Trong những ngày vừa qua, báo chí liên tục cảnh báo về tình trạng ô nhiễm không khí trầm trọng ở Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc như Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh… Tình trạng ô nhiễm ngày càng leo thang. Chỉ số ô nhiễm hai ngày 30/9 và 1/10/2019 đều vượt ngưỡng an toàn trên mọi công cụ đo chất lượng không khí hiện đang vận hành. Báo chí chính thống cũng đặc biệt đề cập đến những nguy hoại do bụi mịn PM2.5 gây ra cho sức khỏe người dân. Tuy nhiên, đây không phải là hiện trạng mới mẻ, báo cáo của Green ID năm 2018 đã công bố báo cáo đánh giá mức ô nhiễm trầm trọng trong không khí ở Hà  Nội và miền Bắc Việt Nam.

Dưới đây là trích dẫn báo cáo về tình trạng ô nhiễm không khí tại Hà Nội trong năm 2018 của Green ID:

Trong năm 2018, ô nhiễm bụi mịn (PM2.5) tại Hà Nội vẫn là vấn đề nổi cộm. Theo số liệu từ trạm đo của ĐSQ Mỹ và các trạm cảm biến do công ty Puritrak quản lý (đặt ở Quận Ba Đình, Quận

Bắc Từ Liêm, Quận Cầu Giấy, Quận Đống Đa, Quận Hai Bà Trưng, Quận Long Biên) và phân tích của Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc, nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm tại Hà Nội vẫn đang ở mức cao (40,1 µg/m3) (Bảng 3), vượt quá giới hạn được quy định theo Quy chuẩn Quốc gia QCVN 05/2013/BTNMT (25 µg/m3).

Riêng trạm ĐSQ Mỹ, nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm là 40,6 µg/m3 vượt quá 1,5 lần so với

Quy chuẩn Quốc gia (25 µg/m3) và 4 lần so với Khuyến nghị WHO AQG (10 µg/m3). Khi phân tích dữ liệu theo ngày, số ngày có nồng độ bụi PM2.5 trung bình ở mức cao vẫn chiếm số lượng lớn, ở trạm ĐSQ Mỹ có 88 ngày tương ứng với 24% tổng số ngày trong năm vượt quá giới hạn cho phép trong QCVN (50 µg/m3) và nếu so sánh với khuyến nghị nghiêm ngặt hơn của WHO (25 µg/m3) thì con số này là 232 ngày chiếm 64% tổng số ngày trong năm.

Đặc biệt là ở vị trí Quận Long Biên (theo số liệu từ máy đo của Puritrak), giai đoạn phân tích chỉ có 8 tháng từ tháng 5 đến tháng 12/2018, tuy nhiên số ngày có nồng độ bụi PM2.5 trung bình vượt quá QCVN lên tới 108/245 ngày chiếm 44% tổng số ngày trong giai đoạn phân tích. Dữ liệu tại 10 trạm quan trắc của UBND thành phố Hà Nội cũng chỉ ra rằng khu vực nội thành Hà Nội đang bị ô nhiễm bụi và thông số bụi PM2.5 vẫn là thông số có mức độ ô nhiễm cao nhất. Mức độ ô nhiễm bụi tại các vị trí cũng rất khác nhau, các trạm đo tại đường Minh Khai và đường Phạm Văn Đồng có số ngày nồng độ bụi vượt quá Quy chuẩn Quốc gia cao nhất lần lượt là 129 (35% tổng số ngày) và 109 (30% tổng số ngày). Nguồn gây ô nhiễm bụi tại các đô thị hiện nay chủ yếu từ các nguồn tại chỗ (hoạt động giao thông, xây dựng, sản xuất công nghiệp) và một số nguồn từ xa tới (bụi mịn từ các ngành sản xuất công nghiệp sử dụng nhiên liệu hóa thạch, cháy rừng và từ một số các quốc gia lân cận).

Đừng đổ tại gió, hãy để ý tới các nhà máy nhiệt điện than

Hai nguyên nhân đang được nhiều chuyên gia và nhà báo đề cập đến, đó là khói xả ra từ các phương tiện giao thông phổ biến của người dân như ô tô, xe máy… và gió mùa Đông Bắc. Tuy nhiên, một nguyên nhân trầm trọng khác mà không ít các chuyên gia và nhà báo đang né tránh, đó là nhà máy nhiệt điện than. Green ID đã cung cấp một báo cáo khác vô cùng quan trọng về hướng gió thổi về Hà Nội. Những hướng gió này đều đi qua các khu vực có mật độ dầy đặc các nhà máy nhiệt điện than ở miền Bắc Việt Nam.

