1. Thời gian biểu lộ

Có nhiều cách khác để đảm bảo sự cân bằng trong các tác phẩm Phục Hưng, ngoài việc sử dụng các trục ngang và trục dọc, khung thời gian cũng phải được xét đến nữa. Có một lý do khiến cho cấu trúc theo motif Đức Mẹ và Chúa hài đồng thời Phục Hưng thường mang hình kim tự tháp vững vàng, ổn định: Có một khoảng thời gian ngụ ý – từ vài giây đến vài phút – trong các tác phẩm nghệ thuật Phục Hưng. Tôi không nói về “tính vô thời gian”, trong đó nội dung của nó có thể diễn ra ở bất kỳ thời đại nào, tôi đang nói về độ dài thời gian của chính tác phẩm.

Hiển nhiên là cảnh đóng đinh thập giá gợi ra một khoảng thời gian, thậm chí là nhiều sự kiện riêng rẽ cùng hiện một lúc. Nhưng trong trường hợp motif Đức Mẹ và Chúa hài đồng, chúng ta hãy nhìn cách thể hiện của Da Vinci và Ghirlandaio. Trong bức vẽ của Ghirlandaio, có một sự mơ hồ thú vị về sự trao đổi giữa mẹ và con. Theo một nghĩa nào đó, dường như Đức mẹ đang ngắm nhìn Jesus, và Jesus cũng đáp lại ánh nhìn đó như bất cứ đứa trẻ nào nhìn người mẹ của mình. Thế đứng của Jesus dựa vào mẹ mình để giữ thăng bằng, có thể là một nỗ lực trẻ con của người đứng chưa vững. Ngay cả cử chỉ bàn tay phải của Jesus cũng không đảm bảo được liệu cậu có ngã xuống hay không.

Tuy nhiên, hãy chú ý đến ánh mắt, bạn sẽ nhận ra rằng Jesus không thực sự nhìn vào mắt Mary, mà nhìn xa ra đôi chút. Thế đứng của cậu giống thế đứng của người đang trong một cuộc thảo luận ngẫu nhiên và sâu sắc, cử chỉ ở bàn tay phải có thể được xem như chỉ tới tương lai trên thiên đường hoặc đưa ra lập luận phản đối – gần giống như Chúa khi còn nhỏ, vẫn có tất cả các khả năng cho bài diễn thuyết thông minh của một người trưởng thành. Nếu nhìn kỹ hơn, sẽ thấy Đức Mẹ không thực sự nhìn vào Chúa hài đồng, mà nhìn xuống bên trái Jesus (theo hướng của bà), và bà biểu lộ nỗi buồn, dường như đang thấy nỗi kinh hoàng trong cái chết treo trên thập giá của người con đầu. Tuy nhiên, bạn nhìn vào bức tranh, có thời gian kéo dài trong tư thế đó. Đức mẹ có thể tiếp tục đứng như thế hàng giờ, và Chúa hài đồng cũng vậy.

         

The Virgin and Child của Domenico Ghirlandaio (1449-1494)          Madonna Litta của Leonardo da Vinci (1452-1519)

Nguyên tắc này vẫn được duy trì trong kiến trúc Phục Hưng nữa. Hãy nhìn vào bức tượng David nổi tiếng của Michelangelo. Chúng ta có ở đây một người thanh niên trẻ trung cao hơn 5 mét với thế đứng rất vững chãi. Chân phải của chàng trụ lại, và là một trục dọc thẳng hoàn toàn, cánh tay phải và thân trên cũng vậy. Bức tượng mô tả David khi anh ta muốn hạ tên khổng lồ Goliath trên chiến trường, và David đang dự tính chiến thuật, hoặc đang chờ Goliath hoàn tất những màn chế giễu. Dù thế nào, tác phẩm điêu khắc này cũng hàm chứa một khoảng thời gian: David có thể duy trì tư thế này suốt một thời gian dài.

