Lời mở đầu

Tôi đã dành ba mươi năm, bốn mươi năm để kiểm nghiệm xem liệu mình có nhầm lẫn hay không, vừa làm vừa nghiền ngẫm, nhưng chưa lần nào tôi tìm ra được bằng chứng chống lại điều ấy cả.

Đã có vô số bài viết bày tỏ niềm yêu mến với cuốn sách Cuộc cách mạng một cọng rơm của ông Masanobu Fukuoka, mà bài viết Cuộc cách mạng một cọng rơm: cuốn sách lạ và quý của tác giả Nguyên Ngọc, đăng trên báo Người Đô Thị, là một đại diện cho những niềm yêu mến đó. Nhưng tôi nghĩ, cái ông ấy cần nhất không phải là những lời tán dương, mà là một bằng chứng chứng tỏ mình đang nhầm lẫn. Tôi nghĩ, cái mong muốn dài ba mươi, bốn mươi năm đó nên được đáp ứng một lần. Nên hôm nay tôi sẽ thử góp một chút lời cho chuyện đó.

Bài viết chia làm 3 phần:

  1. Thứ ông ấy nghĩ không phải là khoa học đúng nghĩa
  2. Thứ ông ấy làm lại chính là khoa học đúng nghĩa
  3. Khoa học có trong những triết lý của ông ấy

Lưu ý: tác giả bài viết này chưa đọc về triết học trong khoa học, hay khoa học học. Lương tâm của tác giả bị cắn rứt khi nói những điều mình có thể chưa hiểu rõ. Nhưng có lẽ đây là lúc nên mạnh dạn dẹp sự xấu hổ đó qua một bên để làm điều cần thiết. Cứ tạm viết ra đã, rồi sau đó nhờ người có hiểu biết chỉnh sửa sau cũng không muộn.

Vị trí trong sách của những câu trích dẫn sẽ được để trong ngoặc.

Sau khi 3 phần này được đăng lên, tôi đã có dịp được trò chuyện với người dịch cuốn sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều, và tôi gom chúng lại thành một bài viết riêng: Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi. Nó sẽ nói về:

  • lý do tại sao mọi người cảm thấy ông ấy thật cao ngạo
  • cái sai nghiêm trọng của các nhà khoa học mà ông ấy muốn cảnh tỉnh (nói theo cách các nhà khoa học đều thấy thỏa mãn)
  • cách để quay lại Tự nhiên khi đang sống trong thế giới khái niệm

Nếu bạn vốn là người đã yêu mến cuốn sách này, và cảm thấy những lời ông ấy nói dành cho khoa học không hề cực đoan mà chỉ là sự cảnh tỉnh cần thiết, thì bạn có thể bỏ qua bài phản biện và đọc thẳng bài viết đó.

Phần 1: thứ ông ấy nghĩ không phải là khoa học đúng nghĩa

Ông Fukuoka nói:

Con người với sự can thiệp của họ đã làm một điều gì đó sai trái, để lại sự hư hại mà không được sửa chữa, và khi những hệ quả bất lợi chất chồng, lại dùng mọi nỗ lực để sửa sai. Khi những hành động sửa sai đó có vẻ thành công, họ đi đến chỗ xem những biện pháp này là những thành tựu hay ho. Người ta làm thế hết lần này đến lần khác. Giống như một gã ngốc dẫm đạp lên mái nhà mình làm vỡ hết ngói. Rồi khi trời bắt đầu mưa và trần nhà bắt đầu rữa ra, hắn mới vội vàng trèo lên chắp vá những chỗ hư hỏng, cuối cùng thì nhảy cẫng lên vui mừng vì mình đã hoàn thành một giải pháp phi thường.

