỉ cần có một ứng xử không phù hợp có thể khiến cả cuộc điền dã bị thất bại hoàn toàn. Nhưng dù cẩn thận đến đâu thì những “thất bại” trong quá trình thực địa là không tránh khỏi. Ngay những lần đầu tiên, khi tôi mang sổ đến phỏng vấn các gia đình tham gia sản xuất thuốc tắm trên địa bàn thực địa, đã không thu được kết quả mong muốn. Những người phụ nữ đều nói tôi vài câu như là “người dân ở đây khổ lắm, phải đi làm cả ngày thôi, phải làm nhiều việc thôi…” rồi họ tập trung vào công việc. Khi tôi trình bày là muốn hỏi họ về quá trình sản xuất, buôn bán thuốc tắm và thổ cẩm thì họ chỉ nói rằng họ làm theo các gia đình khác và đem bán cho khách nếu khách có nhu cầu. Và họ cũng chẳng biết nói gì với tôi. Khi tôi từ chối mua hàng hóa của họ thì gần như họ không muốn nói chuyện với tôi, xem tôi như người xa lạ và thật sự lúc đó tôi là một người xa lạ đang tìm cách thâm nhập cuộc sống của những người Dao. Gần như 3 ngày đầu tiên ở thực địa, những cuộc phỏng vấn của tôi không thu được nhiều thông tin. Những câu hỏi của tôi được trả lời một cách ngắn gọn và người dân phản ứng với tôi chưa có nhiều thiện cảm vì hai bên chưa hiểu biết nhiều về nhau. Thực ra, những hành động, thái độ và cử chỉ của họ cũng là những thông tin quý giá nhưng lúc đó tôi chưa đủ kinh nghiệm để nhận ra được “ngôn ngữ cơ thể” của họ. Đó có thể nói là những cuộc phỏng vấn thất bại đầu đời và tạo cho tôi nhiều suy nghĩ. Những “thất bại” trong các cuộc phỏng vấn, như phân tích của Nairm và đồng nghiệp (2005) là một thách thức với nhà nghiên cứu: “Để đặt một cuộc phỏng vấn “không thành công” làm trọng tâm của một bài báo học thuật tiềm ẩn nguy cơ bị phản bác bởi học thuật là một lĩnh vực cạnh tranh, nơi mà “thành công”, chứ không phải “thất bại”, được khen ngợi” (Nairn, Munroand và Smith, 2005, 237). Tuy nhiên, từ những nghiên cứu của mình, các tác giả này cũng nhấn mạnh vai trò của việc phân tích các cuộc phỏng vấn “thất bại” trong quá trình sản sinh tri thức của nhà nghiên cứu. Phân tích sự “không thành công” của các cuộc phỏng vấn luôn làm cho nhà nghiên cứu nhận thức sâu hơn về đối tượng của mình và về bản thân mình cũng như cách thức mà mình tiếp cận, để từ đó thay đổi chiến thuật cho những cuộc phỏng vấn tiếp theo có hiệu quả hơn. Và khi tôi phân tích lại những “thất bại” ban đầu của mình, tôi nhận thấy sự xuất hiện quá mới lạ của mình và cách đặt vấn đề trực tiếp là không hiệu quả. Do vậy tôi chuyển sang chiến thuật làm quen, tạo mối quan hệ và bước vào câu chuyện một cách tự nhiên hơn thì kết quả thu được khả quan hơn.