Hướng gió mang tới không khí ô nhiễm và sạch cho Hà Nội. Nguồn: Green ID

Phân tích mô hình HYSPLIT: quỹ đạo của các khối khí di chuyển tới Hà Nội trong những giờ mức độ ô nhiễm bụi cao và thấp được phân theo từng cụm bằng cách sử dụng mô hình HPSPLIT để phân tích, nhóm các khối khí có quỹ đạo tương tự lại với nhau. 2 cụm quỹ đạo khác nhau liên quan đến tất cả các đợt ô nhiễm đỉnh điểm đi qua khu vực Quảng Ninh tập trung lượng lớn các khu công nghiệp và các nhà máy nhiệt điện than. Trong các giờ có mức ô nhiễm thấp, các khối không khí đã đi dọc theo hai hướng, từ phía Bắc (41% khối khí) và từ phía Nam (59%), không đi qua các khu vực phát thải chính của khu vực quanh Hà Nội.

Green ID

Qua hai bản đồ di chuyển của khối không khí ô nhiễm trên, ta có thể thấy rằng khó chối bỏ được vai trò của các nhà máy nhiệt điện than trong tình trạng ô nhiễm không khí hiện nay. Các nhà máy nhiệt điện than là nơi phát tán ra loại khí độc có chứa bụi mịn trầm trọng nhất.

Tình trạng ô nhiễm không khí tương tự đã diễn ra tại Trung Quốc và Indonesia. Các nhà báo đã đặt một thuật ngữ để ám chỉ tình trạng nguy hại trầm trọng của ô nhiễm không khí tại Trung Quốc trước năm 2016 là “Airpocalypse”, và một tin rất buồn cho chúng ta, đó là “Airpocalypse” đã diễn ra ở Việt Nam từ nhiều năm nay, chỉ là đến giờ chúng ta mới nhận thức được nó. 

Tại Indonesia, sự nguy hại của nhà máy nhiệt điện than đã được báo chí chỉ rõ từ cách đây ba năm. Một bài báo trên trang Jakkata Post cho biết trường đại học Havard đã có một cuộc khảo sát và các số liệu thu được về tình trạng ô nhiễm do nhà máy nhiệt điện than gây ra tại đất nước này thật đáng báo động. Mỗi năm, ngoài việc thải ra hàng trăm nghìn tấn khí ô nhiễm có thành phần thủy ngân, chì, asen, cadimi, các nhà máy nhiệt điện than còn đẩy vào không khí bụi mịn PM2.5. Hiện tại, các nhà máy nhiệt điện than ở Indonesia là nguyên nhân gây ra tình trạng tử vong sớm của khoảng 6500 người mỗi năm, tức là mỗi một nhà máy nhiệt điện than có thể gây tử vong cho khoảng 600 người vì  bị nhiễm độc ở phổi và máu. Những con số ấy đã nói lên tất cả. Bài báo còn cho biết thêm rằng do tình trạng giám định không khí lỏng lẻo tại Indonesia, cũng như tại nhiều nước Đông Nam Á còn khiến lượng xả thải tại các nhà máy nhiệt điện than ở Đông Nam Á cao gấp 5 đến 10 lần so với Trung Quốc. 

Vậy còn ở Việt Nam của chúng ta thì sao? Tôi không tìm thấy được các tư liệu thống kê đánh giá về lượng bụi mịn và các chất khí thải khác được thải ra từ các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam. Có lẽ, đây là thông tin thuộc “bí mật quốc gia”. Và đương nhiên, tôi sẽ không thể tìm thấy những thông tin về số lượng tử vong hay nhiễm bệnh do ô nhiễm không khí. Thế nhưng đối chiếu các tác hại của của các nhà máy nhiệt điện than gây ra tại Trung Quốc và Indonesia, và quan sát hướng gió thổi có chứa khối không khí ô nhiễm tại Việt Nam, ta có thể thấy sự thật không thể chối cãi rằng ô nhiễm không khí tại Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc hiện nay có mối liên quan mật thiết tới các khu nhà máy nhiệt điện than.

Các nhà máy nhiệt điện than đã bao vây chúng ta như thế nào?