Với nhà khoa học thì cũng tương tự như vậy. Ông ta mải mê đọc sách đêm ngày, căng hết cả mắt ra tới mức trở nên cận thị, mà nếu ta có hỏi ông ta làm cái gì trong suốt thời gian đó – thì đấy là để trở thành nhà phát minh ra kính cận. (19)

Cao Xuân Hạo có câu “Một con én mải miết đưa thoi. Mùa xuân có đến hay không, én không đặt vấn đề”. Vậy tại sao đến lúc mùa xuân tới rồi, thì lại quay sang nói con én là xa rời tự nhiên, là cưỡng cầu, là mắc dính? Việc làm ra kính cận là điều cần thiết, tại sao lại phải chê?

Cái ông ấy chê không phải là việc làm ra kính cận, mà là cái này:

Con người với sự can thiệp của họ đã làm một điều gì đó sai trái, để lại sự hư hại mà không được sửa chữa

Nhưng có thật là vậy không? Tất nhiên không nên chỉ hiểu là ông ấy chê những người làm ăn gian dối, vì lợi nhuận, mà là đang chê sự vô tình phân biệt phân biệt nhị nguyên trong tâm trí. Nhưng có thật là họ đang phân biệt nhị nguyên không? Và sự phân biệt đó có thật là đi ngược tự nhiên không?

Khoa học trong mắt ông ấy là thế này:

Đấy là bởi vì vai trò của khoa học gia trong xã hội cũng tương tự như vai trò của trí phân biệt trong tâm trí của chính chúng ta. (95)

Đó có vẻ không phải là hiểu biết chính xác về khoa học.

Khoa học, theo đúng nghĩa của nó, là phải có sự kiểm sai (falsifiability). Nó có nghĩa rằng là bất kỳ một lập luận nào, dù nghe có hợp lí đến đâu, mà không thể bị phủ nhận được bằng thực tiễn thì đều vô nghĩa. Ví dụ, câu “mặt trời mọc ở hướng đông” là một câu có thể kiểm sai, vì chỉ cần một lần mặt trời mọc ở hướng tây thôi thì câu đó bị phủ nhận, và toàn bộ tri thức dựa trên câu nói đó sẽ bị sụp đổ không thương tiếc. Còn với câu “tất cả mọi thứ đều do duyên hợp thành” thì không thể kiểm sai được, vì không có cách gì kiểm tra sự sai của nó. Những câu như vậy không phải là đối tượng để khoa học quan tâm.

Xuyên suốt quyển sách, tôi không thấy một lời nào nói về tính kiểm sai đó cả. “Khoa học”, trong mắt ông ấy, chỉ là sự vô tình tách biệt khỏi tự nhiên, vô tìnch phá hoại nó bằng sự nhiệt tình. Ông ấy khẳng định thế này:

Hơn nữa, các nhà khoa học, bất kể họ nghiên cứu thiên nhiên bao nhiêu và bao xa, cuối cùng cũng chỉ đi đến nhận ra thiên nhiên hoàn hảo và bí ẩn tới mức nào. Tin rằng nhờ vào việc nghiên cứu và bằng phát kiến, nhân loại có thể tạo ra một cái gì đó tốt hơn cả tự nhiên là điều ảo tưởng. Tôi nghĩ rằng người ta đang gắng sức không vì lý do nào khác hơn là để biết được cái mà ta có thể gọi là sự ‘bất khả tư nghị’ về cái bao la của tự nhiên. (66)

Ông ấy nói rằng sau khi nghiên cứu thiên nhiên thì các nhà khoa học sẽ chỉ nhận ra rằng thiên nhiên bí ẩn và hoàn hảo. Liệu đó là điều khoa học nói, hay là điều ông ấy cho rằng khoa học nói? Ông ấy không một lần nào nhắc tới tính kiểm sai của khoa học, nhưng lại luôn khẳng định khoa học là phân biệt. Vậy việc dành cả đời mình chỉ để khẳng định với mọi người rằng khoa học là phân biệt liệu có phải là đang phân biệt không? Và rốt cuộc thì, liệu có thật sự là khoa học phân biệt không?