Định vị bản thân trên nghiên cứu thực địa tạo tâm thế cho nhà nghiên cứu vững vàng hơn trong quá trình thu thập thông tin, dữ liệu. Nó cũng giúp nhà nghiên cứu hạn chế những nguy hiểm rình rập hay tránh được sự nhầm lẫn về mục đích. Trước khi đi điền dã, tôi được một nhà nghiên cứu có nhiều kinh nghiệm thực địa trong ngành chia sẻ rằng: “Đi nghiên cứu dân tộc học ở miền núi phải có tâm hồn lãng mạn một chút để luôn luôn có cảm hứng tìm tòi và có đủ nghị lực vượt qua những khó khăn trên rừng núi”. Tại địa bàn thực địa, tôi phải lòng một cô gái người bản địa khoảng 17 tuổi và khá xinh xắn. Một thanh niên ngoài hai mươi tuổi đi đến một cộng đồng mới lạ sẽ có nhiều điều hấp dẫn. Một trong số đó là sự thu hút từ những cô gái bản địa xinh xắn. Chẳng ai có thể cấm đoán những người thanh niên mơ mộng, nhất là khi cả hai phía đều có những sự khác biệt về văn hóa có thể chia sẻ với nhau để khám phá sự mới mẻ. Trước đó, tôi từng đọc một bài bút ký của một nhà văn nổi tiếng về mối tình rất đẹp và lãng mạn của ông với một cô gái Hmông ở cao nguyên Đồng Văn và “Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng” (tên tập bút ký) cũng tạo cho tôi nhiều cảm hứng khi bắt đầu vào chuyến thực địa. Tuy nhiên, tôi là người đang thực hiện nghiên cứu thực địa, tức là đang làm công tác học thuật, thì những suy nghĩ “tài tử” như một nhà văn, một nghệ sĩ là chưa hợp lý. Như Max Weber lập luận: “Hầu như tất cả các ngành khoa học xã hội đều mang ơn những người “tài tử” về những nhận xét thường khá hay, đôi khi quý báu. Nhưng nếu cách làm việc tài tử trở thành nguyên tắc khoa học, thì chính nó sẽ kết liễu khoa học” (Max Weber, 2010, 64). Nếu tôi chú ý đến cô gái (về tình cảm) thì có nghĩa tôi đã tự đặt mình vào vị trí đối thủ cạnh tranh (về mặt tình cảm) với những người con trai khác trong bản và nó sẽ gây nhiều bất lợi cho công việc, thậm chí còn nguy hiểm cho bản thân. Và điều đó cũng khiến cho tôi phải mất thêm thời gian xử lý những mối quan hệ nhạy cảm này để có thể làm việc lâu dài tại địa phương. Những khó khăn không chỉ xuất hiện trong giai đoạn nhà nghiên cứu mới xuất hiện ở địa bàn nghiên cứu. Mà ngay cả khi nhà nghiên cứu có một quá trình thực địa lâu dài, gây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với người dân địa phương, thì vẫn còn hiện hữu nhiều khó khăn. Sự lạ lẫm, xa lạ là một hạn chế. Nhưng nhiều khi, những khó khăn lại xuất hiện từ chính từ sự thân thuộc giữa nhà nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, từ tình cảm mà người dân địa phương dành cho nhà nghiên cứu. Đó là những gì tôi rut ra được từ sự trải nghiệm của mình trong nhiều năm thực địa ở người Dao. Trong một khoảng thời gian khá dài, tôi chỉ ở lại trong một gia đình trên địa bàn nghiên cứu. Mọi người trong gia đình cũng coi tôi như một thành viên quen thuộc, là “người nhà” của họ. Họ quý mến và cũng hay chia sẻ với tôi, ngược lại, tôi cũng chia sẻ với họ những câu chuyện gia đình tôi để thể hiện tình cảm mình dành cho họ. Nhưng rồi sự việc xẩy ra ngoài ý muốn khi người chủ nhà có một cậu con trai cũng trạc tuổi tôi. Chúng tôi hay uống rượu và nói chuyện với nhau. Nhưng khi người này bỏ việc, sa đà vào các cuộc ăn nhậu nhiều hơn mà không quan tâm đến công việc thì người chủ nhà thường hay mắng. Trong một số câu chuyện, người chủ nhà lấy tôi ra so sánh với cậu con trai vì chúng tôi trạc tuổi nhau. Khiến cho cậu ta bực mình và coi tôi như là một nguyên nhân mà cậu bị mắng. Điều đó làm cho mối hệ của chúng tôi xấu đi, cậu ta không đón nhận tôi như trước đây. Phải mất khá nhiều thời gian trò chuyện và chia sẻ với cậu ấy thì mối quan hệ của chúng tôi mới tốt đẹp hơn. Nhưng sau những sự việc đó, đã xuất hiện một khoảng cách giữa chúng tôi. Nó làm cho tôi không cảm thấy thoải mái trong quá trình thực địa của mình. Mặc dù đây là tình huống ngoài dự kiến và ngoài sự kiểm soát của tôi, nhưng nếu tôi chú ý hơn và nhạy cảm hơn thì có lẽ những sự việc như vậy đã không xẩy ra. Đó là những bài học tôi nhận thức được đầu tiên trong quá trình nghiên cứu thực địa, nó giúp tôi không ngừng suy ngẫm và định vị lại bản thân trong quá trình nghiên cứu. Sự định vị bản thân một cách hợp lý là điều kiện để tôi xử lý tình huống cũng như tránh các nguy hiểm trên thực địa, những cái mà trong trường học tôi ít khi được giảng dạy.

