Kể từ tháng 1 năm 2019, Việt Nam có một Cục trưởng Cục Điện Ảnh mới, Tiến sĩ Nguyễn Thu Hà. Tuy nhiên, trong khi còn chưa thấy tân Cục trưởng có bất kỳ hoạt động gì cụ thể, thì cuối tháng 10, đã xảy ra sự việc để lọt “đường lưỡi bò” trong bộ phim đã được cấp phép phát hành là Everest: Người Tuyết Bé Nhỏ (tựa gốc Abominable). Sự việc này khiến Cục trưởng bị khiển trách và giáng cấp xuống làm Cục phó. Đây thật sự là một điều đáng tiếc vì trong khoảng một năm vừa qua, ngành công nghiệp điện ảnh thực sự mong đợi Tiến sĩ Thu Hà cho thấy những sự cải cách nào đó về mặt chính sách và quản lý nhà nước. Giờ đây, có lẽ sẽ rất khó để bà mạnh dạn đưa ra bất kỳ một quyết sách mang tính đột phá nào trong tương lai gần.

Trong nhiệm kỳ của Cục trưởng tiền nhiệm, Tiến sĩ Ngô Phương Lan, ngành công nghiệp điện ảnh đã phát triển với một tốc độ ấn tượng. Thế nhưng cách Cục phản ứng với sự thay đổi của tình hình lại khá chậm chạp và có phần thụ động. Việc ban hành bộ Luật Điện Ảnh năm 2006 là một trong những sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử điện ảnh Việt Nam. Có thể nói, đây là bộ Luật đã khai sinh ra ngành công nghiệp vì chỉ kể từ thời điểm đó, các công ty tư nhân mới có thể làm phim hợp pháp. Nhưng sau 13 năm, Luật Điện Ảnh không có nhiều điều chỉnh. Bộ luật vẫn gần như giữ nguyên dạng như lúc nó được ban hành, và rõ ràng là đã không thể bắt kịp với tình hình xã hội mới. Ngoài ra, mặc dù được gọi là Luật Điện Ảnh, nó điều chỉnh cả các hoạt động làm phim của lĩnh vực truyền hình. Thêm vào đó, với sự phát triển nhanh chóng của Internet, Luật này hầu như không cung cấp bất kỳ căn cứ pháp lý hiệu quả nào để Nhà nước quản lý nội dung trên các nền tảng trực tuyến, đặc biệt là các nền tảng quốc tế như YouTube hoặc Netflix. Vào năm 2014, một trong những web series Việt Nam đầu tiên được phát hành trên YouTube, Căn hộ 69, đã khiến dư luận quan tâm vì nó mang nội dung có yếu tố tình dục nhẹ. Cục Điện ảnh và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã khá bối rối khi giải quyết vấn đề này. Cuối cùng, họ đã phạt nhà sản xuất Nam Cito 10 triệu đồng và buộc công ty của anh phải gỡ bỏ phim khỏi Youtube. Lý do được đưa ra cho án phạt này là “chiếu phim chưa được phép phổ biến tại nơi công cộng”. Quá khứ là thế nhưng hiện nay, cùng với sự nở rộ của nội dung trực tuyến, có rất nhiều web series đã được phát hành trên Youtube và các nền tảng khác mà chẳng hề xin phép. Về cơ bản, Cục Điện Ảnh cũng đầu hàng vì không đủ sức kiểm soát mảng phát hành trực tuyến. Với khối lượng nội dung khổng lồ ấy, Cục không thể xét duyệt từng video một. Trong tương lai rất gần, VOD, OTT và các loại hình dịch vụ trực tuyến khác sẽ trở thành một ngành công nghiệp riêng. Kích cỡ của thị trường trực tuyến thậm chí có thể vượt quá thị trường điện ảnh trong một ngày không xa. Ngành công nghiệp nội dung trực tuyến nên được điều chỉnh bởi một bộ luật khác, đặc thù và tách biệt với Luật Điện Ảnh. Nếu muốn thực sự quản lý ngành công nghiệp đang phát triển chóng mặt này, Nhà nước cần thành lập một cơ quan khác trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để quản lý nó. Ngay cả các nội dung truyền hình cũng cần một bộ Luật riêng. Luật Điện Ảnh chỉ nên tập trung vào điều chỉnh các nội dung phát hành trên rạp chiếu phim. Theo đó, Cục Điện Ảnh cũng chỉ cần sử dụng nguồn nhân lực và tài chính của mình để quản lý và phát triển ngành công nghiệp điện ảnh, không phải ôm đồm quá nhiều trách nhiệm như hiện nay.

