Trong hai thập kỷ qua, ngành công nghiệp điện ảnh đã chứng kiến một vài làn sóng các nhà sản xuất xuất hiện nối tiếp. Đầu tiên là thế hệ lớn tuổi từng làm việc cho các xưởng phim nhà nước hồi thập niên 1990. Khi các hãng phim tư nhân như Galaxy hay BHD có mặt, họ thuê đội ngũ này về để sản xuất những dự án điện ảnh đầu tiên của hãng. Nhưng do không bắt kịp được với thời kỳ mới, hầu hết họ dần chuyển qua làm phim truyền hình hoặc nghỉ ngơi. Làn sóng tiếp theo là các nhà sản xuất bắt đầu làm phim sau khi có Luật Điện Ảnh. Họ mở ra các hãng phim tư nhân đầu tiên, và hầu hết hợp tác sản xuất với Galaxy và BHD. Một nhân vật nổi bật của nhóm này là Phước Sang. Nhà sản xuất xuất thân từ diễn viên này đã gặt hái rất nhiều thành công khi khai thác dòng phim hài nhảm, cùng ngôi sao Hoài Linh quen thuộc. Đáng tiếc thay, anh đã bị phá sản sau vài thương vụ sai lầm, không phải trong lĩnh vực phim ảnh mà là bất động sản, và rốt cuộc đã ngừng làm phim. Ngoài Phước Sang ra thì thế hệ nhà sản xuất này không đóng góp nhiều cho ngành công nghiệp trước khi lùi vào dĩ vãng. Nhưng có một lớp các nhà sản xuất khác, lại luôn được coi là những người đã thực sự hồi sinh ngành điện ảnh Việt Nam: các nhà sản xuất Việt Kiều. Năm 2007, tác phẩm võ thuật Dòng Máu Anh Hùng đã được sản xuất bởi công ty Chánh Phương, một đơn vị do Việt Kiều sáng lập. Tuy bộ phim thất bại trong việc thu hồi vốn, nó vẫn được coi là một cột mốc đáng nhớ của điện ảnh Việt Nam. Chất lượng sản xuất của Dòng Máu Anh Hùng ở một tầm cao hơn hẳn so với đại bộ phận phim Việt cho tới tận ngày nay, nó khiến khán giả nhận ra rằng các nhà làm phim Việt hoàn toàn có thể tạo ra những xuất phẩm đẳng cấp. Để đảm bảo được tiêu chuẩn sản xuất của mình, các nhà sản xuất Việt Kiều phải huấn luyện nhân sự trong nước, và qua đó đem lại cho ngành công nghiệp một quy trình chuyên nghiệp, hiện đại hơn. Chánh Phương cùng người đứng đầu, Jimmy Phạm Nghiêm, đến nay vẫn là những cái tên được kính trọng và gặt hái thêm nhiều thành công sau này.

Thừa hưởng hạ tầng kỹ thuật tốt hơn cùng một thị trường phát triển, làn sóng nhà sản xuất phim gần nhất là những người mới bắt tay làm phim trong khoảng 5 năm trở lại đây. Hầu hết sinh ra vào cuối thập niên 1970 hoặc đầu thập niên 1980. Có những ngoại lệ, chẳng hạn như Luk Vân, người mới đang ngoài 20 tuổi. Một số gương mặt có thâm niên trong ngành giải trí nay cũng chuyển sang sản xuất phim như Lý Hải hoặc Đức Thịnh. Không phải tất cả đều thành công. Một số tân binh thiếu kinh nghiệm vấp phải thất bại ngay từ bước khởi đầu và sớm phải rời cuộc chơi. Những cái tên còn trụ lại đều đã trải qua nhiều kinh nghiệm xương máu trong thập kỷ qua, hoặc được hậu thuẫn bởi các tập đoàn Hàn Quốc đang thống trị thị trường rạp chiếu như CJ. Những người thành công hơn cả có lẽ là Ngô Thanh Vân, người mới tung ra Hai Phượng, và Đức Thịnh, cái tên đứng ra sản xuất và làm đạo diễn tới hai bộ phim trăm tỷ Siêu Sao Siêu NgốTrạng Quỳnh. Một số cái tên đáng chú ý khác có thể kể tới là Nhất Trung hay Nam Cito. Trong số đó, Ngô Thanh Vân có lẽ là người đặc biệt nhất. Chị rất kiên trì khai phá nhiều thể loại khác nhau, kinh qua nhiều dự án thuộc loại khó nhằn. Sự dũng cảm của Ngô Thanh Vân đã được tưởng thưởng bằng doanh thu cao của bộ phim dựa trên truyện cổ tích Tấm Cám (2016), bộ phim hài lãng mạn đề tài xuyên không Cô Ba Sài Gòn (2017), và gần nhất là dự án hành động giật gân Hai Phượng. Tuy nhiên những người máu lửa như chị còn quá hiếm hoi. Đa số nhà sản xuất phim Việt Nam chỉ tập trung khai thác thể loại Hài. Ít nhiều thì họ vẫn đang sống khỏe, nhưng đóng góp thực sự cho nền điện ảnh Việt là không nhiều. Lúc này đây, việc thiếu hụt các nhà sản xuất có tầm nhìn xa đã trở thành một trở ngại lớn cho sự phát triển bền vững của toàn ngành công nghiệp. Tại sao vậy?