Giới tính cũng là vấn đề ảnh hưởng đến quá trình thu thập dữ liệu trên thực địa. Không thể khẳng định được rằng nam giới thì thuận lợi hơn nữ giới trong quá trình nghiên cứu thực địa hay ngược lại, mà điều đó còn phụ thuộc vào chủ đề, địa bàn nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu cụ thể. Nhiều người nghĩ rằng đi lên vùng dân tộc thiểu số, phải tiếp xúc với văn hóa rượu, phải đi lại nhiều thì nam giới có lợi thế. Có thể góc độ nào đó, nhận xét này cũng có lý, nhưng nó không đúng với mọi trường hợp. Giới tính, vấn đề được Naim với cộng sự (2005) và Bonin (2010) phân tích khá kỹ cả về đối tượng nghiên cứu lẫn người thông dịch. Trong đó, các tác giả không khẳng định giới tính nào thuận lợi hơn mà đi vào phân tích những khó khăn của từng giới tính trong những trường hợp cụ thể. Trường hợp của tôi, quả thực khi tiếp cận những người Dao, là nam giới nên tôi có nhiều thuận lợi khi tiếp xúc với họ dễ dàng hơn qua những cuộc rượu cũng như sự cơ động trong quá trình di chuyển. Tuy nhiên, phần lớn các hoạt động thị trường của người Dao đều là phụ nữ, trong đó có nhiều lứa tuổi khác nhau. Và điều này cũng gây ra những khó khăn nhất định cho công việc của mình. Trong một lần tôi đi phỏng vấn một người phụ nữ trẻ tham gia khá sớm vào hoạt động du lịch tại nhà (homestay) ở đây, tôi được gia đình chị mời ở lại ăn cơm và trò chuyện. Vì công việc này chủ yếu liên quan đến người phụ nữ nên sau khi uống rượu, người vợ ra hiệu cho chồng vào trong để chị trả lời các câu hỏi của tôi. Cuộc phỏng vấn cũng thu được nhiều thông tin thú vị, nhưng ngày hôm sau, người chủ nhà tôi ở lại cho biết rằng vì cuộc gặp của tôi hôm qua mà hai vợ chồng nhà chị kia cãi nhau. Có thể anh chồng cảm thấy “tổn thương” khi không được tham gia vào câu chuyện, hay cảm thấy không hài lòng khi vợ tiếp chuyện một người đàn ông mà không cần sự hiện diện của ông… Lúc đó, tôi đã phải suy nghĩ rất nhiều và có phần lo lắng, sợ nó sẽ ảnh hưởng đến công việc của tôi trong thời gian tiếp theo. Sau đó, tôi đã nghĩ ra một cách để giải tỏa “ấm ức” cho người chồng của người phụ nữ tôi đã phỏng vấn hôm trước bằng một buổi phỏng vấn về những công việc mà anh ta phụ trách trong gia đình nhằm làm cho các mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn. Câu chuyện này là một bài học kinh nghiệm quý báu để tôi tiến hành các cuộc phỏng vấn khác một cách khéo léo hơn và không lặp lại tình huống cũ.