Những thống kê này sẽ nói lên nhiều điều hơn mọi lời dài dòng: 

Đây là mật độ các nhà máy nhiệt điện than và tình trạng đang hoạt động của chúng ở Việt Nam.

Số liệu ngày 2/10/2019

Còn dưới đây là danh sách các nhà máy nhiệt điện than đang hoạt động tại miền Bắc Việt Nam, ở những khu vực có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng không khí trong khu vực đồng bằng và trung du Bắc Bộ, đặc biệt là Hà Nội. Dữ liệu lấy từ Coal Tracker và Báo cáo 58/BC-CBT của Bộ Công Thương 2019.

STT Nhà máy nhiệt điện than Đơn vị chủ quản Địa điểm
1 An Khánh-1 Công ty cổ phần Nhiệt điện An Khánh Bắc Giang
2 Nhiệt điện Cẩm Phả Giai đoạn I-II Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam Quảng Ninh
3 Nhiệt điện Cao Ngạn Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam Thái Nguyên
4 Nhiệt điện Đồng phát Hải Hà 1-4 Công ty TNHH Khu công nghiệp Texhong Việt Nam Quảng Ninh
5 Hải Phòng 1-2 Tập đoàn Điện lực Việt Nam Genco No 2 Hải Phòng
6 Mao Khê Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam Quảng Ninh
7 Mông Dương-1 Tập đoàn Điện lực Việt Nam Quảng Ninh
8 Mông Dương-2 Tập đoàn Điện lực Việt Nam Quảng Ninh
9 Na Dương-1 Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam Lạng Sơn
10  Nhiệt điện Phả Lại-1 Công ty Cổ Phần Nhiệt Điện Phả Lại Hải Dương
11 Nhiệt điện Phả Lại-2 Công ty Cổ Phần Nhiệt Điện Phả Lại Hải Dương
12 Nhiệt điện Quảng Ninh 1-2 Công Ty Cổ Phần Nhiệt Điện Quảng Ninh Quảng Ninh
13 Nhiệt điện Sơn Động Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam Bắc Giang
14 Thái Bình-1 Tập đoàn Điện lực Việt Nam Thái Bình
15 Thăng Long Công ty xuất – nhập khẩu Hà Nội Quảng Ninh
16 Nhiệt điện Uông Bí I mở rộng Tập đoàn Điện lực Việt Nam Genco No 1 Quảng Ninh
17 Nhiệt điện Uông Bí I Tập đoàn Điện lực Việt Nam Genco No 1 Quảng Ninh
18 Nhiệt điện Uông Bí II mở rộng Tập đoàn Điện lực Việt Nam Genco No 1 Quảng Ninh

 

Những thống kê trên đã hiển thị rất rõ vị trí lọt thỏm trong vùng ô nhiễm của Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc. Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ như một cái phễu hút các khối không khí ô nhiễm vào sâu bên trong theo các cơn gió. 

Và đây là những con số:

Hiện tại nước ta có khoảng 30 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với tổng công suất hơn 13.000 MW, chiếm 1/3 cơ cấu nguồn điện.

Dự kiến đến năm 2030, số lượng nhà máy nhiệt điện than sẽ tăng lên gấp 3 lần, nâng tổng công suất điện than lên hơn 55.000 MW, dù vào tháng 3 năm 2016, chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch Điện VII Điều chỉnh nhằm cắt giảm nhiệt điện than và tăng năng lượng tái tạo.

Số liệu lấy từ Green ID

Nhật Bản, Hàn Quốc và đặc biệt là Trung Quốc, đều đang cấp vốn cho ngành nhiệt điện than ở Việt Nam. Nếu Hàn Quốc chỉ cho vay 3 tỷ USD, Nhật Bản cho vay 3,7 tỷ USD, thì Trung Quốc đặc biệt cấp số vốn lên tới 8,3 TỶ USD. Nguồn vốn này được cung cấp qua các cơ quan tín dụng xuất khẩu của ba quốc gia này, bao gồm Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Trung Quốc, Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hàn Quốc (Kexim), Công ty Bảo hiểm Thương mại Hàn Quốc (K-sure) và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC); và rót vào 9 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước chuyên cấp vốn vay cho nhiệt điện than than.

Từ bỏ nhiệt điện than để thoát khỏi Airpocalypse, tại sao khó khăn đến vậy?

