Dự luật an ninh quốc gia năm 2003 cùng những tranh cãi xoay quanh điều 23 đã làm dấy lên cuộc biểu tình lớn của người dân năm 2003, và dư âm của nó vẫn còn trong phong trào đấu tranh ngày hôm nay.

Điều 23 và Dự luật an ninh quốc gia

Trước năm 1997, chính quyền Anh đã đưa ra Dự luật Hình sự (sửa đổi) (số 2) năm 1996 trong một nỗ lực cố gắng cụ thể hóa khái niệm “ly khai” và “lật đổ” bằng việc định khung chúng trong các hành vi bạo lực, nhưng vô hiệu. Dự luật này vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ Bắc Kinh, và do đó đã để lại một khoảng trống trong luật pháp hiện hành. (1)

Chính quyền Đặc khu hành chính Hồng Kông (HKSAR) đã trì hoãn vấn đề này và trốn tránh mọi đề nghị ban hành luật. Tuy nhiên, cuộc tranh luận về Điều 23 đã bắt đầu từ giữa năm 2002 khi Tiền Kỳ Tham, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, bày tỏ mong muốn của Bắc Kinh rằng Hồng Kông sẽ nhanh chóng thông qua đạo luật. Điều đó đã thúc đẩy Trưởng Đặc khu Hồng Kông Đổng Kiến Hoa bắt đầu quá trình soạn thảo luật. Ngày 24/9/2002, HKSAR đã công bố Tài liệu Thương nghị về Đề xuất Hoàn thiện Điều 23 trong Luật cơ bản. Trước cả khi tài liệu được công bố, từ tháng 7, nhiều nhóm như Hiệp hội luật sư Hồng Kông, hội nhà báo Hồng Kông đã sớm bày tỏ sự quan ngại sâu sắc đối với Điều 23. Cuộc thương nghị kéo dài ba tháng kết thúc vào tháng mười hai sau một cuộc biểu tình vào ngày 15/12/2002 thu hút gần 65.000 người phản đối dự luật. Đáp lại sức ép dư luận, chính quyền đã sửa đổi đề xuất bằng cách đưa ra một số bước “nhượng bộ.”

Điều 23 trong luật cơ bản:

Đặc khu hành chính Hồng Kông sẽ tự ban hành luật cấm mọi hành vi phản quốc, ly khai, dụ dỗ, lật đổ chính quyền nhân dân trung ương hoặc đánh cắp bí mật nhà nước, cấm các tổ chức, cơ quan chính trị nước ngoài chỉ đạo các hoạt động chính trị trong Đặc khu, cấm các tổ chức chính trị hoặc các cơ quan của Đặc khu thiết lập quan hệ với các tổ chức hoặc cơ quan chính trị nước ngoài. (2)

Những vấn đề gây lo ngại tại Điều 23:

  • Bất kỳ chi nhánh nào của một tổ chức bị cấm bởi chính quyền trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) vì lý do an ninh chính trị đều có thể bị cấm tại Hồng Kông bất cứ lúc nào mà không cần qua các bước tiến hành điều tra độc lập. Quy định này được đặc biệt quan tâm vì Trung Quốc đại lục không có cơ chế pháp lý chung để xác định tổ chức nằm trong diện cấm hoặc các nhà bất đồng chính trị. Một hậu quả của việc này là việc truy tố các thành viên thường xuyên của một tổ chức chống PRC trở nên khó khăn hơn, vì nó đòi hỏi chính quyền trung ương phải cố gắng tìm ra tội ác mà cá nhân đó đã phạm phải.
  • Các khái niệm về chính phủ và quốc gia bị lẫn lộn trong tài liệu thương nghị. Trong một quốc gia dân chủ, công dân được trao quyền giám sát và kiểm tra chính phủ. Việc ban hành đề xuất của Điều 23 đã khiến việc chống lại chính phủ trở nên giống như chống lại đất nước.
  • Theo dự luật, cảnh sát có quyền vào các tòa nhà của dân cư, bắt giữ người dân bất kỳ lúc nào mà không cần bằng chứng hay lệnh của tòa án.
  • Bất kỳ ngôn luận nào được coi là xúi giục đều là bất hợp pháp, bao gồm cả các hình thức phát ngôn, văn bản hay qua phượng tiện điện tử. Phát đi, hoặc lắng nghe mà không trình báo những ngôn luận như vậy đều là phạm tội.
  • Người thường trú tại Hồng Kông phải tuân thủ luật này, bất kể họ cư trú nơi nào. Những người ở Hồng Kông đều trở thành đối tượng của Điều 23, bao gồm cả những khách đến thăm và quá cảnh đến Hồng Kông. Vi phạm điều 23 có thể dẫn đến án tù chung thân.

