Tục thờ Táo quân có từ rất sớm. Trong “Lễ ký”, bộ sách do các môn đệ Khổng tử ghi chép, ở thiên “Điển lễ hạ” đã có nói về việc thờ cúng này. Tức là ít ra, từ hơn hai ngàn năm trước, người Tàu đã có tục cúng Táo quân.

Thời xưa dùng bếp lò bằng đất nung để đun củi, lò đất này được người trong nhà kính trọng, bởi nó tượng trưng Táo thần; dân gian có tục kiêng kỵ khua gõ lên hoặc hỗn xược hơn, bước ngang lò. Về sau, khi biết đốt bằng than, dầu, gaz… bếp lò ngày thêm tiện dụng và mỹ quan hơn, nhưng tín ngưỡng Táo quân vẫn giữ vẹn nếp cũ.

Về Táo thần, tựu trung có 6 thuyết chính.

1- Theo “Hoài Nam tử” (bộ sách thể hiện tư tưởng Lão Trang, hoàn thành năm 139tr.Cn), thiên “Vi chỉ”, thì Hiên Viên (tức Huỳnh đế) sau khi mất, về trời được Ngọc đế phong làm Táo quân.

2- Theo “Chu Lễ”, bộ điển tịch về quan chế được biên soạn thời Chiến quốc (770-476trCn), thì Chúc Dung 祝融 (còn gọi Xích đế, vị thần lửa) là Táo quân.

3- Theo “Lễ ký” (thiên Lễ khí): Táo quân là một bà lão.

4- Theo Đạo giáo: Thượng giới có vị tinh quân phạm lỗi nên phải biếm xuống trần làm thần Táo, hiệu là “Đông trù Tư mệnh Táo quân”.

5- Theo Nho giáo: Xưa có kẻ lãng tử họ Trương, bời hối hận phụ bạc vợ hiền nên nhảy vào bếp lò chết cháy, đời sau thờ làm thần Táo.

6- Theo “Trang tử” (thiên Đạt sinh): Táo là một vị thần, tên là Cát 髻.

Ngoài ra, còn nhiều thuyết khác, nhưng thảy đều có đặc điểm chung này: Táo là vị thần gần gũi nhất, chuyên giám sát thiện ác, chấp chưởng họa phúc trong mỗi nóc gia. Vào cuối tháng, Táo lại về trời bẩm báo công tội các nhà cho Ngọc Hoàng phân xử. Cứ mỗi tháng đều phải cúng kiếng làm lễ tống tiễn và nghênh tiếp Táo quân, tình hình vì vậy trở thành phiền toái và… cũng hao, nên về sau người ta tinh giản, chỉ cúng tiễn Táo quân về trời vào cuối năm, ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp, và đón Táo trở lại gia cang vào mùng 3 hoặc mùng 4 Tết.

Táo của người Tàu lên chầu trời bằng thần mã sắc vàng, nên người Tàu có tục bện ngựa rơm, ngoài gói giấy vàng để đốt lên như thắp nhang để tiễn chân ông Táo (khác với người Việt cho là Táo cỡi cá chép, nên phải thả cá cho người khác vớt).

Táo quân là vị thần công chính, không hề xem trọng mâm cúng thịnh soạn, cũng chẳng khinh bạc lễ vật đơn sơ. Tuy nhiên, ngoài ngựa rơm ra, có một món không thể thiếu trên bàn thờ Táo là khoanh đường thẻ, được gói trong giấy đỏ, ý mong Táo sẽ dùng lời lẽ ngọt ngào để bẩm tấu Ngọc Hoàng về những hành vi thiện ác của mình trong năm qua. Vì vậy, câu đối thường thấy trên bài vị thờ Táo là:

上天言好事 Thượng thiên ngôn hảo sự

下界保平安 Hạ giới bảo bình an

(Lên trời tâu chuyện tốt; Xuống thế giữ bình an).

Khi tiễn Táo, lời khấn do tâm thành là chính, tùy việc làm ăn và gia cảnh mà khấn vái, chẳng có bài văn khấn nào có thể vạn ứng để làm mẫu cho mọi nhà.

Tóm lại, thờ cúng ông Táo là phong tục lấy bản thể nhân sinh làm gốc, trải qua hơn hai ngàn năm, tục này vẫn duy trì, nhưng luôn cải tiến theo đà phát triển của xã hội. Với người Tàu, cúng Táo quân là để tỏ lòng cảm tạ vị thần cùng vui buồn vinh nhục với gia đình mình, hầu mong Táo quân kịp thời ngăn trở hành vi sai trái, cũng như nâng đỡ giúp thêm thuận lợi cho mỗi thành viên trong nhà khi làm được việc tốt lành.

Táo quân về trời, chính là mang lời chúc mừng của nhân gian dâng lên thiên giới, cầu mong khắp trong thiên hạ được thịnh vượng thái bình.

Tác giả: Vinhhuy Le

#Tập_tục_ta_bà

Tags:

Đại khái tôi là Ba Tàu, sinh ra ở Biên Hòa, cạnh dòng Đồng Nai, lập nghiệp ở…