Cuộc trở về

Hồng Kông nằm dưới quyền cai trị của các triều đại Trung Hoa trong nhiều thế kỷ trước khi nhà Thanh nhượng lại cho Vương quốc Anh vào năm 1842. Năm đó, triều Thanh đã ký Hiệp ước Nam Kinh, vĩnh viễn nhượng lại đảo Hồng Kông cho Vương quốc Anh. Sau chiến tranh Nha phiến, năm 1960, Công ước Bắc Kinh được ký kết, và nhà Thanh lại lùi thêm một bước nữa, nhượng lại Bán đảo Cửu Long và Đảo Stonecutter. Công ước mở rộng lãnh thổ Hồng Kông được ký vào năm 1898 đã xác nhận Tân Giới và các đảo xa quanh đó được Vương quốc Anh thuê lại trong 99 năm, thời điểm trao trả được xác định là năm 1997. Cả ba vùng Hồng Kông, Cửu Long và Tân Giới đều phát triển nhanh chóng và tương đối hòa nhập lẫn nhau, bất chấp tính hữu hạn của hợp đồng thuê Tân Giới. Vùng Hồng Kông đã phải trải qua những sóng gió của cuộc chiến tranh thế giới thứ Hai khi bị Nhật chiếm đóng, liền sau đó là cuộc nội chiến hao người tốn của dẫn đến sự hình thành của nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Năm 1972, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được Liên Hiệp Quốc công nhận là nhà nước Trung Quốc hợp pháp duy nhất. Trung Quốc đã tích cực thực hiện các hoạt động ngoại giao về vấn đề chủ quyền của Hồng Kông và cả Ma Cao. Đại hội đồng Liên Hợp Quốc sau đó đã thông qua nghị quyết loại bỏ Hồng Kông ra khỏi danh sách chính thức các thuộc địa. Cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình thể hiện lập trường cứng rắn với vấn đề chủ quyền Hồng Kông, theo đó, đến năm 1997, ông không chỉ muốn Tân Giới được đặt dưới quyền tài phán của Trung Quốc, mà còn muốn phủ nhận các hiệp ước nhượng đất vĩnh viễn mà nhà Thanh đã ký, Trung Quốc không muốn công nhận chủ quyền của Anh trên Hồng Kông và Cửu Long. Họ cho rằng các Hiệp ước nhượng đất vĩnh viễn là bất bình đẳng và mang tính tước đoạt, họ muốn toàn bộ Hồng Kông phải là lãnh thổ của Trung Quốc, và không chấp nhận bất kỳ hình thức quản lý nào của nươc Anh kể từ sau năm 1997 (1) (2).

Sau cuộc đàm phán, cuối năm 1984, Một bản Tuyên bố chung Trung – Anh đã được đưa ra, theo đó, Đặc khu Hành chính Hồng Kông sẽ được đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của Chính phủ Nhân dân Trung ương nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và sẽ được hưởng quyền tự quyết cao ngoại trừ vấn đề ngoại giao và quốc phòng. Nó được cho phép có quyền hành pháp, lập pháp, và tư pháp độc lập, bao gồm cả quyền phán quyết cuối cùng. Luật Cơ bản giải thích rằng ngoài tiếng Trung, tiếng Anh cũng sẽ được dùng trong các cơ quan chính quyền và rằng bên cạnh quốc kỳ và quốc huy của Trung Quốc, Đặc khu cũng sẽ có lá cờ và huy hiệu riêng. Nó sẽ duy trì hệ thống kinh tế và thương mại tư bản như đã được vận hành trước đây tại Hồng Kông.

Kể từ sau thời điểm ấy, vấn đề quan hệ Hồng Kông – đại lục thường xuyên xảy ra những sự cố với các diễn biến phức tạp, và mâu thuẫn giữa người dân Hồng Kông với chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vẫn âm ỉ ngấm ngầm leo thang.