Trước tiên, nhiều nhà sản xuất không có nền tảng về sáng tạo, mà đơn thuần là doanh nhân hoặc nhà tài chính. Thị trường điện ảnh đang phát triển nhanh và nhiều nhà đầu tư nhận thấy tiềm năng từ đây. Năng lực tài chính của họ rất mạnh khi dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn và vì vậy dễ dàng tạo ra ảnh hưởng lớn. Chính họ là những người đề ra sáng kiến thành lập các công ty con để chuyên quản lý tài chính cho các hãng phim tên tuổi, giúp hệ thống trở nên chuyên nghiệp hơn. Tuy nhiên, họ thường không có đủ kinh nghiệm trong việc sản xuất phim. Do đó, họ thường không biết làm thế nào để tạo ra một bộ phim hay. Đa số chỉ coi việc làm phim nhưng một vụ đầu tư có thể thu hồi vốn nhanh chóng. Với tâm thế ấy, họ chỉ cốt làm sao cho có phim chiếu càng nhanh càng tốt mà chẳng cần nghiêm túc quá trình làm kịch bản, sản xuất hay hậu kỳ. Họ quan niệm đơn giản rằng chỉ cần sự có mặt của vài người nổi tiếng là thừa đủ để tạo ra một cú hit phòng vé. Các bộ phim bị gắn mác “thảm họa” chủ yếu đến từ nhóm nhà sản xuất này bởi chúng được thực hiện theo kiểu hấp tấp, hời hợt như vậy. Một số “phim” thậm chí còn không thể ra rạp bởi không có nhà phát hành nào muốn dính líu tới các dự án có chất lượng quá tồi tệ. Một vấn đề đáng suy nghĩ khác là nhóm nhà sản xuất này không có sự cam kết gắn bó lâu dài. Họ tham gia ngành công nghiệp điện ảnh vì lợi nhuận, và chỉ ở lại nếu còn có lợi nhuận. Bởi tầm nhìn của họ là rất ngắn hạn, lợi nhuận từ các bộ phim có thể được chuyển sang đầu tư vào những mảng khác, trong khi nên lẽ ra được tái đầu tư để phát triển ngành điện ảnh.

Nhưng ngay cả các nhà sản xuất thuộc loại thâm niên cũng không thiếu nhược điểm. Hầu hết họ đi lên từ các vị trí quản lý hãng phim hoặc làm chủ nhiệm vận hành đoàn phim. Không cần phải nghi ngờ họ về khả năng quản trị, uy tín, hay sự gắn bó với nghề nữa. Nhưng họ lại không ổn về mặt sáng tạo, rất khó để họ có thể đảm đương vị trí của nhà sản xuất chính, người phải khởi đầu và phát triển các dự án phim. Thiếu một tầm nhìn đủ rộng về các hình thái của điện ảnh, họ tất nhiên sẽ không thấy sự cần thiết của một nền điện ảnh đa dạng. Phương pháp sản xuất thông thường của họ là đi theo các thói quen đã sẵn có, làm ra những bộ phim theo cùng một kiểu, lặp đi lặp lại. Do đó, phim Việt Nam mới gần như độc tôn thể loại Hài/ Hài Lãng Mạn, mà phần lớn vừa kém chất lượng vừa thất thu vì chẳng mấy ai muốn xem. Những nhà sản xuất dạng này không bao giờ thực sự đầu tư cho kịch bản vì họ cũng không hiểu kịch bản thế nào là tốt. Thế nên họ chọn phương án là cố gắng suy luận ra một công thức nào đó từ các trường hợp đã thành công để làm theo. Làm phim remake chẳng hạn, trở thành một công thức nổi lên sau Em Là Bà Nội Của Anh. Trong số phim này có hai bản làm lại của những phim Hàn Quốc nổi tiếng là Sắc Đẹp Ngàn Cân (bản gốc 200 Pounds Beauty) và Yêu Em Bất Chấp (bản gốc My Sassy Girl). Nhưng bất chấp danh tiếng của các phim gốc, cả hai phiên bản Việt đều trở thành những thảm họa phòng vé. Rõ ràng là, khán giả không tìm ra được lý do để mua vé cho những bản photocopy có chất lượng kém của những bộ phim cũ kỹ mà họ đã xem từ lâu. Thật buồn khi những phim kiểu này làm nên phần lớn đội hình phim Việt vì những nhà sản xuất của chúng không thể cải thiện mình. Cho nên không thể trách được khán giả coi thường điện ảnh Việt Nam, khi trong mắt họ phim nội có chất lượng quá thảm hại.