Ông ấy nói:

Một phương pháp kiểm nghiệm khoa học mà đưa được tất cả các yếu tố liên quan vào xem xét là điều bất khả thi. (46)

Cứ cho là như vậy đi, nhưng vậy rồi sao? Nếu người trong cuộc không phàn nàn gì về điều đó, vậy tại sao người ngoài cuộc phải phàn nàn giùm? Ngay từ đầu khoa học đã chẳng màng tới điều đó; thứ duy nhất nó quan tâm chỉ là việc lời nói ra có kiểm sai được hay không. Phân biệt hay không phân biệt, cặp mắt nào được việc hơn thì nó sẽ dùng. Ép nó phải dùng cặp mắt này mà không dùng cặp mắt kia, liệu có hơi thô bạo chăng?

Ông ấy hỏi học bằng tiến sĩ để làm gì (46). Để làm gì ư? Để không làm gì chứ còn để làm gì nữa? Để coi mình là một phần của tự nhiên. Để không phải sợ hãi những thứ không có thật. Để có thể nhân ái với nhau hơn. Liệu nói như thế có đúng ý ông ấy chăng?

Ông ấy nói:

Người ta nói rằng Einstein được trao giải Nobel vật lý là do độ khó hiểu của thuyết tương đối mà ông ta đưa ra. (95)

What? Ông ấy có đùa không? Câu này chỉ là câu nói đùa, vậy mà ông ấy xem nó như thật rồi dựa toàn bộ phê phán của mình lên trên câu nói ấy. Đáng ra ông ấy chỉ cần hỏi các nhà khoa học “này các anh, đây có phải là ý các anh muốn nói không”, thì lúc đó mọi hiểu lầm sẽ được giải quyết. Đành rằng vào thập niên 1970 thì khó mà email cho Einstein thiệt, nhưng quan trọng là ông ấy có suy nghĩ rằng nhỡ đâu mình đang nghĩ sai về Einstein hay không? Hay như chính lời ông ấy nói, cách làm không quan trọng, quan trọng là có nhận thức ra được không (31).

Không phải là ông ấy không đặt những câu hỏi như vậy. Nhưng sau khi hỏi, ông ấy lại nhảy ngay lập tức tới kết luận tiêu cực mà chưa thử tìm cách nghĩ ngược lại, chưa thử kiếm bằng chứng chống lại mình. Đây đâu phải là vượt lên trên suy nghĩ nhị nguyên; đây chỉ đơn giản là lỗi lập luận sơ đẳng mà thôi. Có vẻ như, các từ khoá như “hóa chất” hay “khoa học” sẽ luôn chặn đứng khả năng không phân biệt mà ông ấy vốn có.

Ông ấy nói:

Những năm qua, tôi đã mắc nhiều sai sót trong quá trình thử nghiệm và đã gặp đủ loại thất bại. […] Lần đầu thành công trong việc trồng lúa và ngũ cốc mùa đông bằng phương pháp vô canh, tôi cảm thấy vui sướng như Columbus hẳn đã cảm thấy khi ông tìm ra châu Mỹ. (34)

Vậy ông ấy vui sướng như Columbus, nhưng lại coi khinh Einstein. Ông ấy nói rằng “Thậm chí nếu chỉ gọi tên cây cối, một cây quýt thuộc họ cam quýt, một cây thông thuộc họ thông, thì tự nhiên đã không còn được thấy trong đúng nguyên bản của nó nữa” (24). Vậy nhưng ông ấy lại gọi Columbus là Columbus, gọi Einstein là Einstein. Chuyện đó có mâu thuẫn không? Hay là ông ấy chọn người này bỏ người kia để thuận tiện cho lập luận của mình?

Mà nói về chuyện vui sướng, thì người vui sướng nhất phải là Einstein mới đúng chứ? Ông ấy đến Mỹ là để trốn phát xít Đức cơ mà. Còn Columbus chỉ đang muốn đi đường tắt tới Ấn Độ thôi. Cảm giác khi đến châu Mỹ của Columbus chắc phải là chưng hửng mới đúng.

