Mảnh ghép cuối cùng của bức tranh xếp hình, đương nhiên rồi, chính là các nhà làm phim Việt Nam. Xem xét về cả kỹ năng và kinh nghiệm, cộng đồng này cực kỳ đa dạng. Phạm vi của báo cáo này chỉ có thể xem xét đến những gương mặt đang hành nghề hoặc mong muốn được làm việc với tư cách là đạo diễn phim điện ảnh. Ở điều kiện hiện tại của ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam, trong tất cả các thành phần chủ chốt, các đạo diễn thường có tiếng nói yếu nhất, dễ bị bỏ qua nhất. Quyền ra quyết định chủ yếu nằm trong tay của các nhà sản xuất, nhà đầu tư, ngay cả các chuyên gia marketing hay chuyên gia truyền thông quảng bá cũng có nhiều tiếng nói hơn chứ chưa cần phải xét đến các nhà phát hành đầy quyền lực như CJ hay Lotte. Không ít lần, những người lãnh đạo dự án phim thậm chí còn tin rằng họ chẳng cần đến một đạo diễn thực thụ. Nhưng dù sao thì các đạo diễn Việt Nam vẫn phải chịu một phần trách nhiệm rất lớn khi vẫn còn có quá nhiều phim chất lượng kém. Làm sao có thể có phim hay khi đạo diễn không đủ tài năng hay đủ đam mê với dự án của mình? Ở phần trước, chúng tôi đã nhắc đến định kiến là đạo diễn Việt Nam không có tài và không được đào tạo bài bản bằng các đồng nghiệp ngoại quốc. Trên thực tế, cũng không có ai dám khẳng định rằng định kiến kể trên là không đúng hoàn toàn. Tài năng về điện ảnh hầu như không có cơ hội nảy mầm trước khi thị trường điện ảnh Việt hồi sinh. Bởi thế, việc phát triển nhân tài sẽ phải mất một khoảng thời gian nhất định mới bắt kịp được với tốc độ phát triển của cơ sở hạ tầng. Nói như vậy, định kiến về giới đạo diễn trong nước có thể xác đáng đến mức độ nào ở thời điểm này?

Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế cả nước, ngành công nghiệp truyền thông và nội dụng cũng có những bước phát triển nhanh trong những năm gần đây. Tham gia vào lực lượng lao động ở đúng thời điểm, rất nhiều thanh niên Việt Nam sinh ra trong thập niên 1990 đang làm việc trong các mảng video ca nhạc, phim quảng cáo, web series và nhiều loại nội dung trực tuyến khác. Môi trường làm việc trong các lĩnh vực này khá tương đồng với làm phim. Điều đó giúp cho những người trẻ này tích lũy được khá nhiều kỹ năng và kinh nghiệm trong môi trường chuyên nghiệp. Hơn nữa, với lợi thế của tuổi trẻ, họ nhanh chóng nắm bắt được cách sử dụng các công nghệ mới, những công cụ giúp cho việc sản xuất các sản phẩm truyền thông hình ảnh dễ dàng hơn rất nhiều so với trước đây. Có vài người trong số họ thậm chí đã giành được tên tuổi nhất định trong lĩnh vực của mình và nhận được thù lao cao cho mỗi dự án mà họ tham gia. Không có gì ngạc nhiên khi nhiều đạo diễn thuộc thế hệ này muốn nâng tầm bản thân hơn và làm phim điện ảnh là mục tiêu mà họ nhắm đến. Các nhà sản xuất cũng sẵn sàng tạo cơ hội làm phim cho các đạo diễn được đánh giá cao trong mảng quảng cáo và video ca nhạc. Kết quả là, một số đạo diễn trẻ đã có phim đầu tay trình làng trong hai năm qua.

