Larry Diamond và Marc F. Plattner


Trong số nhiều yếu tố hình thành bản chất và tính khả thi của nền dân chủ trên khắp thế giới, thì thiết kế hệ thống bầu cử duy trì được một sự chú ý đặc biệt của các học giả và các nhà thực hành dân chủ. Hầu hết các điều kiện hỗ trợ cho sự phát triển dân chủ đều thay đổi chậm rãi, và không hoàn toàn theo thiết kế. Có thể mất nhiều năm (tối thiểu là như vậy) để xây dựng nền văn hóa chính trị dân chủ, một xã hội dân sự chủ động và đa nguyên, và một cơ sở hạ tầng hành chính nhà nước hiệu quả. Hình thành một nền kinh tế phát triển tương đối, với một tầng lớp trung lưu đông đảo và mức độ bất bình đẳng vừa phải, là một thử thách đối với những quốc gia còn nghèo hiện nay mà có lẽ phải mất cả vài thập kỷ mới đạt được. Tuy nhiên, kiến trúc của hệ thống chính trị của một quốc gia có thể được thay đổi một cách tương đối nhanh chóng. Với một số sửa đổi trong hiến pháp hay viết thêm điều khoản mới, một quốc gia có thể đi từ tập quyền đến liên bang hay từ tổng thống tới nghị viện. Thường thì hệ thống bầu cử có thể được thay đổi chỉ bởi pháp luật, kể cả khi thiếu vắng sự sửa đổi hiến pháp. Trong số nhiều tham số mang tính cấu trúc và lịch sử có khả năng tác động lên nền dân chủ, chẳng gì cởi mở với thay đổi nhanh chóng và được thiết kế một cách có chủ ý hơn hệ thống bầu cử.

Ngoài ra, ngày càng nhiều lý thuyết và bằng chứng mạnh mẽ chỉ ra rằng thiết kế hệ thống bầu cử liên quan nhiều đến bản chất của hệ thống đảng phái, đặc tính của chính trị và chính sách công. Đặc biệt trong sự kết hợp với một vài tham số mấu chốt, như cấu trúc của cơ quan hành pháp (tổng thống hoặc nghị viện) và sự phân phối quyền lực theo chiều dọc (tập quyền hay liên bang), hệ thống bầu cử có thể định hình sự nhất quán của việc đảng phái kiểm soát chính phủ, sự bền vững của chính quyền, độ rộng và hợp pháp của sự đại diện, năng lực của hệ thống trong việc quản lý xung đột, mức độ tham gia của người dân, và tính phản hồi chung của hệ thống. Những chiều kích của tính chất và chất lượng dân chủ này, ngược lại, có thể định đoạt số phận của nền dân chủ. Một bản thiết kế hệ thống bầu cử tồi có thể phân cực chính trị bầu cử hoặc có thể chia rẽ nghị viện nghiêm trọng tới mức không gì có thể được hoàn thành, không một quyết định nào có thể được đưa ra. Ở trường hợp khác, nó có thể vô tình cho phép các lực lượng chính trị cực đoan với những cam kết dân chủ còn mập mờ tiếm quyền. Ở chiều hướng khác, khi hệ thống bầu cử cố gắng né tránh đối mặt với sự chia rẽ bằng cách cưỡng ép tạo ra một đa số, nó có thể khiến những tập thể chính trị và xã hội quan trọng bị khai trừ hoặc thiếu tính đại diện, đánh đổi một vấn đề để lấy một vấn đề khác có thể còn khó giải quyết hơn. Vì vậy, trong khi một số lý thuyết gia đề xuất đầy tự tin về một loại hình hệ thống bầu cử phù hợp với mọi quốc gia, số khác lại cảnh báo rằng thử thách thực sự để tìm ra một loại hình phù hợp phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh riêng biệt của từng quốc gia và ở đó được cho là tồn tại sự đe dọa nghiêm trọng nhất đối với nền dân chủ (ví dụ, sự thiếu hụt đa số tuyệt đối hay sự khai trừ thiểu số quan trọng).

