Không có nền công nghiệp nào có thể tồn tại được mà không có một thị trường cho nó. Từ đầu những năm 2000, nhiều con người từ nhiều bên liên quan đã cùng nhau nỗ lực để xây dựng lại một thị trường cho phim Việt từ một nền tảng cơ sở hạ tầng gần như bằng không. Mười lăm năm trước, đến rạp xem phim còn không nằm trong thói quen của người Việt Nam. Ngày nay, chuyện hàng ngàn thanh niên tụ họp tại những cụm rạp như CGV hay Galaxy vào các cuối tuần là một chuyện hết sức bình thường. Đi cùng với đà tăng trưởng kinh tế, ngày càng có nhiều người chọn rạp chiếu phim làm nơi giải trí. Với thực tế là có cực kỳ ít nhu cầu cho nội dung Tiếng Việt trên thị trường quốc tế, số phận của các bộ phim Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường nội địa. Vì lẽ đó, tất cả các bên của nền công nghiệp này nằm dưới quyền sinh sát của khán giả trong nước. Các nhà làm phim bỏ hết tâm sức làm ra những bộ phim mà họ tin khán giả sẽ đổ xô đi xem. Các nhà phát hành phải lên chiến lược tiếp thị và truyền thông chiều theo các mối quan tâm của khán giả. Các nhà rạp phải xác lập và điều chỉnh lịch chiếu dựa trên hiểu biết và dữ liệu của họ về thị hiếu của khán giả. Không có gì phải nghi ngờ, khán giả Việt chính là nguồn lực định hình cho nền công nghiệp phim ảnh Việt Nam hôm nay và ngày mai. Nhưng chính xác thì thị hiếu của họ là gì? Đây không phải một câu hỏi dễ trả lời.

Một điều cần phải làm rõ ngay, đó là không có thị hiếu nào là bất biến. Cũng như khán giả ở mọi quốc gia khác, thị hiếu của khán giả Việt liên tục thay đổi, dù với tốc độ chậm rãi. Do đó, các nhà sản xuất dù rất cố gắng, cũng chưa bao giờ xác định được một chiến lược tất thắng cho các bộ phim của mình. Ví dụ như sau thành công lớn của bộ phim Em Là Bà Nội Của Anh (2015), vốn là một phim làm lại (remake) của tác phẩm Hàn Quốc Miss Granny (2014), nhiều người đã cho rằng remake sẽ là mẫu hình ăn tiền mới của ngành điện ảnh Việt Nam. Thực tế lại khá là đáng thất vọng. Không có một bộ phim remake nào có thể lặp lại thành công của Em Là Bà Nội Của Anh. Một số phim còn chịu lỗ lớn bởi khán giả từ chối xem những bộ phim vô hồn được làm vội vàng và tệ hơn, như thể sao chép từ bản gốc bằng máy photocopy. Trong khi đó, một trường hợp thú vị là bộ phim Em Chưa 18 (2017), một dự án ban đầu vốn bị nhiều nhà đầu tư ngó lơ khi nhìn vào dàn diễn viên gồm toàn những gương mặt mới và một kịch bản nguyên gốc giữa cơn sốt remake. Tuy vậy, bộ phim cuối cùng trở thành một cột mốc lịch sử về doanh thu phòng vé ở Việt Nam, lập tức đưa tên tuổi diễn viên Kiều Minh Tuấn lên hàng siêu sao. Ngoài ra, cũng nên kể đến những bộ phim có yếu tố đồng tính. Kể từ sau sự thành công của nhân vật Hội do Thái Hòa thủ vai trong loạt phim Để Mai Tính, nhiều nhà sản xuất tin rằng nội dung về người đồng tính có thể coi là một yếu tố hút khách trên màn ảnh Việt. Nhưng thực chất rất hiếm phim thành công về doanh thu khi chạm đến chủ đề này. Thất bại của những cái tên như Song Lang (2018), Thưa Mẹ Con Đi (2019) hay Ngôi Nhà Bươm Bướm (2019) chứng minh rằng phần đông khán giả thực sự không hề quan tâm đến chủ đề đồng tính như các nhà sản xuất tưởng. Còn lớp khán giả thuộc giới tính thứ ba lại là một thị trường ngách quá hẹp cho một phim điện ảnh được đầu tư trên dưới 10 tỷ trở lên. Những ví dụ trên cho thấy thật tai hại cho các nhà sản xuất nếu họ chắc mẩm quá sớm rằng mình hiểu thị hiếu người xem.