Tuy vậy, đáng tiếc rằng họ chưa để lại được dấu ấn cụ thể, dù cho nhận được rất nhiều kỳ vọng từ những người trong nghề. Có thể nói nhiệt huyết của các đạo diễn trẻ này là rất lớn, nhưng đa phần tỏ ra chưa sẵn sàng để làm đạo diễn phim. Tuy việc thực hiện phim quảng cáo (hay video ca nhạc) và việc làm phim điện ảnh có nhiều tương đồng, hai mảng này vẫn có những điểm khác biệt lớn, đồng thời với đó là những đòi hỏi khác biệt về kỹ năng của người đạo diễn. Các đạo diễn trẻ giỏi làm quảng cáo là những người có thẩm mỹ thị giác rất tốt, nhưng lại thiếu các phương pháp để xử lý các câu chuyện một cách hiệu quả, trong khi đây là yêu cầu cốt lõi của mảng điện ảnh. Trong thế hệ này, Luk Vân là cái tên năng động nhất khi cho đến lúc này đã có tới ba bộ phim được ra rạp. Chị vốn thành danh như là một đạo diễn mát tay trong mảng web series, đã thu về nhiều triệu lượt xem trên Youtube. Tuy nhiên, cả ba phim chiếu rạp của chị lại không đạt được thành công nào, cả về doanh thu lẫn nghệ thuật khi chúng tỏ ra là những phiên bản cô đọng của một web series nào đó, hơn là những tác phẩm điện ảnh đạt chuẩn. Kawaii Tuấn Anh là một đạo diễn nổi tiếng về làm video ca nhạc cho các ca sĩ tên tuổi nhất. Trong năm 2018, anh cũng trình làng bộ phim Em Gái Mưa, phiên bản điện ảnh của video ca nhạc có tới hơn 128 triệu lượt xem. Nhưng dù được nhận được nhiều quan tâm ban đầu, cuối cùng bộ phim bị phê bình về nhiều mặt và cũng không thể đạt một kết quả kinh doanh khả quan. Ngoài ra, năm 2018 cũng chào đón ba gương mặt mới toanh, nhưng trong số họ chỉ có nữ đạo diễn Cao Thúy Nhi là thực sự chứng tỏ được khả năng qua bộ phim Nhắm Mắt Thấy Mùa Hè. Hai người còn lại, dù rất cố gắng để trở nên khách biệt, hai phim Trường Học Bá Vương của Duy Joseph và Ống Kính Sát Nhân của Nguyễn Hữu Hoàng chỉ cho thấy rằng các đạo diễn trẻ này còn rất nhiều điều phải rút kinh nghiệm trước khi làm bộ phim kế tiếp. Các gương mặt nêu trên đều là những gương mặt có triển vọng, nhưng tại sao họ lại cùng thất bại và theo một cách khá giống nhau?

Gốc rễ của vấn đề nằm ở hai trường Đại học Sân khấu Điện Ảnh ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đây là hai trường phim duy nhất ở Việt Nam có thể cấp bằng cử nhân, và đã có hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp ở các chuyên ngành như đạo diễn hay biên kịch từ đây. Có điều, giữa hàng ngàn cử nhân với rất nhiều người có tiềm năng, ngành công nghiệp điện ảnh lại rơi vào cảnh đốt đuốc giữa ban ngày cũng không mấy khi tìm thấy được một biên kịch đủ khả năng hay một đạo diễn tốt. Rõ ràng là việc cải cách hai trường phim này là rất cấp bách. Nhà trường cần phải cập nhật chương trình đào tạo với những phương pháp hiện đại, có giá trị thực tiễn, hơn là ép sinh viên học những môn học cao siêu mà không thiết thực. Quan trọng nhất là, trước khi trở thành những nghệ sĩ điện ảnh, sinh viên phải được trang bị những kỹ năng chuyên nghiệp của một người làm việc trong một ngành công nghiệp làm phim hiện đại. Để làm được điều đó chắc chắn không đơn giản khi mà không chỉ chương trình đạo tạo mà cả đội ngũ đào tạo cũng phải cải thiện chính mình để tiệm cận dần với tiêu chuẩn quốc tế. Mặt khác, Nhà nước cũng nên khuyến khích các tổ chức tư nhân và các cá nhân trong ngành tham gia tích cực hơn vào công tác đào tạo nghề. Mô hình của Học Viện Hàn Quốc Về Các Nghệ Thuật Ngành Phim (Korean Academy of Film Arts – KAFA) có thể là một hình mẫu cho một dạng trường phim mới tại Việt Nam, không nhất thiết phải cấp được bằng cử nhân nhưng đem lại cho người học một quá trình đào tạo chuyên môn có hiệu quả và có ý nghĩa. Tuy nhiên, bản thân là các nghệ sĩ tương lai, mỗi nhà làm phim trẻ phải có ý thức không ngừng rèn luyện, học tập vươn xa hơn giới hạn của trường phim. Cuối cùng thì việc bạn học ở đâu không quan trọng và chỉ có chính bạn mới có thể quyết định bạn đi được bao xa trong sự nghiệp điện ảnh. Hơn bao giờ hết, điện ảnh Việt Nam cần những nhà làm phim trẻ trung, mạnh mẽ để tiếp nhận ngọn cờ xung phong vào tương lai.