Trong khi nhiệt điện than đang bị cắt giảm trên thế giới từ 2016 đến nay, thì Việt Nam lại gia tăng xây dựng nhà máy nhiệt điện than. Trong báo cáo “Global fossil fuel divestment and clean energy investment Movement” của Arabella Advisors (tháng 12/2016), sau 1 năm ký kết Thỏa thuận Paris, các cá nhân và tổ chức đã thoái vốn lên tới 5 triệu USD khỏi các hoạt động đầu tư vào nhiên liệu hóa thạch. 76 quốc gia trên thế giới đã cam kết thoái vốn khỏi lĩnh vực này, trong đó đặc biệt có Trung Quốc.

BẢNG SỐ LIỆU THOÁI VỐN CỦA ẤN ĐỘ VÀ TRUNG QUỐC KHỎI NHIỆT ĐIỆN THAN (GREEN ID)

Trung Quốc dừng 300.000MW ở tất cả giai
đoạn, giảm 85% cấp phép cho các nhà máy
mới

Ấn Độ tạm dừng 13.000MW

3/2016: dừng phê duyệt nhà máy mới tại 13
tỉnh, dừng khởi công tại 15 tỉnh
Cơ chế “đèn giao thông”: dừng cấp phép và xây
dựng tại 26 tỉnh

6/2016: Bộ Năng lượng đề xuất các nhà đầu
tư giảm kế hoạch phát triển điện than

4/2016: ban hành kế hoạch đóng cửa nhà máy

12/2016: công bố bản dự thảo Quy hoạch
Năng lượng Quốc gia, tuyên bố không tăng
thêm công suất điện than tới 2027

9/2016: Hủy bỏ 15 dự án

13.000MW điện than tạm ngừng xây dựng do
các tổ chức tài chính hạn chế đầu tư cho nhiệt
điện than

10/2016: Dừng các dự án “điện tự dùng nội
tỉnh”

 

11/2016: Kế hoạch Năm năm lần thứ 13, giới
hạn công suất điện than ở mức 1.100.000MW

 

1/2017: hủy bỏ 85 nhà máy đang trong quy
hoạch và xây dựng tại 13 tỉnh

 

 

Tháng 4 năm 2017, từ báo cáo “Global Shift: Countries and Subnational Entities Phasing Out Existing Coal Power Plants and Shrinking the Proposed Coal Power Pipeline17, GreenID đã tổng hợp được danh sách 22 quốc gia và khu vực bao gồm:

● Áo (2025)
● Bắc Kinh (2017)
● Bỉ (2016)
● California (2014)
● Canada (2030)
● Connecticut (2021)
● Phần Lan (2030)
● Pháp (2023)

● Đức (2050)
● Hawaii (2022)
● Massachusetts (2017)
● Hà Lan (2025)
● New York (2020)
● New Zealand (2022)
● Ontario (2014)
● Oregon (2020)

● Bồ Đào Nha (2030)
● Scotland (2016)
● Thụy Điển (2030)
● Vương Quốc Anh
(2025)
● Washington (2025)
● New Mexico (2031)

Trong đó, chưa có Việt Nam.

Ngay cả khi tình trạng ô nhiễm đạt ngưỡng đáng báo động, thì báo chí Việt Nam vẫn đổ lỗi hoàn toàn do các nguyên nhân ít quan trọng hơn: Lưu lượng xe cộ lớn, hướng gió, thói quen sử dụng bếp than… Không thể phủ nhận những nguyên nhân ấy, nhưng nguyên nhân trầm trọng khó chối cãi hơn, đó là ảnh hưởng gây hại của các khối khí thải từ nhà máy nhiệt điện than.

Hãy nghĩ xem, lỗi là “do dân”, vì lưu lượng xe cộ hay bếp than – những hoạt động hàng ngày, tại sao tình trạng ô nhiễm lại có lúc nghiêm trọng, lúc an toàn. Khối khí ô nhiễm kéo một dải ven biển đông bắc và chính đông, nơi tập trung nhiều nhà máy nhiệt điện than về Hà Nội. Một điểm đáng lưu ý đó là Hà Nội không phải nơi duy nhất bị ô nhiễm trên bản đồ, mà ở các khu vực ít lưu lượng xe cộ hơn ở đồng bằng Bắc Bộ cũng gặp phải tình trạng ô nhiễm trầm trọng.