Nhưng cũng không khó để thấy rằng khán giả Việt Nam ưu ái đặc biệt thể loại Hài trong hơn 10 năm trở lại đây. Bảy trong số tám bộ phim thành công nhất mọi thời đại tại Việt Nam là phim hài. Đó là lý do vì sao phim có yếu tố hài luôn chiếm phần lớn số phim ra rạp. Thường thì những phim có sự góp mặt của các danh hài hạng nhất luôn thoải mái tận hưởng thành công. Điểm chung của các phim này là chúng hoàn toàn dựa vào các mảng miếng tung hứng của các ngôi sao để gây cười cho khán giả, trong khi đó bản thân nội dung câu chuyện không được chú trọng cho lắm. Khán giả chọn đi xem phim đơn giản chỉ như một hình thức thay thế để xem các danh hài biểu diễn. Vào dịp nghỉ Tết, vé xem các danh hài diễn trên sân khấu đắt hơn nhiều một chiếc vé xem phim, vì thế ra rạp xem phim đơn thuần là một lựa chọn hợp túi tiền hơn. Các nghệ sĩ ở đẳng cấp siêu danh hài như Hoài Linh trở thành những ngôi sao hái ra tiền nhất trên màn ảnh. Nghệ sĩ Thái Hoà là một trường hợp thú vị bởi anh vốn là một diễn viên chính kịch có trình độ cao. Trớ trêu thay, anh lại chỉ gặt hái thành công trong các vai hài. Những danh hài khác thường yêu cầu ít nhất 1 tỷ đồng cho một vai diễn, bất kể thời lượng vai diễn của họ trên phim. Với kinh phí trung bình của một bộ phim Việt Nam rơi vào khoảng 12 tỷ đồng, cát xê của các ngôi sao thực sự là gánh nặng không nhỏ. Dù vậy, các nhà sản xuất vẫn sẵn sàng mở hầu bao bởi những cái tên này có thể đảm bảo mức độ thành công nhất định của phim.

Nhưng trong bản thân dòng phim Hài cũng có những sự thay đổi rất vi tế nhưng hết sức rõ rệt. Đầu tiên, đó là sự xuất hiện của một ngôi sao hài không còn đảm bảo được doanh thu lớn nữa. Bộ phim gần đây nhất có sự xuất hiện của nghệ sĩ Hoài Linh là Đích Tôn Độc Đắc (2018). Phim chỉ thu được khoảng 20 tỷ đồng trong dịp Tết, thời điểm mà Hoài Linh từng là ông vua phòng vé độc tôn. Thái Hoà cũng nhận thất bại với bộ phim Fan Cuồng (2017). Phim mới nhất của anh là Chàng Vợ Của Em (2018) cũng là một trường hợp thành công nhưng không đạt đủ doanh thu kỳ vọng để lọt vào Câu Lạc Bộ Trăm Tỷ. Một danh hài nổi bật khác là Việt Hương, những phim có chị xuất hiện chưa ghi nhận cú hit trăm tỷ nào bất chấp danh tiếng rất lớn của nghệ sĩ. Thay vào những cái tên gạo cội kể trên, một thế hệ trẻ đã xuất hiện và dần chiếm được cảm tình của khán giả. Các nghệ sĩ hài như Trấn Thành, Trường Giang hay Kiều Minh Tuấn trở thành các thế lực mới về mặt doanh thu phòng vé. Không thể phủ nhận sự xuất hiện của họ đã có đóng góp to lớn vào thành công vang dội của nhiều bộ phim.