Ở đầu kia của thang bậc sự nghiệp, là những đạo diễn đã khẳng định tài năng, tạo dựng được tên tuổi sau nhiều thành công như Charlie Nguyễn, Phan Gia Nhật Linh, Nguyễn Quang Dũng, vv… Nhưng có lẽ Victor Vũ là cái tên nổi bật nhất. Sinh năm 1975 ở Nam California, Victor đã làm tới 12 phim điện ảnh tại Việt Nam kể từ 2008. Trong thập niên vừa qua, anh ghi tên mình là đạo diễn của tới 7 cú hit phòng vé. Ngay từ Chuyện Tình Xa Xứ (2009), anh đã làm khán giả ấn tượng bởi phong cách làm phim kiểu Mỹ rất chỉn chu và hiện đại. Đến nay, là đạo diễn nổi tiếng số một tại Việt Nam, phim của anh luôn được khán giả coi như là chuẩn mực về chất lượng sản xuất và họ luôn luôn tin tưởng chờ đợi các xuất phẩm của Victor Vũ. Anh khẳng định mình là một người kể chuyện xuất sắc khi tạo ra những loạt tình tiết thông minh và những cú lật bàn bất ngờ trong các tác phẩm thể loại Giật Gân như Giao Lộ Định Mệnh (2010), Scandal (2012), Scandal: Bí Mật Thảm Đỏ (2014) hay Quả Tim Máu (2014). Những bộ phim này đều cực kỳ thành công và đã từng giữ kỷ lục doanh thu phòng vé trong một khoảng thời gian dài. Ngay cả khi có một vài phim không được thành công thì danh tiếng của đạo diễn số một của anh vẫn không hề suy giảm. Victor cũng tỏ ra là anh không tự hài lòng quá sớm với những gì đã đạt được và anh muốn đột phá ra ngoài thể loại Giật Gân làm nên thương hiệu của mình. Cho tới nay, Thiên Mệnh Anh Hùng (2012), Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh (2015) và Mắt Biếc (2019) là những thực nghiệm thành công, xứng đáng được khen ngợi của anh ở những thể loại khác như Hành Động Võ Thuật hay Bi Kịch.

Tuy vậy, ý kiến của công chúng về hai phim gần đây của anh là Lôi Báo (2017) và Người Bất Tử (2018) lại không quá tích cực. Người Bất Tử là bộ phim được chờ đợi nhất 2018 và với kinh phí xấp xỉ 40 tỷ, đó là một trong những phim Việt có kính phí cao nhất từng được sản xuất. Vậy nhưng, tuy có giá trị về mặt sản xuất cực cao cộng với một chiến dịch quảng bá khổng lồ, bộ phim đinh của năm này đã không thể đạt điểm hòa vốn. Điều đáng tiếc ở đây là Victor đã lặp lại sai lầm của Lôi Báo, đó là một kịch bản yếu. Mặc dù ý tưởng ban đầu của kịch bản cực kỳ thú vị, tuy nhiên rõ ràng là anh lại dành quá ít thời gian cho việc xây dựng nhân vật. Kết quả là câu chuyện phim chỉ thuần túy là các tình tiết, không có nhân vật nào có chiều sâu. Mặt khác, cấu trúc phim cũng có vấn đề và rất khó theo dõi. Khán giả không biết phải quan tâm đến nhân vật nào hay đi theo tuyến chuyện nào là chính. Chính vì như vậy mà buồn thay, Người Bất Tử bị coi là thất bại đáng thất vọng nhất của Victor Vũ. Với một khoản kinh phí đủ để sản xuất ít nhất ba phim cỡ trung bình, doanh thu của phim cũng làm nhiều nhà đầu tư chùn bước khi chuẩn bị tham gia vào thị trường. Là một bộ phim có yếu tố Giật Gân của một đạo diễn thành công nhất trong thể loại, nó cũng làm các nhà sản xuất Việt Nam thêm phần dè chừng về dòng phim này. Hệ quả là có một vài dự án phim Giật Gân đã phải tạm ngưng để nghe ngóng. Rất may là với những kết quả khả quan của một số phim trong nửa cuối 2019, thể loại này có lẽ sẽ không không rơi vào cảnh bị bỏ rơi nữa. Tuy vậy, là một ngọn cờ đầu có sức ảnh hưởng rất lớn trong ngành, mỗi một quyết định của Victor cũng sẽ có tác động không nhỏ đến các nhà làm phim khác mà ngay bản thân anh cũng không ngờ được. Chính vì vậy, cộng đồng làm phim đều hi vọng rằng Victor Vũ sẽ cẩn trọng hơn ở những cuộc chinh phục mới trong tương lai.