Quyển sách của ông ấy có bao nhiêu từ thì tôi đã thấy ông ấy phân biệt bấy nhiêu lần. Phân biệt giữa “ngũ cốc” và “đào hang”, giữa “đồng lúa cân bằng sinh thái” và “cộng đồng côn trùng và thực vật”. Ông ấy có thể bảo: “ừ thì chúng ta không thể thoát khỏi ngôn ngữ, nhưng ý của tôi là một thứ cao hơn”. Vậy thì ta cũng có thể nói ngược lại: “nếu chúng ta không thể thoát khỏi nó, thì đừng lảng tránh nó nữa, mà hãy đối diện với nó, đón chào nó như một người bạn”. Xem ra cũng chẳng khác biệt nhau là mấy.

Vậy tại sao một người dành cả tuổi trẻ hăng say để làm khoa học như ông ấy lại không hiểu gì về khoa học? Ông ấy cũng trả lời luôn:

Nhưng thực ra trong suốt tám năm đó, tôi ngẫm nghĩ về mối liên hệ giữa khoa học nông nghiệp và nông nghiệp tự nhiên. Nền nông nghiệp hoá chất, sử dụng những sản phẩm của trí tuệ con người, đã được xem là siêu việt hơn. Câu hỏi luôn lởn vởn trong tâm trí tôi là liệu nông nghiệp tự nhiên có thể đứng lên sánh ngang với khoa học hiện đại hay không. (17)

Vậy là trong tám năm đó, ông ấy ngẫm nghĩ về “mối liên hệ giữa khoa học nông nghiệp và nông nghiệp tự nhiên”, chứ không phải là “bản chất của khoa học”. Thứ lởn vởn trong tâm trí ông ấy là “liệu nông nghiệp tự nhiên có thể đứng lên sánh ngang với khoa học hiện đại hay không”, chứ không phải là “khi nào thì một suy luận được xem là có cơ sở khoa học”, hay là “liệu tính kiểm sai có phải là phán quyết cuối cùng cho công cuộc hiểu biết tự nhiên hay không”. Chưa kể, ông ấy làm công việc khoa học, nhưng đầu óc không dành cho nó. Vậy thì cũng đâu thể gọi là hiểu được nó đâu?

Thật sự là các nhà khoa học không cần hiểu lắm bản chất của nó, chỉ cần nắm vững một số nguyên lý thực hành là có thể làm được. Có người là thầy, có người là thợ. Có những người thợ là thầy của những người khác. Có những người thầy là thợ của những người khác. Người làm trong một chuyên môn cụ thể không nhất thiết phải đọc triết học, đặc biệt là các ngành thực nghiệm như sinh học hay khoa học nông nghiệp. Ngay cả toán học cũng vậy. Người ta nói toán học như ngôi nhà được xây trên cát, vì nền tảng của nó đang có vô số lỗ hổng. Vậy nhưng các nhà toán học không quan tâm, mà outsource hết cho triết gia. Biết thì tốt, còn không biết thì cũng không quá nghiêm trọng. Bạn cũng đâu có một lần mảy may áy náy khi đọc những dòng này mà không biết cách hoạt động của chip máy tính đúng không?

Vì vậy, việc ông ấy làm khoa học mà không hiểu về bản chất của nó cũng là chuyện bình thường. Nhưng không hiểu mà vẫn làm được là một chuyện, không hiểu mà phê phán người khác lại là chuyện khác.

Phần 2: Thứ ông ấy làm lại là khoa học đúng nghĩa

Ở trên là chuyện ông ấy nghĩ gì về khoa học. Vậy còn chính những gì ông ấy làm thì sao?