Tất nhiên là vẫn còn có một số nhà sản xuất khác biệt với phần còn lại và những người này cũng đang gặt hái nhiều thành công hơn. Các nhà sản xuất Việt Kiều vẫn đang hoạt động mạnh mẽ và phim của họ vẫn thường có chất lượng cao hơn mặt bằng chung. Tiếc là sau câu chuyện buồn của Bụi Đời Chợ Lớn, họ trở nên rón rén hơn trong việc đầu tư vào những chất liệu có tính độc đáo. Những nhà sản xuất nổi lên gần đây như Lý Hải, Đức Thịnh, Ngô Thanh Vân cũng thể hiện mình mạnh dạn và chịu chơi. Nhưng năng lực điều khiển các yếu tố sáng tạo của họ vẫn còn bị đặt dấu hỏi. Lấy Ngô Thanh Vân làm ví dụ, không ai có thể chê được sự đầu tư về độ mãn nhãn của các màn chiến đấu trong bộ phim Hai Phương của chị. Nhưng về mặt câu chuyện, vẫn còn tồn tại quá nhiều lỗ hổng và những chi tiết trời ơi. Không quá ngạc nhiên về điều này nếu biết được rằng hãng phim Studio 68 mà đả nữ đứng đầu có một quy trình phát triển dự án chú trọng vào tiến độ vì áp lực giải ngân, chứ ít khi dành đủ thời gian cho kịch bản. Thực sự phải công nhận là Hai Phượng đã làm sống lại hi vọng cho ngành công nghiệp, nhưng bản thân nó vẫn còn xa mới có thể so sánh được với trải nghiệm điện ảnh hoàn hảo mà Dòng Máu Anh Hùng mang lại cho khán giả 12 năm về trước.

Đội ngũ sản xuất của CJ E&M Việt Nam (hiện nay đã liên doanh với HK Film thành CJ HK) là một trường hợp đáng để nhắc đến. Họ là một tập thể gồm cả người Hàn và Việt, đang ở độ tuổi trên dưới 40 rất sung sức. Nhờ vào vị trị dẫn đầu không thể phủ nhận được của CJ, tập đoàn sở hữu hệ thống rạp CGV, họ sở hữu rất nhiều lợi thế và cũng không thiếu nhiệt huyết. Ngay từ khi bắt đầu tham gia thị trường vào năm 2014, họ luôn muốn mang đến một luồng gió mới cho ngành công nghiệp điện ảnh. Đáng tiếc là cho đến nay, những gì họ làm được vẫn chưa đạt được như kỳ vọng. Trong danh sách phim CJ, ta thấy có nhiều những cú xảy chân hơn là những chiến thắng. Một số phim gần đây như Tháng Năm Rực Rỡ, Chàng Vợ Của Em là những phim thành công, nhưng vẫn chưa thể vượt qua được thành tích từ 4 năm trước của Em Là Bà Nội Của Anh. Năm 2016 có lẽ là năm căng thẳng nhất về mặt tài chính cho đội ngũ này vì trong số 4 phim họ đầu tư sản xuất, có tới 3 phim thất bại về doanh thu.

Hình 5. Ba phim của CJ E&M (Vietnam) trong năm 2016

 