Có một khía cạnh đặc thù trong cách Nhà nước Việt Nam quản lý ngành công nghiệp điện ảnh đó là cơ chế kiểm duyệt. Trong một nỗ lực rất đáng ghi nhận, Cục Điện Ảnh đã thiết lập hệ thống phân loại phim theo độ tuổi vào năm 2016. Hệ thống này chính thức có hiệu lực vào năm 2017. Đây thực sự là một bước tiến lớn, nhà làm phim giờ đây có thể xác định lượng khán giả mục tiêu và lập chiến lược phát hành tùy theo nhãn phân loại được dán cho bộ phim của minh. Nhưng ngay cả khi đã có hệ thống phân loại theo độ tuổi, Hội Đồng Thẩm Định Phim Quốc Gia vẫn thường xuyên yêu cầu cắt dựng lại, hoặc thậm chí thay đổi câu chuyện các bộ phim. Nếu nhà sản xuất không làm theo thì sẽ không được duyệt phát hành, dù là với bất kỳ nhãn phân loại nào. Khi các nhà làm phim vẫn phải cắn răng thực hiện những sửa đổi mà họ không hề mong muốn với đứa con tinh thần của mình, khi một khán giả trưởng thành, đầy đủ ý thức công dân, vẫn bị đối xử y như trẻ nhỏ trong việc xem phim, thì hệ thống phân loại độ tuổi còn có ý nghĩa gì? Trong một số trường hợp, các yêu cầu của Hội Đồng là bất khả thi về mặt kinh tế đến mức cuối cùng nhà sản xuất phải xếp xó luôn bộ phim. Đạo diễn Lưu Huỳnh, có thể xem là nạn nhân khốn khổ nhất của cơ chế này. Anh đã thực hiện hai bộ phim liên tiếp nhau vào năm 2016 và 2017. Cả hai đến nay chưa hề bị cấm, nhưng cũng chưa được cấp giấy phép vì nhà làm phim không thể đáp ứng các yêu cầu chỉnh sửa để có thể qua được cửa kiểm duyệt. Bộ phim kinh dị Thất Sơn Tâm Linh cũng suýt chút nữa là đã phải chịu chung số phận mắc kẹt vô thời hạn ở tình trạng lửng lơ ấy.

Trong hầu hết các trường hợp khổ ải này, những yêu cầu ấy chỉ đơn thuần phản ánh ý muốn chủ quan của các thành viên trong Hội Đồng Thẩm Định chứ cũng không có cở sở pháp lý nào cả. Nhưng Hội Đồng cũng không biết dựa vào đâu để làm việc, khi mà các tiêu chuẩn để phân loại độ tuổi vẫn còn quá sơ sài, đại khái. Hậu quả là đến giờ, công tác của Hội Đồng Kiểm Duyệt vẫn hết sức mơ hồ và cảm tính. Bộ Văn Hóa nên ban hành càng sớm càng tốt một bộ tiêu chuẩn chính thức, mô tả rõ ràng và cụ thể những yếu tố nào của nội dung, và ở mức độ nào, sẽ đưa phim tới các phân loại độ tuổi khác nhau. Một bộ quy định chi tiết như vậy sẽ hữu ích cho cả các nhà làm phim lẫn Hội Đồng Thẩm Định. Và cùng với đó, vai trò của Hội Đồng chỉ nên giới hạn ở việc chọn ra một nhãn phân loại phù hợp cho bộ phim được gửi đến. Họ có thể cấm một bộ phim nếu bộ phim đó thực sự vi phạm Luật Điện Ảnh. Nhưng không nên cho phép họ  được yêu cầu chỉnh sửa các bộ phim, bởi vì một quyền lực như thế rất dễ bị lạm dụng. Thực tế là tất cả các nhà sản xuất đều rất muốn có giấy phép phát hành khi họ đã đầu tư rất nhiều tiền, do đó họ sẽ làm bất cứ điều gì có thể để chiều lòng Hội Đồng Kiểm Duyệt. Nhưng là một tác phẩm nghệ thuật, sự toàn vẹn và ý đồ nghề thuật của một bộ phim phải được tôn trọng. Một tác phẩm điện ảnh phải được đưa đến công chúng trong một hình hài đúng như tác giả, cha đẻ đích thực của nó, mong muốn.