Nhưng hòa sắc trong bức chân dung các nhà làm phim Việt Nam cũng không chỉ toàn là mầu xám. Nhất định phải nhắc đến Song Lang, bộ phim đầu tay tuyệt vời của đạo diễn Việt Kiều Leon Quang Lê, trình làng cuối năm 2018. Mặc dù bộ phim này không thành công về mặt doanh thu, hoàn toàn không có gì quá đáng khi xếp nó là một trong những phim Việt Nam hay nhất của thập kỷ này. Tựa phim được đặt hết sức khéo léo, khi vừa có thể hiểu là nhạc cụ gõ đặc trưng của nghệ thuật Cải Lương, vừa có thể hiểu với nghĩa là hai chàng trai trẻ. Dù hiểu theo nghĩa nào thì tựa phim này cũng hàm chứa trọn vẹn những yếu tố cốt yếu nhất của bộ phim: một câu chuyện vừa đẹp vừa buồn man mác về hai chàng trai, những người mà số mệnh gắn bó với Cải Lương. Xảy ra vào thập niên 80, thời kỳ vàng son của Cải Lương, câu chuyện bắt đầu với Dũng “Thiên Lôi”, một gã du côn chuyên đi đòi nợ cho một bà trùm cho vay nặng lãi. Ở một nơi khác trong thành phố, Linh Phụng, ngôi sao của một đoàn Cải Lương, thì đang gặp khó trong việc thể hiện hết nội tâm của vai diễn Trọng Thủy bởi vì anh chưa từng yêu ai. Khi Dũng tìm đến đoàn hát để đòi nợ, hai người xảy ra một chút va chạm. Tuy vậy, sau một sự tình cờ, hai anh chàng lại có một đêm rong chơi với nhau và hình thành nên một mối tâm giao không ngờ nhưng thực sự sâu sắc. Và thông qua việc hiểu bạn mình, mỗi người lại tự khám phá ra ý nghĩa cho cuộc đời riêng và cuối cùng có thể chấp nhận con người thật của mình.

Lấy âm nhạc truyền thống làm nền, hình ảnh của bộ phim cũng được quay tuyệt đẹp nhờ tài năng của nhà quay phim trẻ Bob Nguyễn, phủ lên câu chuyện đầy chất thơ này một tông vàng u sầu, đầy hoài niệm. Bên cạnh đó, hai diễn viên chính cũng có màn thể hiện tuyệt vời, đặc biệt là ca sĩ Isaac, người đã có vai diễn điện ảnh xuất sắc nhất cho đến thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, đạo diễn Leon Lê là người xứng đáng nhận nhiều lời khen nhất. Với một phong cách dàn cảnh rất bản lĩnh và chắc tay, anh thể hiện mình đã sẵn có khả năng của một nhà làm phim tầm cỡ thông qua việc điều khiển hết sức tinh tế các ngôn ngữ máy quay, các nhân vật, nhịp điệu và cả không khí quyến rũ của Song Lang. Để chuẩn bị cho bộ phim, anh đã bỏ ra vài năm để nghiên cứu và trải nghiệm thế giới Cải Lương. Anh theo học cách chơi các nhạc cụ cổ với các nghệ nhân, đạt đến trình độ để có thể được coi là một soạn giả Cải Lương. Bản Cải Lương được hai nhân vật chính song tấu ở giữa phim là do chính đạo diễn viết. Vốn là một nghệ sĩ múa Broadway (New York), không có gì ngạc nhiên khi nhà làm phim 42 tuổi này lại dạt dào cảm hứng đến thế với một môn nghệ thuật trình diễn có nhiều điểm tương đồng của dân tộc mình.

Đáng tiếc là phía nhà sản xuất đã tính sai chiến lược truyền thông quảng bá cho bộ phim và cuối cùng phản tác dụng, điều này khiến cho bộ phim không đạt được một kết quả phòng vé khả quan hơn. Mặc dù cũng có thể coi là một bộ phim có yếu tố đồng tính, Song Lang thực sự không chú trọng mô tả bất kỳ mối quan hệ mang tính thể xác nào giữa hai nhân vật chính. Có chăng, Leon Lê chỉ muốn chạm lướt đến nó thông qua những cảm xúc tinh tế của Linh Phụng, và chỉ tới đó thôi. Tuy nhiên, nhà sản xuất Ngô Thanh Vân lại quyết định sử dụng một chiến lược marketing mang tính đánh lạc hướng khi giới thiệu Song Lang như là một phim có rất nhiều yếu tố đam mỹ, nhục dục. Thay vì hấp dẫn được những khán giả tò mò, chiến lược này đẩy bộ phim vào một thị trường ngách khá nhỏ hẹp của phim đồng tính. Hơn nữa, nó còn làm cho đại bộ phận khán giả hiểu lầm và cho rằng bộ phim này có nội dung dung tục. Quá buồn vì điều này, Leon Lê đã chỉ trích cách truyền thông của Ngô Thanh Vân trên mặt báo và mối quan hệ cộng tác của họ khó tránh khỏi bị tổn thương ít nhiều. Nhưng dù sao thì chất lượng của bộ phim vẫn được giới chuyên môn thừa nhận rộng rãi và tất cả đều rất mong chờ dự án tiếp theo của nhà làm phim tài năng này.

