Kính thưa quý độc giả,

Trong năm 2019, tôi rất vinh dự khi được đài thọ bởi Busan Film Commission (BFC, Ủy Ban Phim Busan) để học tập và nghiên cứu trong sáu tháng tại Busan Asian Film School (AFiS, Trường Điện Ảnh Châu Á Busan), thành phố Busan, Đại Hàn Dân Quốc. Tôi đã cùng với 19 nhà sản xuất phim đến từ các quốc gia trong châu lục tham gia chương trình International Film Business Academy (Học Viện Kinh Doanh Phim Quốc Tế) tại trường. Đây là một khóa học nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu lẫn nhau giữa các thị trường điện ảnh, thúc đẩy hợp tác sản xuất phim giữa các nước Châu Á, tạo ra một mạng lưới dành cho thế hệ các nhà sản xuất tiếp theo của Châu Á và quan trọng nhất là trang bị cho chúng tôi những hiểu biết về các mảng công tác trong hoạt động kinh doanh về điện ảnh trên thị trường quốc tế, bao gồm cả hợp tác sản xuất phim quốc tế và mua bán phim quốc tế. Trong rất nhiều nhiệm vụ mà chúng tôi phải thực hiện tại trường, một việc rất quan trọng được BFC yêu cầu đó là mỗi người phải viết một bản báo cáo về ngành công nghiệp điện ảnh nước mình. Đối với tôi, là một đạo diễn và sản xuất phim, việc phải hoàn thành một văn bản mang tính học thuật là rất lạ lẫm. Nhưng nhận ra đây là cơ hội để tôi hệ thống lại những điều mình suy nghĩ về ngành điện ảnh Việt Nam, với sự động viên của các giáo sư và trách nhiệm phải giúp các nhà sản xuất Châu Á hiểu được thị trường điện ảnh của chúng ta, tôi đã cố gắng hết sức để hoàn thành bản báo cáo bằng tiếng Anh vào tháng 9/2019.

Thú thực, ban đầu tôi không có ý định chuyển ngữ bản báo cáo này vì e rằng có thể khiến nhiều bên trong ngành hiểu sai về mình, cũng như ý định của mình. Tuy nhiên, sau khi hoàn thành bản báo cáo tiếng Anh, tôi nhận ra rằng mình đã bỏ vào đó rất nhiều những suy nghĩ của bản thân, dựa trên những kinh nghiệm mà tôi đúc kết được trong hơn 10 năm quan sát và tham gia vào ngành điện ảnh mà tôi may mắn có được. Những điều đó có lẽ đã vượt qua cả giới hạn của một bản báo cáo chỉ để dành cho các chuyên gia quốc tế, tôi nghĩ rằng có lẽ bản báo cáo sẽ có ý nghĩa hơn nếu như được chính người Việt Nam đọc. Vì thế, cuối cùng tôi quyết định rằng mình phải góp một chút công sức khiêm tốn cho ngành công nghiệp mà mình đang làm việc bằng một bản báo cáo bằng tiếng Việt. Nhưng không chỉ đơn giản là chuyển ngữ, bản tiếng Việt phải được cập nhật thêm một số dữ kiện mới cũng như rất nhiều những luận điểm mới mà tôi thấy còn chưa được nói hết trong khuôn khổ bản báo cáo nộp cho nhà trường. Đó là lý do vì sao phiên bản này được tồn tại và tới tay quý độc giả.

Trong nội dung của bn báo cáo này, tôi tập trung vào những chuyển biến của ngành điện ảnh trong hai năm 2018-2019, nhưng cũng cố gắng đưa vào những thông tin của cả thập niên để giúp quý độc giả có một cái nhìn tổng quan về bức tranh chung của ngành. Chỉ bằng kinh nghiệm hạn hẹp của mình, tôi không dám khẳng định rằng đây là một văn bản mang tính khoa học hoàn hảo. Trong điều kiện mà rất nhiều dữ kiện của ngành điện ảnh không bao giờ được các bên liên quan công bố, chắc chắn sẽ có sai sót ở đâu đó trong báo cáo này, vì vậy xin được quý độc giả lượng thứ và chỉ ra giúp cho. Cũng chính vì tính chất nhạy cảm ấy mà tôi không thể dẫn nguồn chính thức tất cả các số liệu trong báo cáo, điều lẽ ra là bắt buộc. Ngoài ra, bản báo cáo cũng sẽ mang tính cá nhân của người viết rất cao, với những ý tưởng của bản thân tôi, mà chưa chắc đã hoàn toàn hợp lý. Nếu như quý độc giả không đồng tình, tôi rất mong nhận được các ý kiến phản biện. Tôi cũng chân thành xin độc giả lượng thứ nếu trong bản báo cáo có điều gì có thể làm quý độc giả cảm thấy cá nhân hay tổ chức của mình bị ảnh hưởng. Tôi mong quý độc giả tin rằng tôi đã viết bản báo cáo này với một tinh thần khách quan, trong sáng nhất, tôi chỉ muốn đưa ra những dữ kiến chính xác nhất và những suy nghĩ trung thực, mang tính xây dựng nhất. Trong báo cáo này, tôi không hề mong muốn xúc phạm hay hạ thấp bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào. Hơn hết, tôi chỉ có một lòng yêu nghề nghiệp của mình và muốn được đóng góp cho một tương lai tốt đẹp của nền điện ảnh Việt Nam, cho người làm phim Việt Nam.