Trong bài luận mở đầu của cuốn sách này, một trong số những lý thuyết gia đi đầu về xây dựng thể chế dân chủ, Donald L. Horowitz, tập trung vào cách một hệ thống bầu cử mạnh mẽ có thể định hình bản chất của nền dân chủ ra sao và các sự lựa chọn có thể gây tranh cãi tới mức nào. Có vô số cách tổng hợp ý kiến cử tri để xác định xem đảng phái nào có bao nhiêu ghế trong nghị viện. “Mọi hệ thống bầu cử đều có những định kiến,” Horowitz cảnh báo, và không một hệ thống bầu cử nào chỉ đơn thuần chuyển đổi một cách thụ động từ “những mong muốn cá nhân sang lựa chọn tập thể.” Do đó, những người thiết kế hệ thống – cũng như đại thể cộng động người dân mà họ đại diện quyền lợi – cần phải nhận thức được những định kiến này và có những sự lựa chọn tỉnh táo giữa các giá trị cạnh tranh và các lựa chọn bị ép buộc.

Horowitz nhận định sáu mục tiêu khả thi của một hệ thống bầu cử, một vài trong số đó trực tiếp mâu thuẫn với nhau. Đầu tiên là mục tiêu quy chuẩn ngày càng phổ biến của tính tỉ lệ – tức là, cố gắng đạt được sự phân bố số ghế giữa các đảng phái trong nghị viện tỉ lệ thuận với phân phối số phiếu tốt nhất có thể. Các quan sát viên thường gọi nó là “sự công bằng”. Tuy nhiên, Horowitz nhấn mạnh rằng, sự công bằng ở đây “chỉ là một trong nhiều mục tiêu, và nó có thể không phải là mục tiêu quan trọng nhất.” Kết quả có tính tỉ lệ nhất được sản sinh bởi kiểu hình này hay kiểu hình khác của đại diện tỉ lệ (PR), và nhìn chung các khu vực bầu cử (district) càng ít hoặc càng đông (cực điểm là một quốc gia với chỉ một khu vực bầu cử như Israel và Hà Lan) thì kết quả càng có tính tỉ lệ.

Tuy nhiên, mục tiêu thứ hai, là trách nhiệm của các đại biểu được bầu ra đối với cử tri, và rõ ràng khi các khu vực bầu cử càng lớn, thì mối quan hệ trực tiếp giữa các đại diện với các cử tri ở khu vực đó càng yếu. Hơn thế nữa, như Horowitz lưu ý, PR (đặc biệt khi sử dụng kiểu hình danh sách quốc gia) thường “dựa vào sức mạnh của các thủ lĩnh đảng phái” để xác định thứ hạng các ứng viên trên danh sách, do đó làm suy yếu trách nhiệm đối với cử tri. Mục tiêu thứ ba của Horowitz là chính phủ bền vững, một chính phủ có thể tại vị trong thời gian một nhiệm kỳ của nghị viện (nếu đó là hệ thống nghị viện). Mục tiêu này cũng xuất hiện mâu thuẫn với tính tỉ lệ, bởi hệ thống bầu cử càng có tính tỉ lệ, thì nghị viện càng bị chia rẽ (thành nhiều phe nhóm) và vì thế càng khó khăn hơn trong việc tôi luyện và duy trì một liên minh cầm quyền.