Trong một hoàn cảnh phải nói là còn rất khó khăn cho phim độc lập như nước ta, thật sự là rất cảm động khi có một bộ phim như thế đã thu được tới 16 tỷ khi chiếu rạp: Nhắm Mắt Thấy Mùa Hè, đạo diễn bởi Cao Thúy Nhi. Câu chuyện làm thế nào bộ phim này được sản xuất và ra được tới rạp chiếu, tự thân nó cũng là một hành trình cảm động. Khi biết được rằng thị trấn Higashikawa ở Hokkaido có một khoản ngân sách đề tài trợ cho các bộ phim sản xuất tại đây, một nhóm các nhà sản xuất trẻ của Việt Nam đã tụ lại và bắt đầy mơ về một bộ phim quay ở Nhật Bản. Cùng nhau, họ viết ra một kịch bản phim lãng mạn, thành lập một hãng phim nhỏ có cái tên lãng mạn không kém là Soul Catcher để cùng thực hiện dự án mơ mộng này. Đặt mục tiêu làm một phim thương mại có kinh phí thấp, kịch bản của họ gọi được đủ vốn từ các nhà đầu tư trong nước cũng như tài trợ từ Higashikawa. Mặc dù làm được như vậy đã là một thành tích đáng khen ngợi cho một đội ngũ sản xuất trẻ, họ còn thành công trong một việc mà nhiều nhà sản xuất dàn dạn kinh nghiệm hơn thất bại: lựa chọn đúng đạo diễn cho bộ phim. Sinh năm 1989 và hoàn toàn vô danh trước đó, Cao Thúy Nhi đã thành công khi tận dụng được hết cơ hội hiếm có này để khẳng định bản thân. Thông qua bộ phim đầu tay, chị chứng minh rằng mình có một con mắt có nghề trong triển khai các phân cảnh cũng như đủ khả năng xử lý cấu trúc phim một cách chắc chắn.

Chỉ hơi tiếc là, dù cho rất đáng yêu, câu chuyện của Nhắm Mắt Thấy Mùa Hè nhìn chung vẫn là một câu chuyện tình không quá sâu sắc. Đạo diễn cũng chưa nhận ra và khắc phục được một số hạn chế về mặt kể chuyện. Chị cũng chưa hỗ trợ đủ tích cực cho dàn diễn viên để họ có thể nâng câu chuyện này lên bằng cách thêm vào sự tinh tế trong diễn xuất. Là một nghệ sĩ kể chuyện, vẫn còn nhiều khoảng trống để Cao Thúy Nhi trau dồi thêm. Dù vậy, chị vẫn là một đạo diễn trẻ xứng đáng được quan tâm theo dõi trong tương lai. Đồng hành với chị và nhóm Soul Catcher trong hành trình ở Nhật Bản là một đoàn làm phim cũng rất trẻ và đầy nhiệt huyết. Họ đã ở bên nhau ở rất xa quê nhà quen thuộc, quay một bộ phim theo kiểu du kích với chỉ với một xe thiết bị nhỏ. Những nỗ lực này đã trở thành một câu chuyện đầy cảm hứng mà về sau lại cực kỳ hữu ích cho chiến dịch truyền thông của bộ phim. Khán giả trẻ yêu mến tinh thần của họ và tình nguyện hỗ trợ bộ phim, đặc biệt là nữ giới. Khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ của Higashikawa, nơi được mệnh danh là thị trấn nhiếp ảnh, cũng góp phần không nhỏ để quyến rũ thế hệ trẻ vốn yêu thích du lịch. Tất cả các yếu tố đó hợp lại đã làm cho Nhắm Mắt Thấy Mùa Hè trở thành bộ phim độc lập thành công nhất ở Việt Nam cho tới nay. Thậm chí phim đã có thể thành công hơn nếu như các hệ thống rạp CGV và Lotte có lòng hỗ trợ hơn nữa cho một phim kinh phí thấp không do họ phát hành.

Năm 2019 cũng chào đón những phim độc lập mới. Đầu tiên là Thưa Mẹ Con Đi của đạo diễn Trịnh Đình Lê Minh, một bộ phim thực sự có chủ đề về người đồng tính. Câu chuyện của phim bắt đầu khi Văn, một kỹ sư sống ở Mỹ dẫn người bạn trai Việt Kiều tên Ian của mình về nước thăm gia đình. Họ đã sẵn sàng để thông báo về giới tính thật của mình, nhưng mọi sự vẫn thật khó khăn khi Văn phải đối diện với mẹ mình và cả gia đình, những người vẫn còn mang nặng lối suy nghĩ truyền thống của nông thôn miền Tây. Phim không chỉ xoay quanh hai nhân vật chính mà còn kể về cả những người xung quanh họ, do đó nó rất cần và may mắn thay, đã sở hữu một dàn diễn viên đầy thực lực. Nổi bật nhất trong số đó chính là nữ diễn viên gạo cội Hồng Đào trong vai người mẹ. Chị đã hóa thân một cách hoàn hảo vào vai một người phụ nữ Việt Nam mạnh mẽ gánh vác cả gia đình và nhân hậu, thương con hết lòng. Diễn xuất của chị đã cứu lại được màn trình diễn còn có phần non nớt của hai vai nam chính. Nhìn chung bộ phim thực sự chân thành và cảm động, dù phong cách kể chuyện của đạo diễn tương đối giản dị và anh hơi có chút lạc lối trong xử lý về điểm nhìn của khán giả vào câu chuyện. Thưa Mẹ Con Đi khi chuẩn bị công chiếu đã lựa chọn một chiến lược quảng bá thật thà có gì nói nấy, vì vậy nó được cộng đồng LGBT ủng hộ rất nhiệt tình. Dù vậy, cũng như Song Lang, thị trường ngách này chỉ đủ để giúp phim kiếm được phân nửa doanh thu hòa vốn. Dù sao đi nữa, đây cũng là một phim đầu tay chỉnh chu và chắc chắn sẽ mở ra nhiều cơ hội cho Trịnh Đình Lê Minh trong tương lai.