Cách thông thường để phát triển một phương pháp là đặt câu hỏi “Thử cái này xem sao?” hoặc “Thử cái kia xem sao? […] Cách nghĩ của tôi là “Không làm điều này thì sao nhỉ? Không làm điều kia thì sao nhỉ?” (18)

Vậy, bằng đúng phương pháp của ông ấy, ta có thể hỏi: không làm nông nghiệp tự nhiên thì sao nhỉ? Và ta cũng sẽ có được kết quả tương tự: chẳng việc gì phải làm nông nghiệp tự nhiên cả. Cả làng ông ấy không ai làm nông nghiệp tự nhiên, nhưng mọi người vẫn vui vẻ hòa thuận với nhau. Đất đai cằn cỗi ư? Chẳng phải cằn cỗi và màu mỡ là một sao? Tại sao lại phân biệt giữa cằn cỗi và màu mỡ? Tại sao lại phân biệt giữa tự nhiên và hóa chất? Cho rằng làm đất đai cằn cỗi là xấu, dùng thuốc hóa học là có hại, vậy có phải là tâm phân biệt, suy nghĩ nhị nguyên hay không? Tại sao không xem chúng là món quà mà tự nhiên ban tặng?

Tại sao ông ấy lại nhất quyết cho rằng hóa chất là độc hại? Ta hãy tiếp tục lần theo những suy nghĩ của ông ấy:

Người ta không thể biết đâu là nguyên nhân thật sự của căn bệnh trên cây thông, cũng như không thể biết hệ quả sau rốt của cách “chữa trị” mà họ đưa ra. Nếu can thiệp bừa vào tình huống này thì người ta chỉ gieo mầm mống cho đại hoạ kế tiếp. Không, tôi không thể vui mừng khi biết rằng sự thiệt hại tức thời do loài mọt này gây ra đã được giảm thiểu nhờ vào việc phun hoá chất. Sử dụng hoá chất nông nghiệp là phương pháp dớ dẩn nhất để đối phó với những vấn đề như thế này, và nó chỉ dẫn đến các vấn đề lớn hơn trong tương lai. (29)

Vậy với ông ấy, “hóa chất” nghĩa là “can thiệp bừa”, là “gieo mầm mống cho đại họa kế tiếp”, là “dẫn đến các vấn đề lớn hơn trong tương lai”. Nhưng nếu tôi nói rằng, loài tảo lam cũng tiết cyanotoxin một cách bừa bãi để hủy diệt hệ sinh thái địa phương thì sao? Vậy thật ra, loài người cũng chỉ đang học tập loài tảo lam vô tri vô giác đó thôi?

Ta cũng có thể hỏi tiếp: không nghĩ cách nghĩ của ông ấy thì sao nhỉ? Nếu ta cứ nghĩ như bình thường trước đây vẫn nghĩ thì sao? Lúc đó, ta sẽ nhận ra: thứ ông ấy đang phê phán là cứ làm việc theo quán tính mà không dừng lại để đánh giá, chứ không phải là bản thân chuyện đặt câu hỏi. Nếu trong câu hỏi của ta có tinh thần dám đối diện với thứ mình cho là vô lý, và dám đánh đổ những gì mình tin là chân lý, thì hỏi câu nào chẳng được?

Ở phương Tây, cũng cùng thời với Lão Tử, Socrates cũng đã thấy được điều này khi liên tục đặt câu hỏi cho học trò của mình. Từ đó làm thành phương pháp đặt câu hỏi Socratic, đặt nền móng cho triết học phương Tây. Và chính từ cái truyền thống triết học đó mà khoa học hình thành. Ông ấy nói là các nhà khoa học trước khi làm việc hãy trở thành triết gia (46), nhưng ông ấy quên rằng chính triết gia đã đẻ ra khoa học. Thật vậy, khoa học trước đây không được gọi là khoa học, mà được gọi là triết học tự nhiên. Chủ động thách thức những gì bản thân trước giờ vẫn nghĩ, chẳng phải là thấm đẫm trong cái nguyên tắc kiểm sai đó sao? Khoa học không nói rằng cái nào là đúng, cái nào là sai. Khoa học chỉ cho phép ta không tin vào những gì nó nói. Vậy có phải, cái ông ấy làm cũng chính là tinh thần khoa học, mà ông ấy không nhận ra?