Mục tiêu thứ tư là cung cấp nền tảng giúp “Condorcet winner” luôn thắng cử (Condorcet winner là một ứng cử viên luôn thắng trong các cuộc thi đấu tay đôi với các ứng viên khác). Mục tiêu này khó đạt được khi dùng hệ thống PR, nhưng lại được hệ thống bầu cử lá phiếu thay thế (alternative vote-AV) thực hiện rất tốt, bằng cách yêu cầu cử tri xếp hạng các ứng viên được lọc ra từ các khu vực bầu cử một đại biểu (single-member districts), sau đó loại bỏ ứng viên xếp cuối cùng và phân phối số phiếu mà ứng viên đó đạt được cho các những ứng viên còn lại, và cứ tiếp tục như vậy (nếu cần thiết) cho tới khi một ứng viên nhận được số phiếu đa số. Bằng cách khuyến khích các chính trị gia ảnh hưởng lên một số lượng nhiều hơn khối cử tri cơ sở (ví dụ như chung sắc tộc hoặc tư tưởng), AV ủng hộ những ứng viên có xu hướng trung dung. Như vậy, theo Horowitz ở những bài viết khác, và như Ben Reilly cũng đã trình bày kỹ lưỡng ở một phần khác trong cuốn sách này, hệ thống AV có khả năng đạt được mục tiêu thứ năm, thúc đẩy hòa giải dân tộc (hay hòa giải tôn giáo) bằng cách khích lệ các ứng viên và đảng phái thể hiện một khuôn mặt trung dung nhằm hướng tới sự ủng hộ cho vị trí thứ hai từ các cử tri của đảng phái hoặc sắc tộc khác. Loại hình “lá phiếu xếp hạng” này chỉ có thể hiệu quả khi có một số lượng lớn các khu vực bầu cử mà trong đó không đảng nào hay nhóm nào là đa số, và bất cứ một trường hợp nào, AV là một hệ thống đa số thống trị (tức là chỉ cho các nhóm đa số có người đại diện, còn các nhóm thiểu số thì không có tiếng nói) với khả năng mang lại những kết quả bầu cử rất bất cân xứng. Những cơ chế khác, như hệ thống của Li-băng (Lebanon) với việc dành chỉ tiêu số ghế cho các nhóm sắc tộc thiểu số (nhưng tất cả cử tri bỏ phiếu cho tất cả số ghế) có thể khuyến khích liên minh các nhóm sắc tộc khác nhau một cách tương tự hoặc thậm chí còn mạnh mẽ hơn hệ thống AV thông thường, nhưng vẫn phải đối mặt với các nhược điểm khác. Mục tiêu thứ sáu là ưu tiên thiểu số, có thể được thực hiện không chỉ bởi PR mà còn bởi nhiều phương cách trắng trợn và cực đoan khác, mặc dù phải trả một cái giá đó là “các ứng viên sẽ chọn hình ảnh cực đoan để nâng cao vị thế” của họ trong mắt nhóm cử tri đặc trưng của họ.

Đó là những sự lựa chọn khó khăn, bao gồm quy phạm quyền lực và sự cân nhắc chính trị, song hậu quả của việc áp dụng hệ thống bầu cử không phải luôn luôn đơn giản, hay ngay lập tức, hoặc có thể dự đoán được. Di sản của những chia rẽ và động cơ vẫn duy trì, ít nhất là trong một khoảng thời gian nữa. Do vậy, Horowitz cảnh báo, “ảnh hưởng trọn vẹn của một hệ thống bầu cử mới chỉ có thể được đo đạc sau hai hay ba cuộc bầu cử, khi các chính trị gia và cử tri đã kịp làm quen và thích nghi với động cơ của hệ thống bầu cử đó.”