Nhưng chuyện chưa phải đã hết. Nếu nhìn kĩ hơn vào các bộ phim của thế hệ danh hài mới này, chúng ta có thể nhận thấy kịch bản phim đã được cải thiện rất nhiều nếu so với thời của nghệ sĩ Hoài Linh. Trong thập kỷ vừa qua, ngành công nghiệp điện ảnh đã và đang chứng kiến sự chuyển dịch xa rời dần dần cái gọi là phim nhảm. Tất cả 8 bộ phim đạt đỉnh doanh thu phòng vé đều là các phim có cấu trúc kịch bản và đường hướng phát triển nhân vật có bài bản. Những phim này đạt được thành công to lớn bởi khán giả vào rạp có thể thưởng thức các câu chuyện, ngay cả khi họ không phải người hâm mộ của các danh hài xuất hiện trong phim. Theo đó, những phim dựa dẫm vào các chiêu gây cười cũ mòn giờ đây không thể nào với tới những thành công như đã từng. Có vẻ khán giả cũng có cảm tình hơn và tưởng thưởng cho những bộ phim có chất lượng tốt ở khía cạnh kịch bản và lối kể chuyện. Điều đó cũng có nghĩa rằng phim hài Việt ngày càng có chất điện ảnh hơn, thay vì chỉ làm nhiệm vụ thế thân cho hài kịch sân khấu. Xu hướng này bắt đầu trở nên rõ ràng hẳn lên từ bộ phim Em Là Bà Nội Của Anh (2015), bộ phim remake được thừa hưởng một kịch bản gốc rất tốt từ điện ảnh Hàn Quốc. Những đỉnh cao phòng vé như Em Chưa 18 (2017), Siêu Sao Siêu Ngố (2018) hay Cua Lại Vợ Bầu (2019) dù còn khuyết điểm, vẫn có thể coi là đã chạm được vào trái tim của khán giả trẻ Việt Nam bởi nhân vật trong phim được xây dựng có chiều sâu hơn, đi cùng với diễn xuất lôi cuốn của các ngôi sao trẻ.

Bên cạnh đó, trường hợp thành công của loạt phim Lật Mặt đã lại đem đến một góc nhìn độc đáo vào xu hướng sản xuất phim, bởi thành công của nó không đến từ các ngôi sao, mà nhờ vào đầu tàu về sáng tạo của nó: Lý Hải. Lý Hải là một ca sĩ rẽ ngang sang nghiệp sản xuất/đạo diễn, người đã bắt đầu sự nghiệp bằng cách tự sản xuất các video ca nhạc của mình. Cho đến giờ, loạt phim quen thuộc của anh đã ra tới bốn phần, với phần thứ năm chuẩn bị chiếu trong năm 2020. Lật Mặt là sự hoà trộn của Hài với khá nhiều các thể loại như Hành Động, Tội Phạm, Kinh Dị… Vốn là một đạo diễn có kinh nghiệm dàn cảnh hành động, Lý Hải chứng minh rằng khả năng của anh còn nhiều hơn thế. Các phim của anh có cốt truyện dí dỏm, có tính giải trí cao nhưng cũng rất cảm động. Các cảnh quay trong phim anh cũng được dàn dựng sắc sảo với một phong cách đạo diễn dường như chịu ảnh hưởng bởi nhà làm phim Hồng Kông Châu Tinh Trì, người vô cùng được mến mộ ở Việt Nam. Tất cả những yếu tố trên khiến phim Lý Hải dễ dàng được yêu thích bởi khán giả Việt. Tuy thế, những bộ phim thuần túy giải trí, nhưng được làm đến nơi đến chốn như Lật Mặt vẫn hiếm hoi. Phần lớn phim mang tính giải trí của Việt Nam vẫn có kịch bản tồi. Hầu hết những phim loại này đều lặng lẽ biến mất khỏi rạp chiếu sau một hoặc hai tuần vì khán giả không thể giải trí nổi với chúng.

Hình 4. Tỷ lệ phân chia Tổng doanh thu phòng vé (USD) năm 2018 dựa theo Thể loại

 