Ba bộ phim này được làm dựa trên các kịch bản gốc, nhưng chất lượng nội dung của chúng chỉ từ trung bình xuống tới thảm họa. Vì thiếu khả năng tìm ra các câu chuyện tốt, họ trở nên ngần ngại trước các nội dung nguyên bản, thay vào đó họ đành chấp nhận dính với phương án an toàn là làm phim remake. Kết quả là cuối năm đó, ngay cả hai dự án được chuyển thể từ các kịch bản Hàn Quốc nhưng chưa từng đem ra làm phim cũng bị dừng sản xuất. Họ cũng không đầu tư vào Em Chưa 18, bộ phim sau đó thành công vang dội. Năm 2019, ngay sau doanh số hơn 20 tỷ đáng buồn của Anh Thầy Ngôi Sao, bộ phim mang nhiều hi vọng nhất của họ là Anh Trai Yêu Quái cũng chỉ có thể thu về hơn 40 tỷ, cả hai bộ phim này đều là phim remake. Nếu như thất bại của Anh Thầy Ngôi Sao đã có thể được nhìn thấy trước ngay từ giai đoạn kịch bản, khi có quá nhiều thay đổi thiếu logic và hài nhảm hóa phiên bản gốc, thì cú ngã của Anh Trai Yêu Quái có phần đen đủi bởi phim sở hữu nội dung tốt và diễn xuất tuyệt vời của Kiều Minh Tuấn. Cũng có thể quy trách nhiệm cho công tác marketing khá hời hợt trước khi phim ra mắt, nhưng có lẽ đã đến lúc để CJ có sự thay đổi về định hướng sản xuất. Năm tới sẽ vẫn là sự xuất hiện của các phim remake mới, nhưng nên thừa nhận rằng remake không phải là bình phong an toàn để ẩn nấp. Bản thân CJ cũng cho thấy họ cầu thị với nhu cầu mới của thị trường, khi các dự án remake đang được triển khai thuộc thể loại Giật Gân. Nhưng có lẽ những hạn chế trong khả năng đọc kịch bản vẫn sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến quy trình ra quyết định của họ, cản trở họ đạt được những đột phá mà lẽ ra họ phải là người đi đầu. Không có gì nghi ngờ là nhóm sản xuất này đầy quyết tâm, rất nỗ lực làm tốt công việc, nhưng với tất cả các thế mạnh CJ đang sở hữu, chỉ tốt thôi là chưa đủ.

Đi kèm với thiếu hụt về tư duy làm nội dung, một điểm chung thường thấy khác ở các nhà sản xuất phim Việt Nam là họ không hiểu được bản chất vai trò và công việc của các đạo diễn. Trong nhiều dự án, không chỉ họ không chọn đúng kịch bản mà ngay cả đạo diễn họ cũng chọn sai. Khi khởi động dự án phim Mặt Trời, Con Ở Đâu (2018), thay vì tìm kiếm đạo diễn dựa trên kỹ năng và kinh nghiệm, tiêu chuẩn đầu tiên mà nhà sản xuất đưa ra là chọn một đạo diễn đã làm cha. Bởi vì họ tin rằng chỉ có một người như vậy mới có thể làm phim về tình cảm cha con, đáng buồn là cuối cùng chính họ phải sa thải đạo diễn họ chọn vì không đảm bảo về chuyên môn. Thất bại của hai phim Sắc Đẹp Ngàn CânYêu Em Bất Chấp có phần trách nhiệm rất lớn của các đạo diễn, những người thậm chí không hoàn thành được yêu cầu cơ bản là giúp diễn viên diễn xuất cho ra hồn. Ngay cả khi các nhà sản xuất có được một đạo diễn tốt, mối quan hệ giữa họ cũng hay gặp phải trắc trở. Nhà sản xuất thường là người thuê đạo diễn hoặc là cổ đông lớn hơn trong dự án, họ thường cảm thấy bất an khi không kiểm soát được các công tác liên quan đến sáng tạo nội dung mà đạo diễn đứng đầu. Khi không hiểu mảng này, họ không biết dựa vào cơ sở nào để tin tưởng đạo diễn. VÌ thế để giải quyết vấn đề, họ thường chọn một trong hai hướng. Một là thuê một đạo diễn thuộc dạng tốp đầu rồi để cho anh ta muốn làm gì thì làm. Nếu không đủ tiền làm chuyện đó, họ sẵn sàng chọn giải pháp đi thuê một gương mặt trẻ, không cần để ý lắm đến khả năng hay kinh nghiệm, vì như thế họ có thể áp chế được đạo diễn. Trong tình trạng như vậy, những đạo diễn có năng lực nhưng chưa sẵn một sự nghiệp đồ sộ rất ít khi có cơ hội làm phim. Ví dụ như đạo diễn Nguyễn Khắc Huy, người đã ra mắt phim đầu tay Đường Đua vào năm 2013. Dù bộ phim Hành Động/ Giật Gân này không thành công trên phòng vé, nhưng được giới chuyên môn đánh cao như là một phim hành động lôi cuốn và có chiều sâu. Vậy nhưng, dù không ai nghi ngờ tài năng của anh, Huy cũng không được mời làm đạo diễn cho dự án phim nào. Thay vào đó anh phải tự bỏ vốn để làm phim thứ hai mà buồn thay, sau khi quay xong từ 2016 anh vẫn không thể hoàn thành được phần hậu kỳ cho bộ phim này.