Mâu thuẫn bắt đầu khi những người đại lục xuất hiện ngày một nhiều trên đất Hồng Kông. Hệ thống văn hóa của Hồng Kông có sự khác biệt rất lớn đối với đại lục sau 100 năm tiếp xúc và hòa trộn các tiêu chuẩn văn hóa Anh quốc. Họ bực bội khi thấy khách du lịch từ đại lục cư xử bất lịch sự, nhổ ước bọt nơi công cộng, ăn uống trên tàu điện ngầm, họ cho rằng người đại lục đến Hồng Kông, sử dụng và tiêu tốn tài nguyên của họ rồi để lại sau lưng một đống hỗn độn. Họ cảm thấy khó chịu với các gia đình đại lục bon chen lên thành thị Hồng Kông để hưởng điều kiện kinh tế tốt hơn, làm ảnh hưởng tới đời sống và cư hội của họ. Ở chiều hướng ngược lại, người đại lục lại cho rằng một số người Hồng Kông đa cư xử vô ơn với họ. Về mặt chính trị, sự can thiệp ngày một nhiều của chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với một số cơ quan truyền thông lớn của thành phố cũng làm những người dân Hồng Kông vốn quen với tự do báo chí trở nên bức bối. (3)

Xung đột từ quan điểm về Hồng Kông

Những mâu thuẫn không dứt trong đời sống dân sinh chỉ là hiện tượng bề mặt bắt nguồn từ xung đột trong quan điểm về Hồng Kông của nhiều phía khác nhau. Trong bài viết này, tôi xin tổng hợp lại ba góc nhìn phổ biến về Hồng Kông đang đồng thời tồn tại và mâu thuẫn lẫn nhau. Góc nhìn đầu tiên đại diện cho chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy trong giới tinh hoa thân chính quyền Trung Quốc. Góc nhìn thứ hai và thứ ba phản ứng lại sự áp đặt trong lập trường tân đế quốc ấy, đại diện cho lớp trí thức tự do tại Trung Quốc đại lục và làn sóng tư tưởng cùng hành động của người dân Hồng Kông.

Góc nhìn của Bắc Kinh

Góc nhìn đại diện cho giới tinh hoa thân chính quyền Trung Quốc được thể hiện qua quyển sách: China’s Hong Kong: cultural and political perspectives của Jiang Shigong xuất bản năm 2008.

Học giả cánh tả này cho rằng dù công thức “một quốc gia, hai chế độ” đã hoàn thành nhiệm vụ đưa Hồng Kông trở lại với Trung Quốc vào năm 1997, nhưng chưa thể giải quyết được một trong những vấn đề quan trọng nhất: bản sắc người Hồng Kông là gì. Trong cuốn sách, Jiang đã cho rằng giải quyết vấn đề này cần đến biện pháp chính trị hơn là pháp lý, và Bắc Kinh cần nghĩ xa hơn mô hình “một quốc gia, hai chế độ” để cố gắng biến dân Hồng Kông trở thành những người yêu nước Trung Quốc. Nói tóm lại, ông cho rằng chủ quyền Trung Quốc tại Hồng Kông chỉ là hình thức chứ chưa đi sâu vào thực chất.