Khả năng kiểm soát một cuộc phỏng vấn của nhà nghiên cứu là một kỹ năng quan trọng ảnh hưởng đến công tác thực địa. Nhất là trong các cuộc phỏng vấn nhóm, phỏng vấn mở hay phỏng vấn ở những nơi công cộng. Trong những cuộc phỏng vấn, sự xuất hiện đột ngột của những người không mong đợi là một tình huống khó tránh khỏi và nó ảnh hưởng lớn đến chất lượng thông tin và kết quả phỏng vấn. Một miêu tả của Bonnin (2010) về tình huống khi bà cùng trợ lý nghiên cứu đang phỏng vấn những người buôn bán trong một khu chợ thì người quản lý thị trường (đã quen trước) xuất hiện khiến những người buôn bán dừng các câu chuyện đang trao đổi hoặc chuyển hướng sang câu chuyện khác, thái độ của họ cũng thay đổi khi người này xuất hiện. Khi biết bà có quan hệ quen biết với người quản lý thị trường thì những người buôn bán không muốn chia sẻ các thông tin với bà nữa, họ nghi ngại về mối quan hệ này có thể ảnh hưởng đến công việc của họ (Bonin, 2010, 184). Những trường hợp như vậy khá phổ biến trong quá trình nghiên cứu thực địa, và kinh nghiệm của nhà nghiên cứu không giúp họ hoàn toàn tránh được vấn đề này, mà chỉ giúp giải quyết vấn đề này sao cho hiệu quả nhất. Khi tôi tiến hành phỏng vấn một nhóm gồm 6 phụ nữ tham gia câu lạc bộ Thổ cẩm Tả Phìn (nằm trên địa bàn tôi nghiên cứu thực địa). Vấn đề tôi muốn hỏi liên quan đến việc quản lý câu lạc bộ và phân chia nguồn lực, phân chia lợi nhuận nên tôi đã cố gắng không mời người phụ trách câu lạc bộ cũng là chủ tịch Hội Phụ nữ xã tham gia (trước đó đã dành riêng một buổi phỏng vấn người này). Tuy nhiên, khi mọi người đang tranh luận với nhau về việc phân chia lợi nhuận trong câu lạc bộ thì người phụ trách xuất hiện làm những người khác im lặng, họ không bàn về chuyện này nữa. Thực chất người này đến đây không phải để theoi dõi hay nắm bắt thông tin phản ánh của những người trong câu lạc bộ. Bà đến vì quan tâm đến việc những người kia có giúp đỡ tôi, hay tôi có khó khăn gì mà bà có thể giúp đỡ. Người này còn đứng ra thuyết minh cho mọi người về mong muốn của tôi và cả những gợi ý cho mọi người về việc trả lời. Điều đó khiến cho những mục tiêu đặt ra trong việc thu thập thông tin của tôi cũng bị thay đổi. Tuy nhiên, những trường hợp như vậy không phải không có giá trị gì đối với nhà nghiên cứu. Bởi như đã nói, thái độ, hành động của những người được phỏng vấn cũng là những thông tin quan trọng. Những người phụ nữ được tôi phỏng vấn có sự thay đổi khi có sự xuất hiện của chủ nhiệm câu lạc bộ thổ cẩm chứng tỏ mối quan hệ giữa họ cũng có những khoảng trống nhất định. Một vấn đề khó khăn khác trong việc kiểm soát các cuộc phỏng vấn chính là ứng xử, giải quyết mối quan hệ giữa các chủ thể của các ý kiến trái chiều với nhau. Trong một cuộc phỏng vấn nhóm 4 người về việc trồng rau sạch để bán cho các nhà hàng vào cuối năm 2011 là một trải nghiệm khác. Trong khi 3 người cho rằng việc trồng rau để bán ra thị trấn thì cũng cần phải sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật để đảm bảo sản lượng cung cấp cho khách hàng. Vấn đề là phải làm cho hợp lý, đảm bảo an toàn cho người sử dụng như việc bón phân, phun thuốc phải cách xa ngày thu hoạch. Một người đã đứng lên phản đối ý kiến này khi cho rằng làm như vậy thì không còn là rau sạch, và không đúng với hướng dẫn của những người đứng ra xây dựng chương trình. Sau đó, người này đã rời khỏi cuộc phỏng vấn khi mà ý kiến của mình trở nên trái chiều khiến tôi gặp khó khăn. Phải đến nhiều năm sau, khi thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn nhóm và trao đổi với nhiều người hơn thì khả năng xử lý các trường hợp này cũng trở nên thuần thục hơn. Tuy nhiên, những trường hợp xẩy ra ngoài ý muốn như vậy cũng tạo ra những bài học quan trọng trong việc đặt vấn đề và đặt câu hỏi của người nghiên cứu khi tổ chức thảo luận nhóm hay phỏng vấn đối tượng nghiên cứu.