Những khó khăn của Huy có gốc rễ nằm ở một vấn đề mà khi nhìn qua thì có vẻ không đáng chú ý, nhưng thực sự rất cần được giải quyết. Đó là mặc dù làm trong ngành điện ảnh, nhiều nhà sản xuất lại chẳng phải những khán giả xem phim thường xuyên. Thực tế là họ xem phim quá ít và chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi hiểu biết của họ về điện ảnh thế giới hay điện ảnh nói chung là rất giới hạn. Dẫn đến là cách họ nhìn nhận về cái gọi là “phim nghệ thuật” là rất đáng bàn, khi có rất nhiều nhầm lẫn. Dựa vào những hiểu biết có hạn của mình, họ hình thành nên một quan niệm khá kỳ lạ về các đạo diễn phim. Họ cho rằng đạo diễn nào muốn làm phim có chất lượng nội dung thì đều là “đạo diễn phim nghệ thuật”, ngay cả khi họ không phải. Việt Nam có những bộ phim dành để tham gia các liên hoan, nhưng ngay cả những phim như Dành Cho Tháng Sáu (2012), Đường Đua (2013) hay Nhắm Mắt Thấy Mùa Hè (2018) cũng bị coi là “phim nghệ thuật”. Thật ra những phim này được làm với mục đích thương mại rõ ràng, chỉ có điều là chúng được sản xuất bởi các hãng phim độc lập và có dàn diễn viên không quá tên tuổi. Hậu quả là, đạo diễn những phim thế này rất dễ bị gọi là “không bán được” chỉ bởi vì góc tiếp cận của họ đối với các bộ phim khác lạ hơn cách tư duy về phim thương mại thường thấy. Một trường hợp khác nghe có vẻ mâu thuẫn với các phim kể trên những thật ra lại có cùng một gốc nguyên nhân, đó là bộ phim nghệ thuật thực thụ Song Lang (2018). Bộ phim này trở thành phim nghệ thuật đầu tiên tại Việt Nam được làm toàn bộ từ nguồn vốn tư nhân trong nước. Công ty sản xuất và các nhà đầu tư hẳn phải thực sự tin rằng phim này có thể thu hồi vốn. Có lẽ chuyện đạo diễn Leon Lê là một Việt Kiều và sự tham gia của ca sĩ ngôi sao Isaac đã tạo cho họ cái ảo tưởng đó. Sự thất bại của bộ phim tại phòng vé không phản ánh chất lượng, nhưng nó là chuyện không thể tránh khỏi trong điều kiện hiện tại của thị trường phim Việt Nam, một nơi rất khó khăn đối với phim nghệ thuật. Dù sao thì kết quả doanh thu này cũng kết lại mối cộng tác giữa Leon Lê và nhà sản xuất Ngô Thanh Vân trong một nốt nhạc buồn. Thật đáng tiếc khi nhà sản xuất mạnh mẽ nhất hiện nay và một đạo diễn thuộc loại xuất sắc nhất của chúng ta cũng không thể giữ được một mối quan hệ hợp tác mang tính xây dựng, trong đó đôi bên có thể cùng nâng nhau lên vì dự án chung.

Tầm nhìn ngắn hạn, ít am hiểu điện ảnh nói chung, hạn chế trong nhận định kịch bản, hiểu nhầm về công việc của đạo diễn cũng như mội nỗi sợ hãi mơ hồ về “phim nghệ thuật”, tất cả những nhược điểm này đã tạo ra những khó khăn cho việc ra quyết định của các nhà sản xuất. Đứng trước một ngành công nghiệp điện ảnh tràn ngập phim kém chất lượng và không mở rộng cửa cho các đạo diễn có năng lực, các nhà sản xuất rất nên có một sự tự vấn. Là những người có thể tiếp cận và nắm quyền sử dụng nguồn vốn đầu tư, tình hình sẽ không thể thay đổi nếu không có sự chuyển biến từ bên trong các nhà sản xuất Việt Nam. Chẳng ai biêt được lúc nào khán giả sẽ hoàn toàn từ chối bỏ tiền cho phim Việt Nam để tránh phí thời giờ ngoài rạp. Nền điện ảnh của chúng ta luôn cần, và hiện giờ càng cần hơn bao giờ hết, một làn sóng các nhà sản xuất có tầm nhìn điện ảnh, những người được trang bị không chỉ các kỹ năng kinh doanh. Những nhà sản xuất phim như thế sẽ là những cột trụ vững chắc để nâng đỡ ngồi nhà chung của những người làm phim Việt Nam.

Nguyễn Hữu Tuấn