Ra mắt không lâu sau đó là bộ phim độc lập có cái tên rất tinh nghịch Trời Sáng Rồi, Ta Ngủ Đi Thôi. Điểu thú vị là đội ngũ đứng sau nó cũng chính là những gương mặt của Nhắm Mắt Thấy Mùa Hè và lần này họ hỗ trợ đạo diễn Chung Chí Công kể một câu chuyện về hai bạn trẻ tình cờ gặp, la cà cùng nhau trong một ngày ở Sài Gòn, dần dần xích lại gần nhau nhờ vào âm nhạc indie đang rất hợp thời. Có thể nói đây là một bộ phim tri ân cho Before Sunrise (1995) và Once (2009), tái tạo lại nhiều yếu tố nghệ thuật của hai bộ phim nổi tiếng trên. Với một kinh phí rất nhỏ xinh, bộ phim này được kỳ vọng là sẽ trở thành phim độc lập đầu tiên vượt qua mốc hòa vốn và có lợi nhuận. Tiếc thay là phim chưa đủ sức hút cả về dàn diễn viên lẫn nội dung để trở thành một cú hit nhỏ. Câu chuyện lãng đãng này không dày về chiều sâu nội tâm và giàu tính địa phương, vì thế có lẽ không vươn ra xa hơn được một lớp khán giả nhỏ quanh khu vực thành phố Hồ Chí Minh. Tuy vậy nhờ kinh phí rất thấp nên phim cũng không lỗ đồng vốn nào, và có lẽ niềm hạnh phúc lớn nhất của đạo diễn Chung Chí Công chính là biết được có những bạn trẻ đã thành đôi ngoài đời thực sau khi đi xem bộ phim đầu tay dễ thương của anh ngoài rạp chiếu.

Hai bộ phim độc lập kể trên, cùng với bộ phim nghệ thuật đã chiếu trong năm qua là Vợ Ba của đạo diễn Nguyễn Phương Anh, có lẽ chưa thể để lại dấu ấn mạnh mẽ bằng Song Lang hay Nhắm Mắt Thấy Mùa Hè của năm ngoái. Nhưng sự ra đời của chúng chắc chắn vẫn là những tín hiệu vui, dự báo một tương lai trong đó các nhà phim độc lập Việt Nam sẽ năng động hơn và kiên cường đấu tranh hơn với mọi trở lực cho những dự án mộng mơ của mình. Những trở lực, dù đến từ bên trong hay bên ngoài, thì cũng chỉ có thể vượt qua bằng tình yêu thuần khiết dành cho nghệ thuật thứ bảy và một khao khát đem đến cho khán giả Việt Nam những điều có ý nghĩa. Trong năm 2019, phim nghệ thuật như Nhà Cây của Trương Minh Quý đã chu du và nhận nhiều lời khen tại các liên hoan phim quốc tế, hay như Ròm của Trần Thanh Huy thậm chí đã được nhận giải thưởng rất danh giá tại hạng mục New Currents của Liên hoan phim quốc tế Busan, đây là những sự khích lệ rất có ý nghĩa cho các nhà làm phim trẻ của nước ta.