Tác giả cuốn sách tin rằng hầu hết người dân Hồng Kông đã ngả theo đại lục xã hội chủ nghĩa từ thập niên 1950. Ngay cả những người Hồng Kông đang hợp tác với người Anh thực ra cũng đều là những người yêu nước, vì họ có mối quan hệ gắn bó gia đình với Trung Quốc đại lục từ thế hệ trước. Việc quan trọng nhất là phải giúp người Hồng Kông – Trung Quốc khơi dậy lại tinh thần yêu nước tiềm tàng trong họ. Jiang cho rằng người Anh đã rất khôn khéo khi tẩy não đoạt tâm người Hồng Kông trong thời kỳ thuộc địa, và Bắc Kinh nên học hỏi nhũng kinh nghiệm cai trị đó. Lập luận của Jiang đã khẳng định rằng người Hồng Kông là những người yêu nước tiềm tàng, đang đợi những người yêu nước tiên phong từ Bắc Kinh tới để thức tỉnh. Luận điểm này hướng đến việc Bắc Kinh cần thực thi công tác tư tưởng để xóa nhòa giới hạn, vượt qua bản sắc địa phương Hồng Kông. Quan điểm này chính là nền tảng cho nhiều chính sách nội địa hóa Hồng Kông của chính quyền Trung Quốc, mà tiêu biểu là chường trình Giáo dục Quốc gia bắt buộc phải có ở tất cả các trường.

Jiang đã chỉ ra sự tương đồng của mô hình “một quốc gia, hai chế độ” ở Hồng Kông với Hiệp nghị Mười bảy điều Bắc Kinh ký với Dalai Lama năm 1951 về vấn đề Tây Tạng. Nó không chỉ xếp đăt trước sự tái hợp của Hồng Kông vào Trung Quốc, mà còn báo trước sự hồi sinh của Trung Quốc như một đế chế. Jiang cho rằng đế chế Trung Quốc đã đạt đến đỉnh cao vào triều Thanh, dựa trên sự lan tỏa mạnh mẽ của văn minh Nho giáo và sự gia nhập liên tục của những vùng ngoại biên vào lãnh thổ trung tâm. Hoàng đế nhà Thanh có chính sách để lớp tinh hoa địa phương được tự chủ, nhưng chỉ là trong thời hạn nhất định. Dần dần, địa phương sẽ được tích hợp chặt chẽ vào đế chế trung tâm, bị đồng hóa văn hóa và mất quyền tự trị. Quá trình sáp nhập tiếp tục lăn bánh sang vùng ngoại vi khác. Và hiện nay, quá trình lịch sử ấy lại đang nhắm vào Hồng Kông và sau đó là Đài Loan, như một minh họa cho tâm lý bành trướng Trung Quốc thế kỷ XXI. Jiang công khai rằng “một quốc gia, hai chế độ” chỉ là một sự dàn xếp chiến thuật, và nếu trúng đích, Hồng Kông sẽ đi theo con đường của Tây Tạng năm 1959: bị cưỡng ép đồng hóa dưới quyền kiểm soát chặt chẽ của Bắc Kinh.

Góc nhìn của các nhà dân chủ ôn hòa

 Các học giả tự do hoặc những nhà dân chủ ôn hòa trong nước mâu thuẫn với các học giả thân chính phủ Trung Quốc. Trong cuốn sách China’s Heavenly Doctrine and Hong Kong xuất bản năm 2012, học giả Chan Koon-chung đã mạnh mẽ phản bác những quan điểm của Jiang, thực ra cũng là quan điểm chung của giới chức Trung Quốc có trong nhiều năm. Họ muốn chất vấn những quan điểm của giới chức. Chan Koon-chung bác bỏ việc Hồng Kông chào đón nống nhiệt Trung Hoa đại lục xã hội chủ nghĩa vào thập niên 50 và 60, ông coi đó là bóp méo và bịa đặt. Theo ông, phần lớn dân Hồng Kông là những người trốn khỏi chế độ cầm quyền ở đại lục, đào thoát khỏi nạn đói trong Đại nhảy vọt và những đàn áp trong Cách mạng văn hóa.

Một điểm quan trọng trong bản sắc Hồng Kông đã được học giả này chỉ ra: Hồng Kông là địa phương có vai trò tích cực vào tiền trình phát triển văn hóa, chính trị Trung Quốc, và từ thế kỷ XIX đã là một lá cờ đầu thúc đẩy cải cách trong nước. Chính quyền Anh quốc hoạt động hợp lý và hiệu quả ở Hồng Kông chính là hình mẫu cho Khang Hữu Vi thực hiện phong trào cải cách quân chủ lập hiến cuối thế kỷ XIX. Sau khi phong trào thất bại năm 1898, Hồng Kông lại trở thành nơi nương náu, học tập của các nhà cách mạng, trong đó có cả Tôn Dật Tiên.

Khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nắm quyền ở Đại lục, Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể đã thấy rằng họ có nhiều lợi ích hơn khi tách biệt Hồng Kông với Đại lục. Việc tích cực cung ứng thực phẩm và nước cho vùng thuộc địa này có thể dần biến nó thành một cửa ngõ ngoại giao với Anh và thế giới phương Tây, phá thế bao vây của Mỹ trong Chiến tranh lạnh. Hồng Kông trở thành một trung tâm thu hút ngoại tệ và thông tin về thế giới cho Trung Quốc. Tầm quan trọng của Hồng Kông đối với nhà nước Cộng sản Trung Quốc, cùng ác cảm sẵn có với Đảng cộng sản trong lòng người Hồng Kông là những hiện thực mà giới chức hay học giả thân chính quyền thường phủ nhận hoặc lờ đi.

Theo các học giả tự do và những nhà dân chủ ôn hòa, việc nố lực sáp nhập Hồng Kông trở lại là một thách thức cho tiến trình cải cách hướng đến một nền chính trị tự do, và việc bảo vệ quyền tự trị của Hồng Kông là cuộc chiến giữa phe tự do với phe bảo thủ.

Tuy vậy, ông cũng nhìn nhận thực tế rằng kể từ sau năm 1997, Hồng Kông đang mất dần lợi thế cạnh tranh với các thành phố khác của Trung Quốc. Ông cho rằng Hồng Kông nên tăng cường hội nhập kinh tế với phần còn lại của Trung Quốc, và thành phố này cũng nên được đưa vào kế hoạch năm năm của chính quyền trung ương để tránh thiệt thòi về kinh tế. Ông giữ một thái độ khuyến khích nửa vời với các nỗ lực đấu tranh chống Bắc Kinh của người Hồng Kông, đưa ra lời cảnh báo rằng không nên coi thường quyết tâm sắt đá của Bắc Kinh trong việc xác lập hoàn toàn chủ quyền tại Hồng Kông, và người Hồng Kông không nên đi quá giới hạn đã được Bắc Kinh quy định để tránh những hậu quả nặng nề.

Góc nhìn của người đấu tranh Hồng Kông

Nếu các học giả tự do phê phán quan điểm tân đế quốc của giới chức dựa trên cơ sở là những lợi ích đạt được cho quá trình cải cách khi duy trì quyền tự trị ở Hồng Kông, thì ở cuốn sách On Hong Kong as a city state xuất bản năm 2011, Chin Wan đại diện cho người dân Hồng Kông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền tự trị Hồng Kông đối với chính người dân Hồng Kông.

Một luận điểm quan trọng được Chin Wan nêu ra: Đại lục cần Hồng Kông hơn là Hồng Kông cần Đại lục, điều này trước nay vẫn thế. Chin Wan bác bỏ quan điểm rằng Hồng Kông nhiều thập kỷ nay vẫn phụ thuộc vào nguồn thực phẩm thiết yếu và nước từ đại lục, ông coi đó là đòn tuyên truyền của Bắc Kinh nhằm hủy hoại lòng tự tin của người Hồng Kông. Hồng Kông hoàn toàn có các phương án tiện lợi với giá rẻ để thay thế các nguồn cung ứng từ đại lục (dùng công nghệ khử mặn nước biển giống Singapore thực ra còn rẻ hơn nhiều so với mua nước từ Trung Quốc). Ở chiều ngược lại, Trung Quốc ophuj thuộc khá nhiều vào nguồn đầu tư của Hồng Kông trong suốt thời kỳ chuyển đổi thị trường và quốc tế hóa nền kinh tế. Năm 2012, đầu tư từ Hồng Kông vẫn chiếm 64% tổng số vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Trung Quốc.