Còn có một bức tượng David khác của Donatello, mô tả David sau trận chiến với Goliath. Chân của chàng đặt lên đầu gã khổng lồ, chân còn lại trụ vững chắc bên cạnh thanh kiếm. Có một thái độ dứt khoát thể hiện trong tác phẩm điêu khác, nhưng một lần nữa, đó không phải là một khoảnh khắc chớp lấy, mà là một tư thế được duy trì.

David II (1501-04) của Michelangelo (1475-1564)

David (1430-1440) của Donatello (c.1386-1466)

Cùng một kiểu, hãy xem biểu cảm khuôn mặt của hai bức tượng. Có những cảm xúc ở cả hai bức tượng, có những sự thấu hiểu tư duy rõ ràng được truyền đến cho người xem, nhưng lại không có sự biến đổi mạnh mẽ rõ ràng về cơ mặt ở cả hai bức tượng. Một lần nữa, không có lý do nào khiến sự biểu hiện cảm xúc này không diễn ra trong một khoảng thời gian dài.

      Khuôn mặt David trong tượng của Michelangelo                           Khuôn mặt David trong tượng  của Donatello

Trong một tương phản rõ rệt với những biểu cảm trong tác phẩm phía trên, hãy nhìn vào khuôn mặt của David trong bức tượng dưới đây của Giovanni Bernini, một điêu khắc gia người Ý thời Baroque, tác phẩm của ông mô tả khoảnh khắc David tấn công Goliath. Trên khuôn mặt chàng là biểu lộ thoáng qua của nỗ lực, quyết tâm và sự tập trung hoàn toàn của người có kỹ năng được rèn luyện tốt. Điều cần chú ý là, bức tượng này là một khoảnh khắc được cắt ra, một chớp ảnh của hành động.

Mặt David trong tượng của Birnini

Bởi vì đó là tác phẩm điêu khắc chứ không phải bức tranh, chúng ta phải làm việc với những khối hình nhiều hơn đường nét, nhưng góc độ ấy cũng áp dụng cho hội họa thì cũng được thấy trong điêu khắc Baroque; các đường cung giao nhau tạo cho tác phẩm điêu khắc Baroque thêm nhiều động lực chuyển động như trong những bức tranh, và ở cả hai trường hợp, chúng ta đều gặp sự kịch tính dữ dội của một khoảnh khắc thời gian. Tượng David của Bernini không thể nào duy trì tư thế ấy nhiều hơn một thoáng khoảnh khắc mong manh vụt mất trước mắt.

 David (1623-24) của Bernini (1598-1680)

  1. Hậu cảnh

Phần cuối của bài viết này sẽ đề cập nhiều hơn đến từ khóa của phong trào Baroque thay vì phong trào Phục Hưng, bởi chúng ta sẽ thảo luận đến nền của các bức tranh, thứ vốn làm nên sự kịch tính ở tranh Baroque hơn là đóng góp vào sự cân bằng tĩnh tại trong tác phẩm Phục Hưng. Mặc dù vậy, có một sự tương phản rõ rệt giữa hai thứ này, và chúng ta có thể khám phá.

 Ở thời kỳ Phục Hưng, hậu cảnh luôn là các phần được phát triển hoàn thiện ở bức tranh. Đó có thể là những cảnh nền ở chân trời, hoặc hậu cảnh căn phòng, quan trọng là chúng được vẽ tỉ mỉ một cách đáng ngạc nhiên. Như vậy, chúng không đóng góp nhiều vào sự cân bằng tĩnh tại, mà tạo thêm chiều kích cho sự hoàn thiện. Chẳng hạn, hãy nhìn bức họa “Mona Lisa” nổi tiếng của Leonardo: bức chân dung một phụ nữ trẻ dựa ban công với cảnh nền tưởng tượng xa xôi. Bạn vẫn thấy đường ngang và dọc trong những phần nhìn thấy được của cái ban công, và ở chân trời nữa. Bạn có một khoảng thời gian rõ rệt. Nói cho cùng, một người có thể ngồi thoải mái cạnh một ban công đẹp đẽ trong bao lâu? Và bạn có một hậu cảnh hoàn chỉnh vời đầy những hiệu ứng hòa màu mờ ảo kiểu Vinci (tạo ra những hiệu ứng mơ hồ bằng cách làm màu hòa trộn dần dần vào nhau). “Mona Lisa” có tất cả tinh hoa mà mà một họa phẩm Phục Hưng tuyệt vời nhất nên có.