Mặc dù Hài là thể loại thống trị phim Việt, nhưng tình hình lại khác hẳn khi chúng ta đưa các phim ngoại chiếu tại Việt Nam vào để xem xét. Biểu đồ ở Hình 4 cho thấy thể loại Hài chỉ thành công thứ 3 trong các thể loại phổ biến và chỉ đóng góp 15.24% tổng doanh thu phòng vé. Nhờ các phim bom tấn Hollywood mà Hành Động và Giả Tưởng trở thành những thể loại thực sự được ưa chuộng nhất ở thị trường Việt Nam. Vấn đề gặp phải với các thể loại này là chúng đòi hỏi kinh phí cao. Khi thử sức với các thể loại này, nếu các nhà sản xuất Việt Nam không thể thoả mãn được khán giả với chất lượng sản xuất, với cách dàn dựng các pha hành động và kỹ xảo vi tính, khán giả sẽ không buồn để mắt. Nhưng vào tháng hai năm 2019 mới đây, một phim hành động kinh phí cao, Hai Phượng, đã trở thành phim Việt Nam thành công nhất cho đến thời điểm này. Sản xuất và nữ chính của phim, Ngô Thanh Vân, người kiên quyết đương đầu với mọi rủi ro để chiến đấu cho dự án này, cuối cùng đã được tưởng thưởng xứng đáng. Bộ phim võ thuật gay cấn này đã đạt được khoảng 150 tỷ tại phòng chiếu. Tuy không bằng được 190 tỷ của Cua Lại Vợ Bầu, phim lại được trình chiếu tại một số rạp ở Hoa Kỳ và đặc biệt là một thỏa thuận có giá trị lớn với Netflix. Dù tổng doanh thu của phim không được tiết lộ, nhưng con số này được tin là không thấp hơn 10 triệu USD. Thành công chưa từng có này chứng minh một điều rằng khán giả Việt Nam luôn sẵn sàng ủng hộ những phim Việt được đầu tư kỹ lưỡng.

Nhưng chỉ đầu tư vào chất lượng sản xuất chưa phải là tất cả. Vào năm 2017, Victor Vũ, đạo diễn nổi tiếng nhất ở Việt Nam hiện nay, đã cho ra mắt một phim hành động có tựa đề Lôi Báo. Với kinh phí lớn và có sự góp sức của một biên đạo hành động từ Hoa Kỳ, Vincent Wang, bộ phim có được nhiều trường đoạn hành động rất mãn nhãn. Vì tò mò, khán giả kéo đến rạp trong vài ngày đầu. Nhưng khi sức nóng ban đầu nguội dần, chất lượng câu chuyện của Lôi Báo lại không đủ để tạo hiệu ứng truyền miệng tích cực. Kịch bản đầy những lỗ hổng thiếu logic và quan trọng nhất là, khán giả đã không chịu đựng nổi những nhân vật được xây dựng quá hời hợt. Cuối cùng, phim bị rút khỏi rạp khi còn chưa đủ hoà vốn. Ngược lại, kịch bản của Hai Phượng được xử lý khá thông minh. Dù vẫn còn vài trúc trắc, đường dây câu chuyện giản dị dễ hiểu và được kể rành mạch. Nữ chính được xây dựng khiến người xem thấy đáng tin và bản thân Ngô Thanh Vân cũng có một màn trình diễn đầy ấn tượng. Khán giả hoàn toàn yêu thích nhân vật này và dễ dàng bị cuốn theo hành trình Hai Phượng tìm lại con gái từ bọn buôn người. Hơn cả những trường đoạn chiến đấu xuất sắc, chính câu chuyện và nhân vật chính mới đem lại thành công cho bom tấn này. Từ trường hợp Hai Phượng nhìn lại sự nghiệp của đạo diễn Victor Vũ, ta thấy thành công của anh với thể loại phim Giật Gân cũng từng được xây dựng trên nền tảng những câu chuyện bí ẩn được đầu tư nghiêm túc ngay từ giai đoạn viết kịch bản. Như vậy, cái mà khán giả từ chối xem không phải là các thể loại, mà là những kịch bản phim yếu kém.