Dù là thuộc địa của Anh, nhưng Hồng Kông với liên minh lợi ích của tư bản địa phương đã đạt được quyền tự trị tương đối, duy trì đến năm 2003. Nhưng kể từ thời điểm Bắc Kinh thay đổi chiến lược với Hồng Kông, chính quyền mang tính chất tự trị ở Hồng Kông đã bị can thiệp một cách quá mức. Những can thiệp thô bạo, dòng khách du lịch, dòng người di cư trở thành mối đe dọa đối với thể chế và xã hội Hồng Kông. Trong khi đó, chính quyền Hồng Kông không có thẩm quyền để sàng lọc khách du lịch hay người đến di cư như một thành phố tự trị thông thường, mà ngày càng có vẻ giống một thuộc địa của đại lục.

Từ lâu, người đấu tranh dân chủ ở Hồng Kông luôn mơ về một đất nước Trung Hoa dân chủ và tự do. Với họ, phong trào dân chủ ở Hồng Kông phụ thuộc vào phong trào trên toàn Trung Quốc. Nhưng họ ngày một nhận ra rằng, trải qua các giai đoạn cai trị của chính quyền cộng sản và ba mươi năm phát triển kinh tế tư bản, viễn cảnh hình thành được chế độ dân chủ mẫu mực trên toàn đất nước Trung Quốc là nằm ngoài tầ với. Thay vì nhìn vào một nền dân chủ lớn lao, nhiều người đấu tranh Hồng Kông giờ đây mang tư tưởng chủ nghĩa địa phương, đặt Hồng Kông lên trước hết, họ không muốn phụ thuộc vào lớp học giả tự do bên ngoài, mà muốn tự thân trực tiếp đấu tranh chống lại quan điểm tân đế quốc từ giới chức Trung Quốc nằm thúc đẩy quyền tự trị của thành phố Hồng Kông.

Trên đây là ba góc nhìn, ba hệ thống quan điểm của các lực lượng đang mâu thuẫn xung đột gay gắt quanh vấn đề Hồng Kông. Một bên là Bắc Kinh, đã không còn nhiều kiên nhẫn, ra sức đồng hóa Hồng Kông và thực thi quyền lực của mình trên vùng đất này. Đối địch gay gắt với quan điểm trên là phong trào tự trị địa phương của một lớp người dân Hồng Kông, họ muốn công khai thách thức Bắc Kinh và nóng lòng thúc đẩy nền dân chủ Hồng Kông. Xen vào giữa cuộc đối đấu trực diện này là một lực lượng các nhà dân chủ có tư duy biệt lập, hy vọng của họ không đặt vào chiến thắng trong cuộc đấu tranh của người dân Hồng Kông, mà đặt vào quá trình cải cách dân chủ trên toàn quốc.

Minh Hùng tổng hợp

Tham khảo:

Ho-fung Hung, Three Views of Local Consciousness in Hong Kong, The Asia-Pacific Journal, 2/11/2014

Chan, Koon-chung. 2012, China’s Heavenly Doctrine and Hong Kong. Hong Kong: Oxford University Press.

Chin Wan. 2011. On Hong Kong as a city state. Hong Kong: Enrich Publishing.

Jiang Shigong. 2008. China’s Hong Kong: cultural and political perspectives. Hong Kong: Oxford University Press.

 

Chú thích

(1) Tucker, Nançy Bernkopf (2001). China Confidential: American Diplomats and Sino-American Relations, 1945–1996. Columbia University Press.

(2) Mushkat, Roda (1997). One country, two international legal personalities: the case of Hong Kong. HKU Press law series. Hong Kong: Hong Kong University Press.

(3) https://www.thoughtco.com/china-vs-hong-kong-687344