Những nguyên tắc về đạo đức khoa học cũng là vấn đề quan trọng mà nhà nghiên cứu phải đối diện trong nghiên cứu thực địa và công bố các kết quả nghiên cứu. Khi tiếp cận với đối tượng nghiên cứu, nhà nghiên cứu thường muốn khai thác được nhiều thông tin nhất bằng kỹ năng của mình. Nhưng việc sử dụng các thông tin khai thác được, nếu không hợp lý sẽ gây ảnh hưởng đến cuộc sống của những người đã cung cấp thông tin. Đó cũng là cơ sở cho nguyên tắc ẩn danh trong nhân học. Tuy nhiên, nếu sự ẩn danh là nguyên tắc dễ chấp hành khi công bố kết quả nghiên cứu thì trên thực địa lại có vô vàn những tình huống khó xử liên quan đến vấn đề đạo đức. Tại các địa điểm mà tôi nghiên cứu thực địa ở huyện Sa Pa, kinh tế thị trường khá phát triển và truyền thông quảng cáo đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đó. Một hộ kinh doanh nhiều sản phẩm hay là một sản phẩm của một hộ gia đình nếu được lên báo chí, lên các trang website có nhiều người truy cập trên internet thì sẽ có nhiều khách đến mua hơn. Vậy nên, khi đến khảo sát thực địa, nhiều hộ gia đình nghĩ tôi là nhà báo và có ý muốn nhờ tôi viết một bài báo để quảng bá sản phẩm cho họ. Thậm chí có vài hộ gia đình đã mời tôi vào nhà chơi và đề nghị trả cho tôi một khoản tiền để tôi viết một bài báo quảng bá họ trên báo và internet. Điều đó khiến tôi phải giải thích rất nhiều lần cho nhiều người rằng tôi không phải là nhà báo và cũng không có mục đích đến đây tìm hiểu để viết báo hay làm quảng cáo. Tuy nhiên, vẫn có người nghĩ tôi không viết bài quảng bá cho họ vì “chê” ít tiền. Hay nhiều khi tôi cũng bị lôi cuốn vào các cuộc cạnh tranh giữa các hộ gia đình kinh doanh với nhau. Chủ nhà tôi ở  thường có nhiều khách du lịch đến nghỉ và bán được nhiều hàng hóa (do người chủ nhà rất năng động, có mạng lưới xã hội rộng lớn và biết cách giới thiệu, quảng bá hình ảnh, bên cạnh đó là sự hiểu biết về tri thức dân gian, về truyền thống người Dao cũng như cơ sở hạ tầng tốt…). Nhiều gia đình khác cho rằng sự xuất hiện của tôi đã tạo điều kiện cho chủ nhà kinh doanh, buôn bán tốt hơn thông qua các mối quan hệ mà tôi và người chủ nhà đã xây dựng. Họ nghĩ rằng nhiều khách đến ở lại nhà người chủ nhà là do tôi giới thiệu. Vậy nên khi tôi đến phỏng vấn gia đình khác thì họ hỏi dò tôi về chuyện làm ăn của chủ nhà. Nếu tôi nói với họ thì đã làm sai nguyên tắc về chia sẻ thông tin mà tôi đã phỏng vấn chủ nhà. Còn khi tôi không chia sẻ, thì người tôi muốn phỏng vấn cho rằng tôi không chân thành, không gần gũi với họ. Lúc đó, chỉ biết cố gắng giải thích lại cho họ hiểu rõ hơn về công việc và mục đích nghiên cứu của mình. Sự xuất hiện của một nhà nghiên cứu ở địa phương là người dân tộc thiểu số mang theo nhiều niềm hy vọng cho người dân. Nhiều người dân còn gọi nhà nghiên cứu là “cán bộ” và với họ cũng chẳng khác gì cán bộ trong các cơ quan nhà nước, họ tự mang theo hy vọng sẽ có được điều kiện, lợi ích gì đó qua việc tiếp xúc hay có mối quan hệ tốt với nhà nghiên cứu. Nhà nghiên cứu không thể cấm người dân hy vọng, nhưng việc họ phải làm là giải thích rõ ràng về công việc và mục đích của mình, để người dân hiểu và không đặt nhiều kỳ vọng vào mình. Một điều cấm kỵ mà các nhà nghiên cứu nhân học phải nắm rõ là không cố tình tạo ra những hy vọng cho người dân về cơ hội phát triển, về sự nâng đỡ hay về việc giải quyết các công việc khác ngoài chuyên môn, ngoài khả năng của mình. Bởi để rồi khi đáp ứng được sự kỳ vọng đó, có thể mối quan hệ giữa cộng đồng chủ thể, giữa các cá nhân trong cộng đồng đó với nhà nghiên cứu sẽ xấu đi và nhà nghiên cứu sẽ gặp nhiều khó khăn trong công việc của mình.