Sẽ thật là hồ đồ nếu vội kết luận như vậy, vì cho tới giờ vẫn chỉ là suy diễn. Ta hãy kiểm tra xem điều đó có đúng là như vậy không. Khi bạn làm một công việc theo một chuỗi tuần tự những bước sau, thì dù bạn có để ý là bạn có đang làm nó hay không, thì bạn cũng đã làm theo phương pháp khoa học. Những bước đó là: nêu giả thuyết, tiến hành thí nghiệm, phân tích kết quả. Sau khi giả thuyết đã được sàng lọc thì kết luận phải có tính tiên đoán và kiểm sai. Ngoài ra, khi nghiên cứu còn phải tham khảo những nghiên cứu trước đó của những người đi trước. Nói như Newton là “đứng trên vai những người khổng lồ”. Tất cả những bước này chính là cái nguyên lý thực hành đã nói ở phần 1.

Tôi thấy, những bước thực hành khoa học ông ấy đều làm đủ cả:

Ông ấy đề ra giả thuyết:

  • Tôi tin rằng cây trồng tự chúng mọc và không cần phải chăm sóc. (17)
  • Ý tưởng là không diệt cỏ ba lá mà chỉ làm chúng yếu đi để những cây mạ mọc vững trước đã. (35)
  • Những năm gần đây, tôi đang thử phát triển một giống lúa nếp cổ từ miền Nam. […] Tôi tin rằng với giống lúa này, một ngày nào đó tôi có thể gặt hái được sản lượng gần chạm tới ngưỡng tối đa về mặt lý thuyết có thể có, căn cứ trên năng lượng mặt trời đổ xuống cánh đồng. (36)

Ông ấy làm thí nghiệm nhiều lần để kiểm định giả thuyết. Sau khi thí nghiệm thì phân tích kết quả và loại bỏ giả thuyết sai:

  • Trong quá trình đi đến được câu trả lời, tôi đã cho 400 cây nữa đi tong. Cuối cùng thì tôi cảm thấy mình đã có thể nói một cách chắc chắn: “Đây chính là hình thái tự nhiên.” (18)
  • Trong hai mươi, ba mươi năm qua, phương pháp trồng lúa gạo và ngũ cốc mùa đông này đã được kiểm nghiệm trên diện rộng với nhiều kiểu thời tiết và điều kiện tự nhiên khác nhau. (22)
  • Tôi đã từng dùng cách thả hạt vào những lỗ nhỏ trên đất, hoặc vào những rãnh đất mà không phủ đất lên, nhưng tôi đều thất bại nhiều lần với cả hai phương pháp này. (33)
  • Những năm qua, tôi đã mắc nhiều sai sót trong quá trình thử nghiệm và đã gặp đủ loại thất bại. (34)

Ông ấy có sự kế thừa kiến thức/có trích dẫn nghiên cứu của người khác:

  • Gần đây, tôi có trao đổi về điều này với Giáo sư Iinuma ở Đại học Kyoto. Một nghìn năm trước, nông nghiệp được thực hành tại Nhật mà không có chuyện cày ruộng, và phải đến tận triều đại Tokugawa – khoảng 300-400 năm trước – thì việc cày xới sơ sơ một lớp mỏng trên bề mặt mới được đưa vào. (20)
  • Bệnh mọt ăn cây này, theo các nghiên cứu gần đây nhất không phải là lây nhiễm trực tiếp, mà xuất hiện theo sau hoạt động của loài giun tròn trung gian (28)

Giả thuyết sau khi được sàng lọc có tính tiên đoán và kiểm sai:

  • Ngay cả giống cỏ khó chịu như cỏ mần trầu, vấn đề khó khăn nhất gặp phải trong phương pháp không cày xới, cũng có thể kiểm soát được. (33)
  • Vào đầu tháng tám, khi những cây lúa trên ruộng của láng giềng đã cao ngang lưng, thì trên ruộng của tôi, chúng chỉ cao bằng một nửa. Tầm cuối tháng bảy, những người tới thăm ruộng luôn tỏ ra hoài nghi và hỏi: “Tiên sinh Fukuoka à, chỗ lúa này liệu có nên cơm cháo gì không?” “Chắc chứ,” tôi trả lời: “Không cần phải lo.” (35)
  • Một trong những giống cây thú vị nhất, dù chẳng phải cây bản địa, là cây keo Morishima. […] Nó giúp phòng tránh côn trùng phá hoại trong vườn, đóng vai trò chắn gió và loại vi khuẩn rhizobium sống trong rễ của nó làm màu mỡ thêm cho đất. (39)

Nểu giở mục lục cuốn sách ra, ta sẽ thấy ông ấy phân chia công việc làm nông rất ngăn nắp: cách cày xới đất, cách dùng phân bón, cách sử dụng rơm, cách trồng cây ăn quả, cách đối phó với sâu bệnh, cách ăn uống cân bằng, v.v. Hay trong một phần nhỏ như làm rơm, ông ấy lại tiếp tục chia ra thành: rải rơm còn nguyên chất, rơm làm màu mỡ đất, không cần chuẩn bị phân ủ, nảy mầm, v.v. Bố cục cuốn sách rất rõ ràng, vậy không thể nói là ông ấy đang không chẻ nhỏ một thứ tổng thể thành những thứ riêng lẻ được.

Tất cả những bước này đều vô cùng quan trọng để ông ấy đạt được mục đích của mình. Vậy có thể khẳng định, thứ gì ông ấy làm chính là khoa học đúng nghĩa.

Phần 3: khoa học có trong những triết lý của ông ấy

Ta hãy nói về sự tham lam. Cách đây vài tuần tôi có dịp đến Sun World Phú Quốc. Phải nói là chán. Hay nói như Thế Lữ thì là thế này:

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Nhưng trên đường đi đến đó tôi phải đi cáp treo qua biển. Và cảnh tượng phía dưới là tuyệt đẹp. Lúc đó là sau bão nên biển động, nước đánh mạnh vào các bãi đá ở dưới. Khi sóng rút, bọt trắng len lỏi giữa các rãnh đá, khá vuông vắn chứ không lộn xộn như bình thường. Tra ra thì đó có vẻ là cát kết xen lẫn cuội kết, hình thành từ kỷ Jura. Nghĩa là thứ đang ở trước mắt tôi đây đã có từ thời bọn khủng long còn sinh sống.

Tôi tự hỏi, không biết là có bao nhiêu con người chấp nhận bị nói là tham lam, để tôi có thể thấy được một cảnh đẹp đến thế. Những người ở cấp lãnh đạo thừa biết xây ra sẽ bị chỉ trích, nhưng họ vẫn mặc kệ dư luận để tiếp tục xây dựng. Họ cứ việc mình mình làm, không cần sự ủng hộ của người khác. Vậy chẳng phải là họ đang như con én đưa thoi mà không màng xem mùa xuân có đến hay không ư?

Họ tham lam, vậy đó là điều tốt. Ta nên ủng hộ sự tham lam của họ, tìm cách để giúp họ trở nên tham lam hơn. Hoặc hay hơn, là tham lam cùng với họ, trở thành một người tham lam hệt như họ. Nhưng có lẽ hay nhất, là từ đầu là một người tham lam. Tham lam tột cùng. Có thể làm được điều đó, thì ta mới thật sự không còn tham lam. Cứ tham lam đi, rồi những điều bất ngờ sẽ đến.