Mona Lisa Gioconda (Bảo tàng Prado, Tây Ban Nha)

Ngược lại, trong tác phẩm Baroque, nền tranh được xem như không quan trọng, chúng thường được phủ đen. Thi thoảng ở các tranh chân dung, bạn sẽ thấy các nghệ sĩ Phục Hưng cũng sử dụng hướng tiếp cận này, nhưng khá hiếm khi. Còn nghệ sĩ thời Baroque thì thường sử dụng cách đó để nhấn mạnh vào sự kịch tính của bức tranh. Một lần nữa, để hiểu hiệu ứng này, hãy cùng nhìn vào một ví dụ: tác phẩm phi thường của Bev Doolittle với tên “Unknown Presence”. Trên tấm tranh trải ngang, hơn một nửa bị che trong bóng tối. Chủ thể của bức tranh, một lữ khách đơn độc thế kỷ 19 và con ngựa của anh ta đang ngước lên cảnh giác bên cạnh ngọn lửa. Sự chú ý của người lẫn ngựa hướng cả về phía nửa bóng tối một cách đầy kịch tính. Họ thể hiện những cảm xúc ngạc nhiên, cảnh giác, thận trọng, và dường như cả một chút sợ hãi, khi người lữ khách đang với tay đến phía khẩu súng.

Unknown Presence (1981) by Bev Doolittle

Bóng tối trong bức tranh này không hề là thứ kém quan trọng. Điều không quan trọng chính là thứ đã thu hút sự chú tâm cảnh giác của người lữ khách và con ngựa của anh ta, khiến họ bộc lộ cảm xúc như vậy. Bóng tối mang lại sự kịch tính cho người xem, mang cho họ đích xác những gì nhân vật trong tranh đang cảm nhận. Chúng ta thấy người lữ khách hướng mắt về phía bóng tối, và rồi chúng ta cũng vậy. Chúng ta liếc mắt rồi cố tập trung vào khoảng đen mù mịt, giống như cách người lữ khách làm trong bóng tối, cố gắng tìm ra chút gợi ý mờ nhạt nhất về những gì đang nằm ở đó. Bóng tối ở đây hoàn toàn không có nghĩa là “không có gì cả”.

 Đó là ví dụ điển hình cho cách sử dụng tuyệt vời của phong cách “tenebrism”[1], phụ thuộc vào việc bạn muốn tập trung vào bóng tối, hay tập trung vào sự tương phản của vùng sáng so với mảng tối. Nó cũng thường được biết đến như là “sự soi sáng kịch tính” (dramatic illumination), và được tạo ra bởi cách sử dụng những chất tối màu, không nhất thiết phải là màu đen, và sự tương phản cao độ rõ rệt từ một nguồn sáng duy nhất chiếu xuống (chiaroscuro). Các nghệ sĩ Baroque đã sử dụng thủ thuật “tenebrism” này và đạt được hiệu quả lớn trong suốt 150 năm.

Hãy cùng xem xét phiên bản “Promehteus Bound” của Peter Paul Rubens, ở đó mảng tối tương phản đã nhấn sâu lưng con đại bàng vào sự diệt vong. Hãy nhìn bức “Raising of the Cross”, có mảng tối ở phía đằng sau đầu Đức Chúa. Ở đó bóng tối đậm đặc tới nỗi người đàn ông giúp nâng thập giá như thể xuất hiện từ hư không. Gần như tất cả nền tranh trong bức “Raising of the Cross” của Rembrandt đều là bóng tối. “Tenebrism” có thể sử dụng tạo ra cảm giác ảm đạm hoang vu, hoặc nhấn mạnh đến sự kích tính của hành động xuất hiện trong khoảnh khắc dưới nguồn sáng.