Tóm lại, nghiên cứu định tính trên thực địa là một quá trình trải nghiệm và tương tác văn hóa của nhà nghiên cứu. Quá trình trải nghiệm đó ảnh hưởng nhiều đến thế giới quan, nhân sinh quan, đến việc sản xuất tri thức khoa học của nhà nghiên cứu. Chất lượng những tri thức được sản sinh cũng chịu nhiều sự chi phối bởi “sự định vị” và “tính phản thân” của nhà nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu thực địa. “Sự định vị” và “tính phản thân” giúp cho nhà nghiên cứu có chiến lược thu thập thông tin tối ưu cũng như sự xử lý linh hoạt các tình huống nhạy cảm trong quá trình nghiên cứu thực địa. Tuy nhiên, vì những khái niệm “sự định vị” và “tính phản thân” mang tính trừu tượng trong khi nghiên cứu thực địa lại là một “cuộc sống” khác của nhà nghiên cứu, nó đa dạng, biến đổi liên tục và không có một nguyên tắc bất biến nào được tuyệt đối hóa. Đó là những điều tôi nhận thấy trong gần một thập kỷ tiến hành nghiên cứu thực địa tại cộng đồng người Dao ở Sa Pa. Những câu chuyện phía trên chỉ là một số rất ít những tình huống mà tôi gặp phải trong vô vàn những “thất bại” của mình. Phân tích và thảo luận thêm về những tình huống đó, là không chỉ là quá trình nhận thức lại vấn đề nghiên cứu, mà còn để khám phá thêm về bản thân-một giá trị rất quan trọng của những người làm nghiên cứu nhân học và khoa học xã hội nói chung./.

Tài liệu tham khảo

Christine Bonnin, 2010: Navigating fieldwork politics, practicalities and ethics in the upland borderlands of northern Vietnam. Asia Pacific Viewpoint, Vol. 51, No. 2, August 2010. ISSN 1360-7456, pp179–192.

Bế Viết Đẳng, Nguyễn Nam Tiến, Nông Trung, 1971: Người Dao ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Bùi Xuân Đính, 2016: Từ Chi và nghiên cứu về làng xã-những điều ông dạy học trò. In trong “Nhân học ở Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo”. Nxb Tri thức, Hà Nội. Trang 143-154.