Ngày 26/2/2003, Dự luật an ninh quốc gia được giới thiệu với Hội đồng lập pháp. Dự luật sẽ quy định những điều sau:

  • Định tội phản quốc, lật đổ, ly khai, dụ dỗ.
  • Cấm tiết lộ trái phép các thông tin công vụ.
  • Trục xuất một số tổ chức cụ thể nếu việc đó là cần thiết cho lợi ích cua an ninh quốc gia và các mục đích tương tự.
  • Quyền lực của cảnh sát trong việc nhập cảnh, tìm kiếm, bắt giữ, giam giữ, loại bỏ, ngay cả khi không có lệnh điều tra về tội phản quốc, lật đổ, ly khai, dụ dỗ hay phân phát xuất bản phẩm kích động nổi loạn.
  • Sự bầu chọn trong xét xử của bồi thẩm đoàn trong các án liên quan đến nổi loạn, kích thích rối loạn bạo lực công cộng, phân phát xuất bản phẩm kích động nổi loạn, hay bất kỳ hành vi phơi bày nào trái pháp luật.
  • Xóa bỏ thời hạn truy tố tội phạm hiện hành
  • Một số thay đổi hệ quả có liên quan hoặc thay đổi ngẫu nhiên khác

Hội đồng lập pháp lâm thời – Ảnh: GovHK

Dự luật này đã đẩy cao lo ngại về bản chất độc đoàn của chính phủ Trung Quốc: luật mới đã đề cập đến các khái niệm tội phản quốc, chống lại nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong một số trường hợp. Các nhà phê bình cho rằng dự luật này sẽ chèn ép quyền tự do ngôn luận. Nghi ngờ càng mạnh mẽ hơn khi chính quyền từ chối ban hành sách trắng về dự luật, khiến các tổ chức như Tổ chức Ân xá Quốc tế tuyên bố rằng họ “hết sức lo ngại”. Chính quyền buộc phải đưa ra giấy xanh trong đó chứa dự thảo luật khi họ trình bày luật mới với Hội đồng Lập pháp, nhưng như vậy công chúng sẽ không có thời gian để nói lên những lo ngại của mình, và chính quyền có thể dùng đa số ghế không qua bầu chọn của mình tại Hội đồng Lập pháp để nhanh chóng thông qua dự luật.

Diễn biến phong trào đầu tranh của người dân Hồng Kông

15/12/2002: Khoảng 65.000 người đã biểu tình chống lại dự luật.

24/12/2002: 190.000 người ký vào đơn kiến nghị chống lại đề xuất ban hành Điều 23.

1/7/2003: ước tính có đến 350 000 đến 700 000 người (trên tổng số 6 730 800 người Hồng Kông lúc đó) tham gia biểu tình chống lại Điều 23 và các thất bại về kinh tế cũng như việc kiểm soát dịch SARS đang bùng phát lúc bấy giờ. Cuộc tuần hành bắt đầu từ Công viên Victoria, Vịnh Causeway đến Văn phòng Chính phủ Trung ương ở Trung Tâm. Đây là cuộc biểu tình lớn nhất ở Hồng Kông kể từ cuộc biểu tình ủng hộ cho phong trào dân chủ ở Thiên An Môn năm 1989. Cuộc biểu tình bắt đầu vào lúc 3h chiều. 9 đến 10h tối, tin tức về một cuộc biểu tình quy mô khổng lồ đã choán chỗ trên các bản tin báo đài. Hai trong số các đảng thân chính quyền ở Hội đồng Lập pháp đã bày tỏ thái độ e dè về dự luật, các cuộc thăm dò khảo sát không chính thức đã đi đến kết luận rằng khả năng chính phủ thông qua dự luật là tương đối đáng ngờ.

Cuộc biểu tình ngày 1/7/2003 – Ảnh: Apple Daily

5/7/2003: Đổng Kiến Hoa công bố luật an ninh sửa đổi, loại bỏ khả năng cảnh sát có thể tiến hành các cuộc truy bắt khi không có lệnh, giảm khả năng của chính phủ trong việc cấm đoán các tổ chức, thực hiện biện pháp bảo vệ “lợi ích công cộng” với việc xuất bản các bí mật nhà nước… Tuy vậy, công chúng ngờ rằng biện pháp bảo vệ “lợi ích công cộng” ấy sẽ chẳng thể hoàn toàn bảo vệ được các nhà báo, bởi tuy là “lợi ích công cộng”, nhưng nó lại chẳng được xác định bởi công chúng. Phe đối lập kêu gọi nhân dân bao vây tòa nhà Hội đồng Lập pháp trong ngày 9/7.