Bên cạnh đó, ý tưởng táo bạo về có nhiều hơn một Hội Đồng Thẩm Định Phim cũng rất đáng chú ý. Trở lại trường hợp “đường lưỡi bò” trong bộ phim Everest: Người Tuyết Bé Nhỏ, điều đáng nói là nó xảy ra không lâu sau một sự việc khác liên quan đến ngành điện ảnh cũng được dư luận quan tâm. Đó là việc bộ phim Ròm của đạo diễn Trần Thanh Huy tuy chưa có giấy phép phát hành vì còn đang phải chỉnh sửa theo yêu cầu của Hội Đồng, thì đã được chọn tham gia tranh giải tại Liên hoan phim quốc tế Busan. Nhà sản xuất bị Cục Điện Ảnh phạt 40 triệu đồng, trong khi đó Ròm được Liên hoan phim uy tín nhất châu lục này đánh giá cao và tôn vinh bằng giải thưởng New Currents rất danh giá. Xâu chuỗi lại hai sự việc, dư luận đặt câu hỏi rằng vì sao Hội Đồng Thẩm Định lại khó khăn đến thế với một phim Việt Nam, trong khi lại quá dễ dãi đối với một phim nước ngoài? Có phải vì Ròm là một phim có ý đồ nghệ thuật gai góc nên được đối xử khác với Everest: Người Tuyết Bé Nhỏ, vốn chỉ là một phim hoạt hình dành cho thiếu nhi? Thực chất, tình trạng “nhất bên trọng, nhất bên khinh” ấy phản ánh sự quá tải của Hội Đồng trước khối lượng công việc quá đồ sộ. Khi có quá nhiều phim phải xem trong khi sức người và thời gian có hạn, tất yếu sẽ dẫn đến việc Hội Đồng phải chọn phim Việt Nam làm đối tượng nào cần xem xét kỹ hơn. Thật không may là một bộ phim tưởng chừng vô hại hóa ra lại ẩn chứa một chi tiết ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền quốc gia. Rõ ràng là nếu có nhiều hơn một Hội Đồng Thẩm Định, mỗi cơ quan sẽ giúp nhau giảm tải khi chia sẻ khối lượng công việc. Như vậy sẽ giảm thiểu đi nguy cơ tái diễn các sự việc như Everest: Người Tuyết Bé Nhỏ. Đồng thời, điều này cũng giúp ngăn ngừa nạn cửa quyền khi các nhà sản xuất phim Việt Nam có nhiều hơn một địa chỉ để gửi phim khi cần xét duyệt.

Tuy nhiên, không phải mọi việc cơ quan quản lý nhà nước làm đều đem đến rắc rối. Nhiều nỗ lực của họ trong những năm qua thực sự xứng đáng được khen ngợi. Một trong số đó là Liên Hoan Phim Quốc Tế Hà Nội. Mặc dù khó có thể trở thành một liên hoan phim có tên tuổi trong tương lai gần, nó vẫn là một cánh cửa rộng mở để các bộ phim và khán giả Việt Nam bước ra giao lưu, ngõ hầu bắt kịp với điện ảnh thế giới. Một bước tiến đáng chú ý khác là chính sách hợp tác sản xuất giữa Cục và khối tư nhân. Trước năm 2014, chỉ có các hãng phim nhà nước có thể tiếp cận ngân sách nhà nước. Các hãng phim này từng được tài trợ để làm phim tuyên truyền, nhưng đến nay tất cả đều rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng. Thay vào đó, kể từ năm 2014, Cục đã đóng vai trò đồng sản xuất một số phim mà họ đại diện Nhà nước đầu tư tới 80% từ nguồn vốn ngân sách. Lần này, đối tác của họ là các công ty sản xuất phim tư nhân. Những bộ phim hợp tác sản xuất này có thể là phim thương mại, nhưng vẫn phải có một số yếu tố tuyên truyền nhất định. Ở thời điểm này, Nhà nước tập trung ưu tiên các nội dung liên quan đến đời sống của quân và dân ở các vùng biên giới hải đảo. Về lý thuyết, chính sách này là rất tuyệt vời và tiềm năng của nó đã được chứng minh bằng những bộ phim đầu tiên Nhà nước và tư nhân hợp tác như Những Đứa Con Của Làng (2014) và Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh (2015). Cả hai đều là những bộ phim hay và đáng nhớ , bộ phim sau thậm chí còn thu được 80 tỷ doanh thu phòng vé.