Như Richard Soudriette và Andrew Ellis chỉ ra ở Chương 2, nhiều nơi đã thay đổi hệ thống bầu cử của họ trong những năm gần đây. Khoảng tám nước thì có một nước đã thay đổi tính chất cơ bản của hệ thống, và nhiều nước khác đã điều chỉnh hệ thống. Rõ ràng, khi họ chọn giữa thay đổi hoặc thiết kế lại một hệ thống bầu cử, ngày càng có nhiều nước quan tâm đến sự công bằng và tính toàn bộ, bao gồm sự đại diện của phụ nữ và các nhóm thiểu số. Loại hình phổ biến nhất của chuyển dịch sang đa số là từ một kiểu hệ thống đa số tuyệt đối, ví dụ như phương pháp khu vực bầu cử một đại biểu, mà đại diện là hệ thống ai về trước là người thắng cuộc (first-past-the-post-FPTP) ở Anh Quốc, hay ở Hoa Kỳ, đến kiểu đại diện tỉ lệ (PR) hoặc một kiểu kết hợp giữa phương pháp khu vực bầu cử một đại biểu với một số ghế được quyết định bởi kiểu danh sách đại diện tỉ lệ (PR lists). Như được chỉ ra ở Bảng 2 (trang 21), từ năm 1993 có mười hai quốc gia đã thực hiện chính xác bước chuyển dịch trên, trong khi ba quốc gia đã thay đổi từ PR sang một hệ thống hỗn hợp. Hệ thống đại diện tỉ lệ theo danh sách đảng (party-list PR) vẫn được sử dụng bởi nhiều quốc gia hơn bất kì loại hình hệ thống bầu cử nào (hơn một phần ba các quốc gia tổ chức bầu cử một cách cạnh tranh sử dụng nó). Tuy nhiên hệ thống hỗn hợp đang ngày càng được chú ý, một phần bởi vì nó đảm bảo một mức tỉ lệ phiếu-ghế nhất định đồng thời làm giảm xu hướng phân mảnh đảng của PR, và phần khác bởi nó cho phép các quốc gia có được sự công bằng và tính toàn bộ nhờ PR kèm theo một vài trách nhiệm trực tiếp đối với cử tri khu vực vốn xuất hiện một cách tự nhiên trong khu vực bầu cử một đại biểu. Tuy nhiên, cc hệ thống kết hợp thay đổi một cách có cân nhắc, đặc biệt về mặt liệu họ có đi theo một lô-gic hòa trộn thật sự hay thay vào đó lại phân tán số ghế cho các đảng bằng cách sử dụng luật tỉ lệ. Đa phần các hệ thống hỗn hợp thực sự là là hỗn hợp hay còn gọi là “các hệ thống song song,” mà ở đó một khối ghế (ở nhiều quốc gia là một nửa hay sáu mươi phần trăm) được chọn một cách nghiêm chỉnh thông qua FPTP và số khác thông qua PR. Tuy nhiên, một vài quốc gia khác bao gồm: Ý, New Zealand, Mexico, và Bolivia, lại mô phỏng nhiều hay ít mô hình “tỉ lệ thành viên hỗn hợp” của nước Đức. Trong hệ thống này, bỏ phiếu danh sách đảng xác định tỉ lệ phân chia số ghế cho mỗi đảng (thay đổi tuỳ theo ngưỡng nào có thể được áp đặt, ví dụ như tối thiểu là năm phần trăm ở Đức). Từ các số ghế giành được ở mỗi khu vực bầu cử riêng lẻ, mỗi đảng sẽ được trao cho một số ghế chỉ tiêu từ danh sách PR của họ, đủ để họ có được sự phần bổ ghế trên toàn quốc tỉ lệ với số phiếu. Soudriette và Ellis cung cấp trong Bảng 1 bảng thống kê đầy đủ về tất cả các hệ thống bầu cử được sử dụng trên thế giới, bao gồm các hệ thống tổng thống được bầu cử trực tiếp, hầu hết họ được chọn ra từ hệ thống hai vòng, có cả vòng đấu lại khi không ứng viên nào nhận được đa số phiếu ở vòng đầu tiên.