6/7/2003: Đổng Kiến Hoa công bố lần đọc thông qua đại cương luât sẽ hoãn lại sau khi James Tien của Đảng Tự do tuyên bố rút khỏi Hội đồng Hành chính và sẽ cho các đảng viên của mình bỏ phiếu hoãn. Do vậy, chính phủ không có đủ số phiều để luật được thông qua.

7/7/2003: Donald Tsang tuyên bố rằng không có thời điểm cụ thể cho việc giới thiệu dự luật. Ngoài ra, DAB (Liên minh dân chủ cải tiến Hồng Kông) tuyên bố rằng họ đang xem xét lại việc tham gia chính phủ.

9/7/2003: Trong khi dự luật đã bị hoãn vô thời hạn, 50.000 người đã bao vây Hội đồng Lập pháp vào đêm 9 tháng 7. Đáp lại, Philip Wong Yu-hong, một nhà lập pháp thân chính phủ đã giơ ngón giữa về phía công chúng.

16/7/2003: Regina Ip từ chức Bộ trưởng An ninh với “lý do cá nhân”, các nhà bình luận chính trị cho rằng ông từ chức vì các cuộc biểu tình về dự thảo Điều 23. Cùng ngày, Bộ trưởng Tài chính Antony Leung cũng từ chức.

Trong tuần, Bắc Kinh hầu như im lặng. Đáng chú ý, tin tức về cuộc biểu tình vào ngày 1 tháng 7 đã vắng mặt trong các phiên bản tiếng Trung của các phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc như báo Nhân dân hàng ngày hay Tân Hoa Xã, tuy nhiên đã có các báo cáo về hậu quả chính trị của cuộc biểu tình. Mặc dù vào ngày 5 tháng 7 năm 2003, có lời bóng gió rằng họ muốn thấy dự luật được nhanh chóng thông qua, nhưng họ đã không đưa ra bất kỳ tuyên bố chính thức nào.

19/7/2003: Truyền thông Trung Quốc dẫn lời Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào: “Chính phủ trung ương rất quan tâm đến tình hình ở Hồng Kông … Chỉ khi duy trì sự ổn định xã hội của Hồng Kông, mới có thể bảo vệ được môi trường thương mại tốt và có thể duy trì những lợi thế của Hồng Kông như một trung tâm tài chính, thương mại và vận tải quốc tế. “

20/7/ 2003: Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào đã gặp Đổng Kiến Hoa ở Bắc Kinh sau một trọng lễ. Thông thường việc thực hành nghi lễ như vậy chỉ được dành riêng cho các vị nguyên thủ quốc gia. Đây được coi là một cử chỉ giữ thể diện cho Đổng Kiến Hoa. Hồ Cẩm Đào nhấn mạnh rằng Hồng Kông cần phải thông qua luật Điều 23.

23/7/2003: Thủ tướng Anh Tony Blair phát biểu tại một bữa tiệc trưa của Phòng Thương mại Anh tại Hồng Kông, ông nói rằng Tuyên bố chung Trung-Anh đã mang đến bản chất hòa bình của các cuộc biểu tình chống lại Điều 23. Ông nhấn mạnh các cuộc biểu tình và phản ứng hòa bình là bằng chứng cho sự ổn định của Trung Quốc nói chung dưới chính sách “một quốc gia, hai chế độ.”

Một số nhà phân tích chính trị, đặc biệt là trên các tờ báo của Đài Loan, đã suy đoán rằng cách tiếp cận ôn hòa mà Chính phủ Trung ương đã thể hiện với Hồng Kông mang dấu ấn tư duy giàu tính cải cách hơn của thế hệ lãnh đạo thứ tư, tức lãnh đạo tối cao Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo. Cũng có ý kiến ​​cho rằng phản ứng của Bắc Kinh đối với các cuộc biểu tình bị ảnh hưởng bởi mong muốn của họ đối với cuộc bầu cử Tổng thống tại Đài Loan vào tháng 3 năm 2004, và nói chung họ muốn dư luận Đài Loan dễ chịu hơn trước sự thống nhất của Trung Quốc.

5/9/2003 – Trưởng Đặc khu Hồng Kông tuyên bố rằng điều 23 sẽ được rút lại, và không có thời gian cụ thể cho việc giới thiệu lại.

Minh Hùng lược dịch

National Security (Legislative Provisions) Bill 2003 – Wikipedia

Tham khảo

(1) Wong, Yiu-chung (2008). One Country, Two Systems in Crisis: Hong Kong’s Transformation since the Handover. Lexington Books. pp. 69–70.

(2) “Basic Law – Chapter 2“. Hong Kong government.