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến BFCAFiS vì đã trao cho tôi cơ hội có được sáu tháng vô cùng tuyệt vời tại thành phố điện ảnh Busan, đây là những kỷ niệm sẽ đi theo tôi trong suốt cuộc đời. Tôi xin chân thành cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Cho Hee-young, người đã theo sát tôi trong quá trình viết báo cáo, và Giáo sư Darcy Paquet, người đã dành thời gian để sửa chữa tất cả các lỗi văn phạm tiếng Anh mà tôi mắc phải. Tôi xin chân thành cám ơn Nhà sản xuất Vũ Quỳnh Hà, Đạo diễn Phan Gia Nhật Linh, Nhà báo Nguyễn Trọng Thiên Ân, những người đã giúp tôi có thêm rất nhiều thông tin đa dạng. Tôi xin cám ơn các website Boxofficevietnam.comMoveek.com vì đã cung cấp cho tôi những dữ liệu vô giá, tôi mong các bạn sẽ tiếp tục đồng hành lâu dài với ngành điện ảnh Việt Nam. Tôi xin cám ơn Đạo diễn Andy Nguyen, người đã cho tôi động lực để bắt tay vào bản báo cáo tiếng Việt. Và riêng với phiên bản này, tôi xin được dành sự biết ơn sâu sắc tới các cộng tác viên vô cùng nhiệt tình và tốt bụng, những người đã giúp tôi chuyển ngữ cơ bản toàn bộ báo cáo tiếng Anh. Đó là anh Trần Hoàng Sơn, anh Đặng Ngọc Quang, chị Nguyễn Diệp Thùy Anh và chị Nguyễn Ngọc Kim. Tôi xin cám ơn tất cả từ tận đáy lòng.

Quý độc giả thân mến, nếu quý độc giả có nhã ý muốn trao đổi với tôi, xin vui lòng liên lạc thông qua hộp thư điện tử: huutuanfd@gmail.com. Tôi vô cùng hạnh phúc và luôn sẵn sàng để được chia sẻ với quý anh, chị. Nhưng trước hết, hi vọng rằng độc giả của tôi sẽ không thấy uổng phí thời gian quý giá để đọc bản báo cáo này.

 

 Trân trọng,

Nguyễn Hữu Tuấn

 MỞ ĐẦU

Đã có một thời kỳ dài trong quá khứ, thị trường phim và ngành điện ảnh Việt Nam được coi như đã chết lâm sàng. Nhưng ngành công nghiệp này đã dần hồi sinh nhờ chính sách xã hội hóa của Nhà nước vào đầu thập niên 2000, mà điểm nhấn của nó là bộ Luật Điện Ảnh được ban hành vào năm 2006. Bộ luật này đã trở thành hòn đá tảng cho kỷ nguyên mới của ngành công nghiệp điện ảnh và trình chiếu phim tại Việt Nam. Ngày nay, Việt Nam đã trở thành một trong những thị trường phim phát triển nhanh nhất ở châu Á. Với sự tham gia của các tập đoàn Hàn Quốc như CJ hay Lotte, nhiều ý kiến lạc quan tiên đoán rằng ​​Việt Nam sẽ trở thành một “Hàn Quốc kế tiếp” trong ngành công nghiệp điện ảnh toàn cầu.

Theo một báo cáo thị trường năm 2018, từ năm 2011 đến ngày 30 tháng 9 năm 2018, thị trường phim Việt Nam đã đóng góp được tới 738.098.742 USD cho thị trường toàn cầu và đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 24,9% mỗi năm. Đồng thời, theo thông kê gần nhất, số lượng rạp chiếu đã tăng từ 22 lên 1, và số lượng phòng chiếu là từ 124 lên 950. Đây thực sự là những con số gây ấn tượng mạnh cho các quan sát viên quốc tế. Bản thân thị trường Việt Nam tự thân cũng có nhiều lợi thế cho việc sản xuất và kinh doanh phim, nếu so với các nước trong khu vực.