Việt Nam hiện đang có một nền tảng hạ tầng kỹ thuật cho điện ảnh rất tốt và một thị trường đang lên. Nhìn ra châu lục, môi trường của Việt Nam là mơ ước của các nhà làm phim nhiều nước khác và là thứ khiến nhiều nhà đầu tư quốc tế phải quan tâm. Đây là mảnh đất rất màu mỡ mà các tài năng điện ảnh trẻ cần phải nắm bắt, tận dụng để vươn mình mạnh mẽ. Trong những năm tới đây, các nhà làm phim Việt Nam cùng với những xuất phẩm của mình, phải đưa ra cho thế giới những hình ảnh mới mẻ về đất nước và con người Việt Nam. Dù là phim nghệ thuật hay giải trí, thì những tác phẩm ấy cũng phải vẽ ra được những chân dung chân thực, đa chiều về Việt Nam hôm nay. Trong tất cả các thành phần kết cấu cơ bản, các bức tường hay các mặt đứng là nơi phô ra những nét tính cách độc đáo nhất của một công trình kiến trúc. Vậy thì, tính cách riêng biệt hay tiếng nói đặc thù của Việt Nam là gì trong nền điện ảnh thế giới? Có lẽ di sản lớn nhất mà thế hệ làm phim hiện nay có thể để lại chính là một câu trả lời thật rốt ráo cho câu hỏi đó.

KẾT LUẬN

Ở thời điểm hiện tại, ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam vẫn đang phát triển cơ sở hạ tầng với tốc độ rất nhanh. Với nền tảng kỹ thuật có chất lượng và ngày một lớn mạnh, việc sản xuất phim chiếu rạp đang dễ dàng hơn bao giờ hết. Điều đáng suy nghĩ chỉ là liệu chất lượng phim Việt có theo đó mà được nâng cao tương ứng hay không. Vì thế, ở trước mắt ngành điện ảnh Việt Nam có không chỉ một, mà là hai con đường khả thể có thể dẫn tới hai đích đến hoàn toàn trái ngược. Dự đoán lạc quan là ngành công nghiệp này sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ cả về hạ tầng lẫn chất lượng, ngày càng được khán giả Việt Nam ủng hộ nhiều hơn, và có thể sống khỏe mạnh, vững vàng như ngành công nghiệp điện ảnh Hàn Quốc. Dự đoán còn lại thì không được hấp dẫn như thế, đó là Việt Nam sẽ đi theo vết xe đổ của ngành công nghiệp điện ảnh Thái Lan.

Sở hữu một trong những hạ tầng làm phim tốt nhất ở châu Á, Thái Lan đã từng sản xuất được Pee Mak Prakanong (nh Người Duyên Ma, 2013), một bộ phim ăn khách trên toàn châu lục đã thu về 33.825.028 USD. Trong thành tích đó, thị trường nội địa Thái Lan đóng góp 18.161.322 USD, tương đương 53,7%. Năm 2018, một bộ phim đinh khác của Thái Lan là Bad Genius (Thiên Tài Bất Hảo), kiếm được 44.560.421 USD trên toàn thế giới. Tuy nhiên, thị trường nội địa Thái Lan chỉ đóng góp 3.293.703 USD, tương đương có 7,39%. Kết quả đáng thất vọng này tại quê nhà của Bad Genius phản ánh thái độ của khán giả Thái đối với phim Thái đã thay đổi rất nhiều chỉ sau vài năm. Bất kể chất lượng phim ra sao, khán giả Thái dường như không muốn ủng hộ phim nội địa nhiều như trước. Tất nhiên, có rất nhiều lý do đằng sau hiện tượng này, nhưng một phần trách nhiệm không nhỏ phải được quy cho việc đa số các nhà sản xuất Thái Lan đã làm ra quá nhiều những bộ phim một màu và có chất lượng yếu trong những năm gần đây.

Trong lịch sử điện ảnh Việt Nam cũng từng xảy ra hiện tượng tương tự vào thời kỳ phim “mỳ ăn liền”. Đầu những năm 90, phim thương mại được khán giả Việt Nam vô cùng ưa thích. Các ngôi sao điện ảnh thời ấy cũng được đông đảo mọi người yêu mến và có sức ảnh hưởng lớn một cách vô tiền khoáng hậu. Tuy nhiên, vì quá tập trung vào lợi nhuận, các nhà sản xuất có xu hướng làm phim rẻ và nhanh nhất có thể. Khi chất lượng của các bộ phim đi xuống dần, khán giả Việt Nam cuối cùng đã trừng phạt ngành công nghiệp điện ảnh bằng cách hoàn toàn quay lưng với điện ảnh Việt vào cuối thập niên này. Bài học từ quá khứ và kinh nghiệm từ người hàng xóm phải được tất cả các bên của ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam nghiêm túc xem xét. Năm 2019, siêu bom tấn Avengers: Endgame (Siêu Anh Hùng Báo Thù: Hồi Kết) thu về hơn 27 triệu USD tại Thái Lan và gần 12 triệu USD ở Việt Nam, có thể tạm coi như quy mô thị trường Thái lớn gấp 2 lần thị trường điện ảnh nước ta. Thế nhưng, phim Thái hiện nay dù có thuộc loại ăn khách nhất năm cũng chỉ có thể đạt đến mức doanh thu xấp xỉ 200 triệu baht, tức là khoảng 150-160 tỷ VND, so ra còn kém xa kỷ lục doanh thu của Cua Lại Vợ Bầu. Nhìn vào sự khác biệt này, ta có thể thấy rằng tình hình của phim Thái Lan khá ảm đạm trên sân nhà, trong khi đó ta tạm yên tâm rằng khán giả của chúng ta vẫn dành nhiều tình cảm cho phim Việt. Nhưng nếu một ngày nào đó, khán giả mất niềm tin, thời kỳ tăng trưởng mà ngành điện ảnh đang được hưởng có thể sẽ kết thúc sớm hơn nhiều người tưởng.