Thật vậy, chính sách tiến bộ này mang đến nhiều hy vọng về một hướng sản xuất mới cho phim Việt Nam, đặc biệt là các thể loại vốn thường bị bỏ qua trong điều kiện sản xuất bình thường. Ví dụ, thể loại phim chiến tranh hoặc phim lịch sử sẽ không bao giờ được các hãng phim tư nhân sản xuất vì yêu cầu vốn đầu tư quá lớn. Trong khi đó, là một quốc gia có truyền thống lịch sử lâu đời với nhiều câu chuyện hấp dẫn, nhu cầu về dòng phim này luôn cao, và khán giả Việt Nam đã chờ đợi chúng rất lâu rồi. Hoạt hình cũng là một thể loại không có cơ hội được thực hiện ở điều kiện thị trường hiện tại. Tuy nhiên, hơn bất kỳ dòng phim nào, phim nghệ thuật/ phim độc lập nên là những phim được hưởng lợi nhiều nhất từ chính sách này. Những bộ phim này hầu như không thể thu hồi vốn, vì vậy người làm phim rất cần những ngồn vốn tài trợ công. Tại thời điểm này, các nhà làm phim độc lập Việt Nam phải phụ thuộc hoàn toàn vào các quỹ quốc tế. Nhưng cuộc đua để được hỗ trợ từ các quỹ đó không bao giờ là dễ dàng. Có khá nhiều dự án phim độc lập thú vị của Việt Nam vẫn đang vật vã trong nhiều năm, mong đợi được thực hiện một ngày nào đó. Những dự án như thế nên được nhà nước Việt Nam đỡ đầu trước tiên và hơn thế nữa, chúng phải là một phần quan trọng của chính sách. Ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam sẽ là một ngành công nghiệp què quặt đứng trên một chân, nếu thiếu đi phim nghệ thuật/ phim độc lập, vốn luôn là suối nguồn sáng tạo quý giá. Dù điện ảnh là sự kết hợp của nghệ thuật và kinh doanh, thì sự tồn tại của những kiệt tác điện ảnh có ý nghĩa lớn hơn rất nhiều việc làm ăn kinh tế đơn thuần. Chúng là chỉ dấu cho thấy một nền văn hóa phát triển cao của một quốc gia. Người dân Việt Nam đều hy vọng rằng một ngày nào đó, chúng ta sẽ có những Ký Sinh Trùng của riêng mình, những bộ phim làm cả đất nước tự hào. Và điều đó sẽ không bao giờ có thể xảy ra nếu không có sự quan tâm bảo trợ của Nhà nước.