Các quan chức trong ban ngành liên quan đến vấn đề giám sát mức độ ô nhiễm dường như ngần ngại để bàn về nhiệt điện than, vì nhiệt điện than vẫn đóng vai trò không thể thiếu trong cung cấp điện tại Việt Nam. Bằng chứng là vẫn có nhiều nguồn vốn đầu tư cho nhiệt điện than, đặc biệt là từ các doanh nghiệp Trung Quốc, và Việt Nam vẫn chưa tìm được nguồn điện thay thế. Các giải pháp điện năng lượng hạt nhân hay điện mặt trời đang đòi hỏi các yếu tố mà Việt Nam chưa thể đảm bảo, bao gồm nhân sự có trình độ kỹ thuật cao, cơ sở hạ tầng có công nghệ tiên tiến, một cơ chế giám sát chất lượng chặt chẽ… Và so với những khoản đầu tư ấy, đầu tư và nhiệt điện than cũng khá rẻ về chi phí, dù cái giá cho tương lai lại rất đắt. Như vậy, nhiệt điện than  hiện đang là giải pháp bất đắc dĩ mà Việt Nam phải sử dụng, sẵn sàng đánh đổi môi trường và sức khỏe của người dân để lấy nguồn điện phục vụ những nhu cầu dân sinh, sản xuất công nghiệp, vận hành dịch vụ và các cơ quan quản trị…

DANH SÁCH NHỮNG NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN CHUẨN BỊ ĐƯỢC HOẠT ĐỘNG NẰM TRONG KHU VỰC ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

Dữ liệu lấy từ Coal Tracker và Báo cáo 58/BC-CBT của Bộ Công Thương 2019.

STT Nhà máy Đơn vị chủ quản Địa điểm Tình trạng
1 Nhiệt điện An Khánh – Bắc Giang Công ty cổ phần Nhiệt điện An Khánh – Bắc Giang Bắc Giang Đã cấp giấy phép
2 Nhiệt điện Đồng phát Hải Hà 1-4 Công ty TNHH Khu công nghiệp Texhong Việt Nam Quảng Ninh Giấy phép trước
3 Hải Dương JAKS Resources, Tập đoàn Điện lực Trung Quốc Hải Dương Xây dựng
4 Nam Định-1 Công ty Cổ phần Tae Kwang Vina Industrial, First National Operation & Maintenance Co. (NOMAC) Nam Định Được cấp phép
5 Nhiệt điện Quảng Ninh-3 Chưa có nhà đầu tư Quảng Ninh Thông báo
6 Thái Bình-2 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Thái Bình Xây dựng
7 Thái Bình – 3 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Thái Bình Thông báo

Thế thì giải pháp ở đâu?

Chấp nhận thực tế rằng các nhà máy nhiệt điện than không thể ngay lập tức đóng cửa, thế thì cũng phải chấp nhận thực tế rằng chúng có thể gây ô nhiễm trầm trọng tới môi trường sống của người dân. Nhưng một cơ chế giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch và độc lập về lượng xả thải ra môi trường của các nhà máy này cần được thực hiện bởi các tổ chức quốc tế, không chịu sự chi phối của chính quyền và các tập đoàn. Song song với quá trình đó, sẽ phải là sự chuẩn bị cơ sở vững chắc cho năng lượng sạch vì một tương lai tốt đẹp hơn.

Trên con đường tiến đến tương lai ấy, những người dân thường như chúng ta chỉ có thể cố sinh tồn, bằng cách tránh những khu vực ô nhiễm càng xa càng tốt. Giảm lưu thông trên đường có thể cũng là một giải pháp, nhưng không phải để giúp ô trường khỏi ô nhiễm, mà là để bảo vệ chúng ta khỏi ô nhiễm. Tức là, cơ chế lao động cũng cần phải thay đổi. Làm việc online, có thể là một giải pháp để bảo vệ người lao động chăng?

Một điều đáng buồn, đó là, khi tôi viết bài này, tôi đang là một phần của tình trạng ô nhiễm. Toàn bộ điện tôi sử dụng để sạc pin máy tính, wifi, máy điều hòa… đều đến từ chính những tài nguyên thiên nhiên bị tận dụng để sản xuất ra điện, và đến từ những nhà máy đang ngày ngày xả thải ra môi trường những chất độc hại có thể giết các bạn và tôi dần dần. Thế nhưng, tôi lại không thể không nói, vì nếu tôi không nói những điều này thì có lẽ chúng ta sẽ trút hết toàn bộ tội lỗi này lên đầu những người khác, thay vì cho chính chúng ta. Và thế thì sẽ chẳng có gì thay đổi.

Hà Thủy Nguyên 

Lê Duy Nam biên tập