Émile Durkheim, 2012: Các quy tắc của phương pháp xã hội học. Đinh Hồng Phúc dịch. Nxb Tri thức, Hà Nội.

Gillian Rose, 1997: Situating knowledges: positionality, reflexivities and otler tactics. Rrogrexx in Yuman Geography Z1,3 (1997) pp. 305-320.

Grant Evans (chủ biên), 2001: Bức khảm văn hoá Châu á. Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

Bùi Minh Hào, 2015: Hoạt động kinh tế hàng hóa của người Dao Đỏ trong quá trình đô thị hóa miền núi (trường hợp thôn Sả Xéng, xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai). Luận văn Thạc sĩ Dân tộc học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, Hà Nội.

Bùi Minh Hào, 2015: Từ truyền thống đến thị trường: sự chuyển đổi kinh tế của người Dao Đỏ ở xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, Số 8, tháng 8/2015. Tr. 31-40.

Bùi Minh Hào, Tô Duy Hợp, 2015: Sinh kế tộc người trong thời đại toàn cầu hóa (phân tích một mô hình sinh kế người Dao ở Tây Bắc, Việt Nam. Tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế“Việt Nam và Đông Nam Á: Hội nhập và phát triển”, Phú Yên, ngày 5 và 6, tháng 12/2015.

Nguyễn Thu Hương, 2007: Anthropology at ‘home’ through the lens of ntersubjectivity: Counter-transference while interviewing a ‘vulnerable’ Vietnamese woman. Medische Antropologie 19(1), pp 23-38.

Lê Hồng Lý, 2016: Nhà dân tộc học Từ Chi và cách ông dạy học trò. In trong “Nhân học ở Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo”. Nxb Tri thức, Hà Nội. Trang 173-182.

MacKenzie, Christensen và Turner, 2013: Advocating beyond the academy: dilemmas ò communicating relevant. Qualitative Research, 2015, Vol. 15(1), 105-121.

Max Werber, 2010: Nền đạo đức tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản. (Bùi Văn Nam Sơn, Nguyễn Nghị, Nguyễn Tùng, Trần Hữu Quang dịch). Nxb Tri thức, Hà Nội.

Nairn, Munroand và Smith, 2005: A counter-narrative of a ‘failed’ interview. Qualitative Research 2005, 5, pp 221-244.

Nhiều tác giả, 2014: Một số vấn đề về lịch sử và lý thuyết nhân học”¸ Nxb Tri thức, Hà Nội.

Nhiều tác giả, 2015: Nhân học phát triển: lịch sử, lý thuyết và công cụ thực hành”, (Nguyễn Văn Sửu tuyển chọn), Nxb Tri thức, Hà Nội.

Nguyên Ngọc, 2009: “Loại hình sống” Condominas. In trong “Nguyên Ngọc: Tác phẩm”. Tập 2. Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, trang 111-121.

Russel Bernard, 2006: Các phương pháp nghiên cứu trong nhân học. Tiếp cận định tính và định lượng, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Scott, Miller và Lloyd, 2005: Doing Fieldwork in Development Geography: Research Culture and Research Spaces in Vietnam. Geographical Research, March 2006,  44(1):28– 40.

Lý Hành Sơn, 2016: Nhân học về người Dao ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra. In trong “Nhân học ở Việt Nam: một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo”. Nxb Tri thức, Hà Nội. Tr 285-302.

Trần Hữu Sơn, 2016: Cá tính Từ Chi trong ứng xử với nghề dân tộc học. In trong “Nhân học ở Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo”. Nxb Tri thức, Hà Nội. Trang 183-194

Nguyễn Duy Thiệu, 2016: Từ Chi với trường phái dân tộc học đề cao nghiên cứu thực địa. In trong “Nhân học ở Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo. Nxb Tri thức, Hà Nội. Trang 155-172.

Bùi Minh Hào Nghiên cứu về Vốn văn hóa, về sự phát triển kinh tế thị trường ở…