Đó là nói theo kiểu Lão, khi cứ khù khờ, không hay biết gì cả, sống cho riêng mình. Còn nói theo kiểu Phật, là từ bi hỷ xả. Một người cố gắng làm bánh mì ngon có thể làm bánh mì ngon biến mất. Nhưng nếu nhờ có nó mà con của họ hào hứng học tập, còn bản thân họ thấy cuộc sống có ý nghĩa, thì lúc đó bánh mì ngon có mất không? Khi cái mong muốn không phải là để thỏa mãn ham muốn bản thân, mà là để đạt được một góc nhìn cao hơn, rộng hơn, để đặt mình vào góc nhìn của người khác, thì ta đâu phải lo họ tham lam?

Điều gì khiến con én không dính chấp vào mùa xuân, nếu không phải là sự từ bi? Tôi nghĩ, nếu người dù phân biệt đến mấy có tâm từ bi, thì hành động của họ chẳng còn phân biệt gì nữa. Và ngược lại, nếu thấy một người khác đang phân biệt, thì hãy từ bi với họ mà phân biệt cùng họ. Dám biến mình thành người phân biệt là phép thử tốt nhất cho sự không phân biệt của chúng ta.

Sự từ bi sẽ phi-phân-biệt-hóa mọi suy nghĩ phân biệt. Nhờ có nó, ta có thể làm mà như không làm, ngồi im như tượng phỗng bằng cách chạy nhảy lung tung. Người vô dụng tham lam ở chỗ không phải vì họ không làm gì có ích, mà ở chỗ họ không giải thích cho người ngoài hiểu được chuyện mình đang làm. Người ngoài không hiểu thì không phải là lỗi của họ, nhưng bản thân người vô dụng lại để sự hiểu lầm tiếp tục xảy ra. Sự hiểu lầm đó làm gia tăng stress ở người ngoài, mà chỉ có sự giải thích của người vô dụng thì căng thẳng đó mới được giải tỏa.

Điều đó đòi hỏi người giác ngộ phải có khả năng tư duy trong sự trống rỗng. Tôi cho rằng các vị đã giác ngộ vẫn đang loay hoay không biết cách nào để chỉ ra được – một cách dễ hiểu và trực quan – cách để làm như thế.  Vì để giải thích cái ý trống rỗng còn chưa xong, thì thời gian đâu để giải thích cái ý thõng tay vào chợ? Tôi nghĩ rằng ông Fukuoka cũng đang loay hoay cho việc đó. Nếu không thì ông ấy đã chẳng hay nổi giận khi người khác không hiểu rồi. Vì người ta chỉ nổi giận khi họ thấy rối bời và bất lực.

Khoa học sẽ giúp ông ấy hết loay hoay. Hay nói đúng hơn, mọi suy nghĩ phân biệt sẽ giúp cho sự từ bi và trống rỗng đạt hiệu quả cao. Nếu có cả hai yếu tố này, thì một cuộc cách mạng rơm là hoàn toàn trong tầm tay.

Kết luận

Cái từ “khoa học” đó đã bị biến nghĩa rồi. Thứ ông ấy nói không phải là khoa học đúng nghĩa. Nhưng thứ ông ấy làm, từ đầu chí cuối, lại là khoa học đúng nghĩa. Nghĩa là ông ấy nói một đằng làm một nẻo.

Ông ấy có thể đã giác ngộ, có thể sống vô vi. Ông ấy cũng là một chuyên gia nông nghiệp giỏi, có tầm nhìn xa trông rộng. Nhưng khi nói về bản chất của khoa học, có lẽ ông ấy chưa hiểu đủ về nó. Mà nói về một thứ mà mình không hiểu gì, thì có lẽ đó không phải là tinh thần của thiền. Nhưng làm một thứ mà mình còn không nghĩ là mình đang làm nó, thì lại là tinh thần vô vi.

(Đây là bài đăng trên Foxstudy. Bài gốc được đăng trên quảcầu.com. Nếu có gì thay đổi sẽ tôi cập nhật trên đó trước.)