Prometheus Bound (1612) của Peter Paul Rubens (1577-1640)

Raising of the Cross (1610-1611) của P.P Rubens (1577-1640)           Raising of the Cross (1633) của Rembrandt (1606-1669)

KẾT LUẬN

Còn nhiều điều nữa tôi có thể đề cập về chủ đề này: những khác biệt trong cách sử dụng nét vẽ, những chủ đề và lĩnh vực trong các tác phẩm Baroque trở nên rộng rãi hơn, hay sự dồi dào về những ẩn ý Hy La trong các tác phẩm thời Phục Hưng… nhưng đến đây bạn cũng đã có đủ nhận thức để bắt đầu những khám phá của riêng mình về hai thời đại, hai phong cách này. Hai từ khóa “cân bằng” (stabilize) và “kịch tính” (dramatize) tương ứng của thời Phục Hưng và Baroque, và cách họ tạo lập ý tưởng ấy lên những tác phẩm sẽ được nhìn thấy trong các tác phẩm khác mà bạn tìm hiểu. Chúng ta dễ dàng tìm ra các trục ngang và dọc trong tác phẩm Phục Hưng, và cũng sẽ thấy những định hướng góc cạnh cao độ ở tác phẩm Baroque. Chúng ta cũng sẽ thấy sự tương phản rõ ràng giữa thời gian tĩnh tại trong tác phẩm Phục Hưng và những khoảnh khắc được chớp lấy trong tác phẩm Baroque. Giờ đây, hãy khảo sát các phong cách và nhận ra những điểm khác biệt cho chính bản thân mình.

 

Bài tập nhỏ:

Dưới đây chúng ta có 10 bức tranh, một số theo phong cách Phục Hưng, một số theo phong cách Baroque. Không nhất thiết là có 5 cái mỗi loại đâu. Chúng đều đã được đánh số, và thử thách đặt ra cho bạn là hãy phân loại chúng, không chỉ để xem bạn nắm được bao nhiêu từ bài viết này, mà còn để xem cách trình bày vấn đề của tôi đã đủ rõ ràng chưa. Một số bức dưới đây sẽ khá phức tạp. Hãy ghi kết quả của bạn ra giấy, rồi so sánh với đáp án, sau đó cho chúng tôi biết điểm số và cảm nhận của bạn để tôi có thể làm bài viết trở nên rõ ràng hơn.

 1. 

        

2.

3.

4.

5.

6.

7.

8.

9.

10.

 

Đáp án

1. Baroque: “Christ in the Storm on the Lake of Galilee” (1633) của Rembrandt (1606-1669)

2. Baroque: “Crucifixion of St. Peter” (1600) của Caravaggio (1571-1610)

3. Renaissance: “Pieta Bandini” (1547) của Michelangelo (1475-1564)

4. Renaissance: “La Belle Jardinière” (1507) của Raphael (1483-1520)

5. Renaissance: “Portrait of a Cardinal” (1510) của Raphael (1483 -1520)

6. Baroque: “The Calling of St Matthew” (1600) của Caravaggio (1571-1610)

7. Baroque: “The Man With the Golden Helmet” (c. 1650) của Rembrandt (1606-1669)

8. Baroque: “The Ecstasy of Saint Theresa của Bernini” (1598-1680)

9. Renaissance: “The School of Athens” (1509-1511) củaRaphael (1483-1520)

10. Renaissance: “Venus and Mars” (1483) của Boticelli (1445-1510)

 

Tác giả Apple Juice from artsartistsartwork.com

Minh Hùng dịch

Bài gốc: https://artsartistsartwork.com/renaissance-art-vs-baroque-art-understanding-the-difference/

[1] tranh nền tối chỉ có một nguồn sáng tạo sự tương phản – người dịch

Tốt nghiệp khoa Báo chí, Học viện Báo chí Tuyên truyền. Sách đã dịch: Nghệ thuật và Thợ…