Thật đáng tiếc, kể từ sau Tôi Thấy Hoa Trên Cỏ Xanh năm 2015, không có bộ phim nào khác đến từ chính sách hợp tác sản xuất đáng để nhắc đến nữa. Các nhà làm phim nhìn chung lại càng thất vọng khi quy trình làm thế nào để được cấp ngân sách không minh bạch. Các hãng phim có thể tiếp cận ngân sách nhà nước chỉ là những công ty có mối quan hệ tốt với Cục, hoặc các công ty được thành lập bởi các cựu quan chức. Trong khi nhiều nhà làm phim trẻ tài năng phải vất vả đi tìm mà chưa thấy vốn cho phim đầu tay của mình, thì đã có ba bộ phim dùng ngân sách nhà nước được cấp cho đạo diễn Đinh Tuấn Vũ, người năm nay mới 30 tuổi. Cũng không quá ngạc nhiên khi biết anh là con trai của nguyên Cục trưởng Ngô Phương Lan. Các hãng phim và các nhà làm phim hầu như không có bất kỳ cơ hội nào nếu họ không phải là một phần của mạng lưới quan hệ này. Do đó, dễ hiểu vì sao họ cũng không thiết tha với ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, chính sách này có thể chỉ là một thử nghiệm tạm thời nhưng mang tính nền tảng cho Quỹ Phát Triển Điện Ảnh vốn được mong đợi từ lâu. Vào ngày 10 tháng 7 năm 2019, Chính phủ đã công bố dự thảo Luật Điện Ảnh mới, trong đó cơ chế hoạt động của Quỹ Phát Triển Điện Ảnh được dành hẳn một chương. Mặc dù vẫn chưa có nhiều điều để nói về dự thảo này, nhưng đây thực sự là một tín hiệu lạc quan cho thấy Quỹ đang dần hình thành trên những nền tảng pháp lý. Hy vọng, bộ Luật Điện Ảnh kế tiếp sẽ giúp Nhà nước hỗ trợ các tài năng Việt Nam một cách hiệu quả và minh bạch hơn. Hơn bất cứ điều gì, cộng đồng các nhà làm phim Việt Nam mong muốn ngân sách nhà nước được cấp cho các dự án và con người xứng đáng.

Về cuối năm 2019, có nổi lên hai trường hợp mà trong đó nhà sản xuất của hai bộ phim Trời Sáng Rồi, Ta Đi Ngủ ThôiNgốc Ơi Tuổi 17 phải lên mạng xã hội kêu cứu, mong có được sự ủng hộ của cộng đồng mạng, để hai bộ phim này được các rạp cho nhiều suất hơn trong hoàn cảnh bị đẩy đến bên bờ vực thất bại. Ý kiến của dư luận về các sự việc này thì rất đa chiều, có cả ủng hộ, có cả phản đối, tùy theo góc nhìn và tình cảm cá nhân. Thế như nếu đứng trên quan điểm quản lý nhà nước, hai trường hợp này cũng phản ánh một vấn đề cấp bách mà bộ Luật Điện Ảnh tiếp theo rất nên nghiêm túc xem xét, đó là sự mất cân bằng về quyền lực giữa các nhà rạp và nhà sản xuất. Hiện nay, tất cả các nhà rạp lớn nhất cũng là nhà phát hành, và họ cũng sản xuất phim luôn. Vì vậy, phim của họ luôn có lợi thế lớn khi được phát hành trong các hệ thống rạp của chính họ. Về lý thuyết, lịch chiếu của các bộ phim sẽ tuân theo quy luật cung cầu, trong đó sự quan tâm của khán giả sẽ quyết định số suất chiếu trong ngày của một phim nào đó. Tuy nhiên, sự công bằng này chỉ mang tính lý thuyết thuần túy, bởi thực tế là thông thường các quản lý rạp sẽ cho phim của công ty mẹ rất nhiều suất chiếu, kể cả khi khán giả không quan tâm. Tất nhiên là các công ty mẹ luôn muốn lấy lại vốn càng nhiều càng tốt khi họ có quyền cũng như khả năng để làm như thế. Tuy vậy, tình hình không lý tưởng tương đương cho phần còn lại của các nhà sản xuất phim nhỏ hơn, khi họ hoàn toàn có thể bị gán cho một số lượng suất chiếu trong ngày rất thấp ngay ở dịp cuối tuần đầu tiên, và không cần biết chất lượng ra sao, những phim này sẽ trở thảnh các thảm họa tài chính. Trong số này, thảm nhất chính là phim nghệ thuật/ phim độc lập vì chúng thường xuyên bị coi như là không thể thu hồi vốn ngay từ đầu. Đôi khi, nhà rạp còn từ chối thẳng việc chiếu phim nghệ thuật. Hơn nữa, trong các thời điểm cạnh tranh căng thẳng, một nhà rạp có thể từ chối phim của nhà rạp khác hoặc phim của một công ty sản xuất mà họ không ưa. Việc này đã xảy ra vài lần và mặc dù thật khó để đồng tình, chính thị trường tự do đã cho phép các nhà rạp có quyền từ chối ấy và tập trung vào việc thu càng nhiều lợi nhuận càng tốt.