Cuối năm 2019, một bộ phim gia đình có yếu tố hài là Anh Trai Yêu Quái được kỳ vọng trở thành một cú hit bởi một nội dung có thể khiến khán giả khóc vì cảm động và cười ngặt nghẽo vì diễn xuất xuất sắc của Kiều Minh Tuấn. Tiếc thay, những gì thu được chỉ là một doanh thu sấp xỉ 40 tỷ khá nhạt nhòa. Hay một trường hợp phim hài lãng mạn khác là phim Vu Quy Đại Náo, phim được đánh giá tốt về chuyên môn nhưng đã hoàn toàn lép vế khi ra mắt cùng lúc với Hai Phượng. Hai phim này không lỗ vốn, nhưng kết quả kinh doanh lại kém hơn rất nhiều so với dự đoán ban đầu của những người đã nhiều năm theo dõi thị trường điện ảnh. Nếu đi sâu vào phân tích cụ thể thì có rất nhiều lý do để giải thích cho các trường hợp này, nhưng nhìn chung làm ra một phim Hài tốt có lẽ là chưa đủ khi khán giả đã bắt đầu kỳ vọng một cái gì đó đột phá hơn ở phim Việt Nam. Mặt khác, cùng có con số doanh thu trung bình khá ở khoảng 40-50 tỷ, các phim có yếu tố kinh dị như Thất Sơn Tâm Linh, Bắc Kim Thang, Pháp Sư Mù, lại cho thấy một góc nhìn khác. Phần lớn doanh thu của ba bộ phim này đến từ cuối tuần đầu tiên sau khi được công chiếu, cho thấy sự quan tâm rất lớn của khán giả đối với thể loại phim này. Chỉ đáng tiếc là chất lượng nội dung của chúng không đủ tốt để duy trì đà tăng doanh thu bằng cách tạo ra hiệu ứng truyền miệng tích cực. Tạo được sự chú ý sau khi tung trailer, bộ phim Giật Gân cuối cùng của năm 2019, Chị Chị Em Em, cũng nhanh chóng thu được 50 tỷ chỉ sau 1 tuần công chiếu chính thức. Những kết quả như thế chắc chắn sẽ dọn đường cho thêm nhiều phim thuộc thể loại này ra rạp vào năm tới.

Giờ đây, có thể khẳng định hiện tượng của một thể loại Hài thống trị cả nền điện ảnh chỉ còn là kết quả của một thói quen đang dần lỗi thời, thể hiện một sức ì trong tư duy của các đơn vị sản xuất phim. Kể từ thời điểm này, sự phong phú về thể loại nên được coi là yếu tố chính yếu cho bước phát triển tiếp theo của nền công nghiệp điện ảnh Việt Nam. Không có gì phải nghi ngờ rằng khán giả Việt vẫn chào đón phim ở mọi thể loại chừng nào chúng được đầu tư tử tế về nội dung, nhưng họ đã phải chờ quá lâu cho những bộ phim như thế. Các nhà biên kịch của các thể loại khác phim hài không phải nhóm duy nhất được hưởng lợi. Làm phim với nhiều thể loại sẽ tạo động lực phát triển con người cho các mảng chuyên môn đặc thù như biên đạo hành động, đóng thế, kỹ xảo đồ họa, hiệu quả đặc biệt, hoá trang đặc biệt, vv… Những công việc này chẳng mấy khi có cơ hội được dùng đến với phim hài, và nhân lực trong nghề hiển nhiên là khó có thể đủ sống chỉ với việc thi thoảng tham gia vào một phim hiếm hoi nào đó ở thể loại khác. Chính vì thiếu cơ hội thực hành như vậy, nên khi so sánh với các nước trong khu vực, các mảng chuyên môn này của Việt Nam còn khá yếu. Chỉ khi có nhiều cơ hội làm việc hơn, các chuyên viên của chúng ta mới được tập trung làm nghề, và do đó gia tăng năng lực chuyên môn. Đương nhiên, để biến tương lai này thành hiện thực, những người có quyền quyết định là các nhà sản xuất phải là những người đầu tiên dám dũng cảm làm một điều gì đó nằm ngoài tư duy an toàn thường thấy.

Nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này. Nếu không bị cấm chiếu, hẳn Bụi Đời Chợ Lớn (2015), một phim Hành Động có chủ đề băng nhóm vốn rất được trông chờ cũng có khả năng trở thành một cú hit lớn. Trường hợp đau đớn này đã trở thành một bước lùi nghiêm trọng cho ngành điện ảnh, khi sau đó không ai dám sản xuất một phim hành động kinh phí lớn trong vài năm liền. Kinh dị là một thể loại được khán giả yêu thích, nhưng chỉ có vài phim kinh dị Việt ra rạp trong những năm gần đây. Các nhà sản xuất do dự khi thử thách với thể loại này bởi những rủi ro có thể đến từ khâu kiểm duyệt của Nhà nước. Thất Sơn Tâm Linh, một bộ phim kinh dị/giật gân được dựa trên câu chuyện về kẻ giết người hàng loạt đầu tiên được biết đến ở Việt Nam, đã phải lùi ngày ra rạp tới cả nửa năm, thay vì đến với khán giả vào tháng 4 năm 2019. Nguyên do là các nhà làm phim phải hoàn thành yêu cầu của Cục Điện Ảnh về việc thay đổi một số cảnh quay quá máu me ghê rợn đối với quan điểm của Hội Đồng Kiểm Duyệt. Bạo lực, máu me cũng là những lí do đằng sau lệnh cấm chiếu của Bụi Đời Chợ Lớn. Vấn đề ở chỗ, không có một tiêu chuẩn rõ ràng nào về mức độ của cái gọi là “bạo lực” trong một bộ phim, vì Nhà nước không ban hành bất cứ một bộ quy định cụ thể nào. Vai trò của Cục Điện Ảnh sẽ được nói đến nhiều hơn ở phần sau của báo cáo, nhưng có một điều chắc chắn, rằng cơ quan quản lý nhà nước nên để những người làm phim được khám phá nhiều đề tài khác nhau, và khuyến khích thử sức trong những thể loại khác nhau bằng cách loại bỏ dần dần những rào cản hành chính được nhắc đến ở trên.