Ở chương 3, nhà khoa học chính trị người Úc, Ben Reilly, dựa trên nghiên cứu đi trước của Donald Horowitz để xem xét tính có ích của các hệ thống bầu cử ưu tiên với vai trò như một công cụ của quản lý xung đột sắc tộc. Theo Horowitz, Reilly quan tâm tới mức độ mà các hệ thống bầu cử có thể “ khích lệ hợp tác và thoả hiệp giữa các nhóm đối thủ, và vì vậy phải làm gì để giảm thiểu sự nhức nhối trong vấn đề sắc tộc.”  Cũng như Horowitz, Reilly ủng hộ cơ chế hùn phiếu (vote pooling mechanisms), điều “ khiến các chính trị gia phụ thuộc lẫn nhau trong việc bầu cử theo nhóm thay vì cá nhân.” Những hệ thống như vậy mang tới lợi thế cho các ứng viên trung dung (moderate candidates), những người vượt lên những khác biệt đảng phái và sắc tộc để giành được lựa chọn cho vị trí thứ hai hay thấp hơn từ những người cử tri, và do đó họ thể hiện “ năng lực đại diện cho một nhóm thay vì cá nhân họ.” Trong thuật ngữ của Reilly, đó là những “hệ thống hướng tâm” mà trong đó các đảng phải và ứng viên bị ép buộc và đi tới một trung tâm thoả thiệp. Cả Horowitz và Reilly đều đánh giá hệ thống lá phiếu thay thế là một cơ chế tiềm năng trong vấn đề này. Mỗi tác giả cũng nhận ra giá trị của hệ thống lá phiếu đơn khả nhượng (STV), mà trong đó mỗi cử tri xếp hạng một danh sách ứng viên trong các khu vực bầu cử nhiều thành viên (multimember districts). Hệ thống STV hoạt động như hệ thống tỉ lệ. Vì thế, các ứng viên không cần thắng đa số phiếu, mà chỉ cần vượt qua ngưỡng tối thiểu (minimum quota) (như Horowitz đã chỉ ra, sẽ là một phần năm và cộng thêm 1 trong một khu vực bầu cử bốn đại biểu). Ưu điểm của STV là nó công bằng hơn, có tính tỉ lệ hơn so với AV, có thể đại diện cho thiểu số tốt hơn. Về nhược điểm, Horowitz nhấn mạnh, là ngưỡng bầu cử thấp “ít khuyến khích các thoả thuận liên đảng để chuyển giao phiếu bầu,” và vì vậy sẽ sinh ra “các khuyến khích thoả hiệp” yếu hơn so với AV, một hệ thống mà ở đó một ứng viên phải hội tụ đủ các phiếu bầu ở mức ưu tiên thấp hơn để có thể thắng đa số phiếu tại các khu vực bầu cử.

Xem xét các kinh nghiệm bầu cử ưu tiên ở Estonia, Úc, Fiji, và Papua New Guinea, Reilly kết luận rằng các hệ thống hùn phiếu (vote-pooling) này có thể tạo điều kiện cho thoả hiệp sắc tộc và vận động chính trị hướng tâm. Tuy nhiên, có nhiều điều kiện cần thoả mãn để biến những hiệu ứng này thành hiện thực. Đầu tiên, cần có “nhóm trung tâm ôn hòa” từ cả các thủ lĩnh chính trị và cử tri, sẵn sàng đáp lại các khuyến khích được sinh ra bởi hệ thống bầu cử ưu tiên. Thứ hai, bởi nó cần thời gian để cho các thủ lĩnh chính trị và những người ủng hộ nắm được và thích ứng với các khuyến khích mới được sinh ra bởi hệ thống ưu tiên, sự tiếp nối hệ thống là quan trọng; một khi hệ thống bầu cử mới được đưa vào, nó cần phải được vận hành một cách nhất quán qua nhiều cuộc bầu cử. Và thứ ba, các nhóm cần được cấu trúc và phân bố trong nhiều khu vực bầu cử nhằm có một cuộc tranh đua và sự bất định, và do đó mới thúc đẩy các nhóm thỏa hiệp hùn phiếu với nhau ở một số lượng khu vực khác nhau. Nếu như ở Fiji, các khu vực bầu cử “tạo sức thu hút bằng cách trở thành một đặc khu cho một nhóm sắc tộc này hoặc nhóm khác,” thì tính hợp lý của tổng hòa sắc tộc của bỏ phiếu ưu tiên sẽ biến mất.