Tuy nhiên, khi mà ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn thơ bé hiện nay, tình trạng này là rất có hại. Nếu các nhà sản xuất không thể lấy lại tiền, dần dần họ sẽ bỏ cuộc. Trong trường hợp số lượng phim Việt Nam sụt giảm, thị trường chắc chắn sẽ bị tràn ngập bởi phim Hollywood. Mà Hollywood vốn dĩ đã thống trị không đối thủ trên thị trường rạp chiếu Việt Nam. Khi phim bom tấn Hollywood công chiếu, chúng sẽ lấy hầu hết các suất chiếu vì chúng được cả nhà rạp và khán giả yêu thích hơn. Trên thị trường này, phim Việt Nam luôn ở cửa dưới, vì vậy để có một ngành công nghiệp bền vững, các nhà sản xuất Việt Nam phải được cho nhiều cơ hội hơn để thu hồi vốn. Phim Việt Nam phải được bảo hộ trên thị trường nội địa. Một thị trường tự do thực sự là quá khó nhằn, khi cán cân quyền lực nghiêng lệch hẳn về một phía. Lúc này là một giai đoạn nhạy cảm mà Nhà nước cần tỏ rõ quyết tâm hỗ trợ phim Việt Nam. Luật cần phải phân định rõ rằng các nhà rạp Việt Nam không có quyền từ chối chiếu phim Việt Nam. Số lượng suất chiếu trong ngày tối thiểu cho phim Việt Nam trong hai tuần đầu tiên cần được luật hóa cụ thể trong bộ Luật Điện Ảnh sắp tới. Ví dụ như, 6 suất/ngày trong tuần đầu tiên và 4 suất/ngày trong tuần kế tiếp có thể sẽ tạo nên một chút giảm sóc cho việc đầu tư sản xuất phim Việt Nam, vốn dĩ luôn rủi ro cao. Mặt khác, các bộ phim nước ngoài, đặc biệt là Hollywood, phải có giới hạn trần cho số suất chiếu trong ngày, không thể để một bộ phim bom tấn nước ngoài nào đó có thể chiếm hết 80-90% số suất chiếu. Những phim này sẽ được chiếu ít đi trong một ngày nhưng vẫn có thể tiếp tục trụ rạp dài hơn do nhu cầu khán giả không mất đi. Cuối cùng, lợi nhuận của chúng sẽ không bị ảnh hưởng nhiều, nhưng chúng phải chia sẻ lịch chiếu với các phim Việt Nam trên cơ sở công bằng hơn. Nếu làm được như thế, tự khắc sẽ không còn nhà sản xuất Việt Nam nào phải cầu cứu nữa.