Nhờ phát triển muộn, hệ thống phát hành phim mà chúng ta đang có rất rõ ràng, chuyên nghiệp hóa và minh bạch hơn hẳn Thái Lan, nơi vẫn tồn tại một hệ thống vài chục năm tuổi, có sự chi phối của các công ty phân phối phim cấp vùng mang nhiều màu sắc mafia. Các nước như Malaysia, Indonesia hay Singapore lại quá đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ, làm cho thị trường điện ảnh bị chia nhỏ thành các mảng riêng biệt. Trong khi đó, Việt Nam có lợi thế của một quốc gia có mức độ đồng nhất về văn hóa cao tương tự Hàn Quốc hay Nhật Bản, nơi một bộ phim sản xuất ra có thể được đưa tới đông đảo khán giả trong nước mà không phải lo lắng về rào cản ngôn ngữ nào.

Hình 1. Tổng doanh thu phòng vé toàn quốc (GBO) trong 8 năm vừa qua

Nhưng những chỉ số thị trường hay lợi thế kể trên không thể truyền tải được hết bức tranh toàn cảnh của ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam. Trong khi chúng có thể gây ấn tượng với người ngoài, thì nhiều người trong cuộc vẫn quan ngại với tình hình hiện tại. Sau bảy năm không ngừng tăng trưởng, tổng doanh thu phòng vé toàn quốc năm 2018 bất ngờ sụt giảm 3,2%. Phim Việt Nam cũng không nằm ngoài khỏi thất bại này, ngay cả khi đóng góp 26%, thu về tổng cộng 35.301.893 USD trong số 138.363.326 USD. Kết quả này hoàn toàn không thể dự đoán được vào đầu năm 2018, bởi năm 2017 đã là một năm rất thành công của ngành làm phim với bộ phim Em Chưa 18, thu về hơn 140 tỷ. Vậy nhưng, điện ảnh Việt Nam đã phải nếm trải một loạt trái đắng trong năm 2018. Nhiều phim gục ngã, một số khác thì không đáp ứng được kỳ vọng dù chúng đã được xem như những bộ phim đinh.

Nhưng bất ngờ chưa dừng lại ở đó. Khi vẫn còn đang băn khoăn về kết quả năm ngoái, ngành điện ảnh bỗng nhiên lại thấy một loạt các kỷ lục mới, chỉ trong nửa đầu năm 2019. Trong giai đoạn ngắn này, bốn bộ phim Việt Nam đã thu được hơn 100 tỷ doanh thu phòng chiếu, một thành tích mà chỉ có bốn bộ phim khác từ năm 2011 đến 2018 có thể đạt được. Cua Lại Vợ Bầu của đạo diễn Nhất Trung thậm chí chỉ thiếu khoảng 10 tỷ nữa là cán mốc doanh thu 200 tỷ. Những bộ phim này đã tạo nên một Câu Lạc Bộ Trăm Tỷ khá đông vui, mà bộ phim Mắt Biếc cũng đang đầy hi vọng trở thành thành viên mới nhất ngay trong những ngày cuối cùng của năm 2019.

Hình 2. Tám phim Việt Nam đã vượt qua mốc doanh thu 100 tỷ (tính đến tháng 12/2019)

Tất cả những dao động kịch tính này chứng tỏ rằng sau hơn một thập kỷ phục sinh từ đống tro tàn, cánh chim phượng hoàng của ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam vẫn chưa tìm được một quỹ đạo bay thực sự ổn định. Sự bất định đó làm cho bất kỳ dự đoán lạc quan nào về một sự phát triển bền vững cũng trở nên không chắc chắn theo, ít nhất là trong tương lai gần. Trong cộng đồng các nhà làm phim Việt Nam, rất nhiều người thực sự bi quan về những năm sắp tới, thậm chí là không giấu được nỗi thất vọng. Có quá nhiều vấn đề khác nhau, rất dễ ngợp nếu nhìn vào tất cả cùng một lúc, nhưng hầu hết các vấn đề sống còn của ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam đều không phải mới xuất hiện gần đây, chúng đã tồn tại từ nhiều năm rồi.

Bản báo cáo này được viết để xem xét về các vấn đề đó, với mong muốn rằng có thể cố gắng đề xuất một số giải pháp, từ quan điểm của một nhà làm phim. Là một người từng làm kiến trúc, người viết muốn mô tả ngành công nghiệp điện ảnh như một công trình kiến trúc, mà ở đó mỗi thành viên là một thành phần kết cấu cơ bản. Dù thiếu bất kỳ thành phần nào cũng sẽ không thể có một ngôi nhà, không thể có một chốn nương thân chung.

Nguyễn Hữu Tuấn