Ngày nay, giới trẻ Việt không xa lạ gì với phim ảnh nước ngoài, đặc biệt là các bộ phim Hollywood. Cùng với thời gian, nhận thức chung của họ về điện ảnh chắc chắn sẽ dần trở nên tinh tế hơn, cho dù hiện tại nó vẫn còn sơ khai. Vào tháng 7 năm 2019, bộ phim Ký Sinh Trùng của đạo diễn Bong Jun Ho đã thu về 50 tỷ sau 2 tuần, trở thành bộ phim điện ảnh Hàn Quốc thành công nhất tại Việt Nam. Khi một bộ phim đoạt Cành Cọ Vàng được chào đón bởi khán giả Việt Nam, rõ ràng là họ có thể và muốn được trải nghiệm những hình thái giải trí cao như vậy. Họ cần phải được tiếp cận nhiều hơn với những bộ phim ở đẳng cấp như Ký Sinh Trùng. Một số tổ chức văn hoá nước ngoài và đại sứ quán vẫn tổ chức các tuần phim hàng năm ở các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Liên hoan Phim Quốc tế Hà Nội được tổ chức hai năm một lần cũng dần chiếm được sự quan tâm của khán giả địa phương. Nhưng những sự kiện như vậy nên được tổ chức thường xuyên và mở rộng hơn ra các tỉnh thành khác. Ngay một thành phố lớn như Đà Nẵng cũng hiếm khi có các sự kiện phim ảnh mặc dù đây là địa điểm hoàn hảo để tổ chức các liên hoan. Một liên hoan phim quốc tế dành để tôn vinh dòng phim cổ trang tại cố đô Huế chẳng hạn, có thể trở thành một sự kiến độc đáo và thú vị ngay cả trên bình diện quốc tế.

Nhưng trên tất cả, cần phải có nhiều hơn những bộ phim Việt chất lượng. Điều này sẽ có lợi cho cả người làm phim và khán giả xem phim. Hiện giờ, nhiệm vụ chính của các nhà làm phim nên là từng bước tạo niềm tin nơi khán giả, khiến họ thay đổi thái độ với phim Việt bằng cách làm những bộ phim Việt tốt hơn. Ngoài việc đầu tư cho các ngôi sao sáng giá, các nhà sản xuất rất nên đầu tư thêm thời gian và tiền bạc cho kịch bản, yếu tố mà buồn thay, vẫn chưa được họ quan tâm đúng mức. Lúc này đây chính là thời điểm để các nhà làm phim Việt Nam tập trung hơn vào kịch bản phim nếu họ muốn đạt được những thành tựu mới trong tương lai. Nếu các nhà làm phim cứ tiếp tục làm mà không đếm xỉa đến việc sáng tạo ra các câu chuyện tốt, khán giả sẽ giữ mãi ấn tượng về điện ảnh Việt như là một dòng điện ảnh yếu kém. Dần dần, họ sẽ từ chối bỏ tiền mua vé xem phim Việt. Hơn nữa, không có cách nào tốt hơn để khán giả quen với nghệ thuật điện ảnh bằng thứ điện ảnh nói bằng ngôn ngữ của chính họ. Lớp khán giả mới này sẽ dần trở thành nền móng vững chắc cho một nền công nghiệp phim ảnh bền vững hơn trong những năm sắp tới.

Nguyễn Hữu Tuấn