Không chỉ phim Việt Nam cần bảo vệ, mà các nhà làm phim Việt Nam cũng vậy. Mặc dù vẫn còn quá sớm để trở thành một vấn đề, cần phải để ý hiện tượng vài công dân Nhật Bản và Hàn Quốc đã làm đạo diễn một số phim điện ảnh Việt Nam gần đây. Với sự phát triển của thị trường điện ảnh Việt Nam, hiện tượng này có nhiều khả năng sẽ xảy ra thường xuyên hơn. Trong hai mươi năm trở lại đây, thị trường làm phim quảng cáo ở Việt Nam có thể nói là bị các đạo diễn nước ngoài thống trị ở phân khúc cao cấp. Tình huống tương tự hoàn toàn có thể xảy ra trong ngành công nghiệp điện ảnh. Việc họ là người nước ngoài hoặc tốt nghiệp các trường điện ảnh quốc tế không có nghĩa là họ có khả năng hơn các đạo diễn Việt Nam. Nhưng vẫn có một định kiến tồn tại dai dẳng từ lâu rằng các nhà làm phim Việt Nam không được đào tạo tốt như người nước ngoài, do đó, kém tài năng hơn. Nhìn vào các đạo diễn từ Nhật Bản và Hàn Quốc đã được làm đạo diễn phim Việt Nam, không có cái tên nào đáng chú ý trong số đó. Họ thực sự chỉ là những cá nhân vô danh hay thậm chí tay mơ, vốn chẳng có mấy cơ hội ở quê nhà. Trong tháng 12/2019, có một bộ phim được đạo diễn bởi một công dân Hàn Quốc mang tựa đề Oppa Phiền Quá Nha, đây là một bộ phim có chất lượng thực sự thảm hại. Không chỉ chất lượng sản xuất chỉ ngang một video dành cho Youtube, đạo diễn của phim thể hiện mình hoàn toàn không có năng lực trong bất kỳ công tác chuyên môn nào. So sánh những cá nhân như thế với các đạo diễn giỏi nghề của Việt Nam thì thực sự rất khập khiễng, thế nhưng họ vẫn được một số nhà sản xuất Việt Nam trao niềm tin dựa trên định kiến nói trên. Trong tất cả các vị trí chủ chốt của việc sản xuất phim, đạo diễn là vị trí nhạy cảm nhất vì là linh hồn của bộ phim. Tại thời điểm này, tình hình đã vô cùng khó khăn cho các đạo diễn trẻ khi phải cạnh tranh với những người đã thành danh. Họ sẽ hoàn toàn không có cơ hội khi giờ còn có thêm các đạo diễn nước ngoài đến thử sức. Nếu tài năng của các nhà làm phim thuộc thế hệ tiếp theo không thể tỏa sáng trên chính đất nước mình thì tương lai của ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam sẽ rất ảm đạm. Do đó, các đạo diễn Việt Nam cũng cần phải được pháp luật bảo vệ. Trong các dự án phim Việt Nam, nơi vốn đầu tư Việt Nam đóng góp 50% ngân sách trở lên, vị trí đạo diễn phải thuộc về một công dân Việt Nam. Quy định cấp phép lao động đối với các đạo diễn nước ngoài phải được ban hành. Các quy định ấy có thể được nới lỏng hơn đối với công dân nước ngoài có gốc Việt hoặc những người có thành tích đặc biệt xuất chúng, nhưng phải nghiêm khắc với mọi đối tượng khác. Chúng ta muốn được học hỏi từ những chuyên gia nước ngoài thực sự giỏi, chứ không thể phung phí nguồn lực trong nước cho những cá nhân không xứng đáng.

Thêm nữa, điều kiện lao động trong ngành điện ảnh cũng cần được cải thiện. Hiện nay, sự tồn tại của những ngày quay dài hơn 12 giờ, thậm chí lên đến 20 giờ làm việc là không hề hiếm. Ngay cả trong lĩnh vực hậu kỳ cũng rất phổ biến hiện tượng chạy tiến độ dự án thâu đêm suốt sáng nhiều ngày liền. Trường hợp gần đây của một chuyên viên dựng phim đột tử khi mới 30 tuổi đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh không chỉ về sức khỏe của mỗi cá nhân làm nghề mà rộng hơn là cho thấy việc thiếu vắng các quy định pháp quy đặc thù về điều kiện lao động cho ngành làm phim. Để thực sự chăm sóc tốt hơn cho người lao động là không hề đơn giản khi có rất nhiều vấn đề thực tiễn dẫn đến vòng xoáy làm việc bất hợp lý này, mà nan giải nhất chính là điều kiện giới hạn về kinh phí của các dự án. Chắc chắn cần nhiều nỗ lực từ nhiều ban ngành, tổ chức, doanh nghiệp cho vấn đề này, một vấn đề phải được điều chỉnh bởi Luật Lao Động. Nhưng nếu không phải cơ quan quản lý nhà nước của ngành điện ảnh nhận trách nhiệm đi đầu thì sẽ là ai?

Tổng kết lại, Cục Điện Ảnh là một phần quan trọng, không thể bị tách rời khỏi bức tranh toàn cảnh của điện ảnh Việt Nam. Toàn ngành công nghiệp này không bao giờ muốn xem Nhà nước như là một thứ trở ngại. Hơn bất cứ điều gì, họ muốn Nhà nước là nguồn hỗ trợ đáng tin cậy nhất. Mọi  thứ phụ thuộc hết vào tầm nhìn của Cục về tương lai phim Việt. Hy vọng rằng họ sẽ thực sự trở thành một Mái Nhà có thể che trở thị trường trong nước, chứ không bao giờ là một bức trần ngăn cản sự vươn lên của nền điện ảnh Việt Nam.

Nguyễn Hữu Tuấn