Trong những năm tới đây, chúng ta vẫn sẽ thấy sự xuất hiện của các phim remake. Không cần thiết phải lo lắng quá nhiều vì remake là một xu hướng chung trên toàn cầu khi các nền điện ảnh đang xích lại gần nhau. Đối với Việt Nam, trong tình hình vắng bóng tài năng cho công tác biên kịch, việc sử dụng kịch bản nước ngoài đã có sẵn là một cách tốt để học hỏi, đi tắt đón đầu. Điều đáng mừng cần ghi nhận là phim remake cũng đang dần nói không với cách làm phim photocopy và đầu tư nhiều hơn sức sáng tạo để tạo ra đời sống riêng, đậm chất Việt cho phiên bản Việt. Nhưng các bên trong ngành cũng nên hiểu rằng, làm phim remake đồng nghĩa với việc giới hạn đầu ra cho xuất phẩm của mình trong thị trường nội địa. Phim Thái Lan tuy chật vật ở quê nhà, nhưng họ vẫn có thể xuất khẩu phim và thu thêm rất nhiều lợi nhuận. Đơn cử như Friend Zone (Yêu Nhầm Bạn Thân, 2019) chỉ đạt mức doanh thu nội địa khoảng 130 triệu baht (4 triệu USD), nhưng đã thu thêm được 9.894.885 USD trên các thị trường quốc tế, riêng Việt Nam đóng góp cho bạn 2.115.225 USD. Giống như nền điện ảnh láng giềng, phim Việt Nam không thể chỉ tư duy hướng nội mãi mà cũng rất cần có tầm nhìn rộng hơn, vươn mình ra xa khỏi quê nhà, tìm lợi nhuận ở các thị trường nước ngoài. Điều đó không phải là không thể, Hai Phượng đã chứng minh rằng phim Việt Nam có thể gia tăng doanh thu đáng kể khi mở ra được một cửa phát hành quốc tế mạnh như Netflix. Để có thể lập lại và vượt qua thành tích ấy trong tương lai, chất lượng các bộ phim là yếu tố tiên quyết. Phim Việt buộc phải làm được điều đó bằng nội lực của chính mình, làm sao tạo ra được những bộ phim mang tính toàn cầu mà vẫn mang những nét độc đáo của đất nước. Trên hành trình mới này, nâng niu và bồi đắp sức sáng tạo, tính nguyên bản cho phim Việt Nam là sứ mệnh không của riêng ai. Sau một quãng thời gian phát triển về số lượng, giờ là lúc bắt đầu phát triển về chất lượng, và tất cả các bên trong ngành đều phải chung tay phấn đấu cho mục tiêu này.

Nhưng hơn ai khác, các nhà sản xuất phim là nhân tố quan trọng nhất trong việc xây dựng tương lai cho phim Việt, và họ phải mạnh dạn đảm nhận vai trò tiên phong. Thử nghiêm với các thể loại mới mẻ và các mô thức phim đa dạng tiềm ẩn rủi ro thật, nhưng đi cùng với rủi ro luôn là cơ hội. Các nhà sản xuất phim Việt phải khai sinh và mở rộng cửa cho một hình thái phim thương mại mới. Những phim này mang đầy đủ tính giải trí, nhưng cũng phải có ý nghĩa đối với nhân dân và đất nước Việt Nam. Như những điều nhà làm phim Ấn Độ huyền thoại Satyajit Ray viết trong bài tiểu luận “Phim Ấn Độ sai ở đâu?” năm 1948, những đặc điểm mà phim Việt cần phát triển có thể là “giàu sức tưởng tượng hơn, nhất quán trọn vẹn hơn”. Và chúng ta nên tìm kiếm chất liệu ngay trong chính từng hơi thở thân thuộc của đời sống Việt Nam, “nơi mà những lề thói và lời ăn tiếng nói, cách phục sức và lối cư xử, từ hậu cảnh cho tới tiền cảnh, quyện vào nhau trong một chỉnh thể hài hòa”. Để tiếp tục mơ những giấc mơ lớn hơn, phim Việt nhất định phải khẳng định được niềm tin nơi khán giả nhà và chiếm giữ được tình yêu bất diệt trên chính quê hương của mình.

Nguyễn Hữu Tuấn