   Mô hình hùn phiếu (vote-pooling) của hệ thống bầu cử khuyến khích liên minh đa sắc tộc tương phản rõ với mô hình dân chủ thỏa hiệp đa nguyên (consociational) hay “chia sẻ quyền lực” của nền dân chủ trong các xã hội bị chia rẽ. Lô-gic của hệ thống này, như Lijphart nhắc lại trong chương 4 của cuốn sách bạn đang đọc, là chấp nhận sự phân chia sắc tộc như một điều kiện cho trước và do đó sáng tạo ra các cơ chế có thể cho phép các đảng phái chính trị chia sẻ quyền lực và nguồn lực tỉ lệ với số phiếu bầu chọn và số lượng của họ trong toàn dân. Hai nền tảng của mô hình này, Lijphart nhấn mạnh, là chia sẻ quyền lực – “sự tham gia đại diện của tất cả các nhóm cộng đồng quan trọng trong ra các quyết định chính trị, đặc biệt là ở mức độ hành pháp” – và tự trị nhóm, cho phép các nhóm khác nhau (theo lãnh thổ hay văn hóa) quyền kiểm soát các hoạt động xã hội, giáo dục, sử dụng ngôn ngữ…v.v. Đại diện tỉ lệ là cơ chế chủ yếu cổ vũ cho chia sẻ quyền lực nhưng ở một mô hình thỏa hiệp đa nguyên (consociational) đầy đủ, chúng ta có ba cơ chế khác: 1) một sự liên kết lớn của tất cả hay hầu hết tất cả các đảng phái, nhằm phân chia các ban ngành và các cơ quan hành pháp khác theo tỉ lệ gần đúng với sức mạnh chính trị trong nghị viện và trong xã hội của họ; 2) một quyền phủ quyết các chính sách chủ chốt của chính phủ (do đó, chúng cần có được sự đồng thuận); và 3) tự trị nhóm bằng hệ thống liên bang hay các phương tiện phi lãnh thổ. Horowitz và những người khác chỉ trích mô hình thỏa hiệp đa nguyên (consociational)vì đặt quá nhiều sự tin tưởng vào sự sẵn sàng và khả năng của các lãnh đạo trong việc cố gắng đạt được thỏa hiệp sau khi các cuộc bầu cử đã xác lập và phân cực khối đoàn kết sắc tộc, thay vì nổ lực kết nối các nhóm chia rẽ và rèn luyện sự hợp tác trước, thông qua liên minh tiền bầu cử. Ở trong bài luận này, Lijhart bỏ qua các bình luận về tư tưởng thỏa hiệp đa nguyên (consociationalism) của ông, bao gồm Horowitz, bởi chúng không có các biện pháp thay thế thiết thực đối với mô hình chia sẻ quyền lực. Hệ thống lá phiếu thay thế (alternative vote) là một hệ thống đa số tuyệt đối có thể khiến cho các nhóm thiểu số sắc tộc bị bỏ rơi hoàn toàn. Bằng các ví dụ từ Iraq hiện nay, Lijphart cảnh cáo rằng bất cứ hệ thống bầu cử nào không đảm bảo sự công bằng và đại diện hoàn toàn của mỗi nhóm thì đều có nguy cơ đối mặt với sự xa lánh và khước từ hệ thống của các nhóm này; vì vậy ông rất ủng hộ PR.

Chia sẻ quyền lực, Lijphart khẳng định, không phải là một mô hình phù hợp với tất cả, mà đúng hơn là nó có thể được áp dụng bằng nhiều cách đối với những hoàn cảnh của các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, ông vẫn cảm thấy một số mô hình thể chế thường phù hợp cho tất cả xã hội bị chia rẽ (thực vậy, đối với tất cả các quốc gia). Hệ thống bầu cử tốt nhất, ông khẳng định, là một hệ thống có tính tỉ lệ hoàn toàn (kể cả hệ thống PR hay hệ thống tỉ lệ hỗn hợp thành viên kiểu Đức), sử dụng danh sách đảng phái kín hoặc gần kín; điều này khuyến khích sự hình thành của các đảng phái mạnh và gắn kết chặt chẽ. Một số thay đổi trong tỉ lệ tương xứng đơn thuần có thể được đảm bảo, thông qua việc thành lập các khu vực bầu cử nhiều đại biểu không quá lớn hay sự ra đời của một ngưỡng cử tri khiêm tốn. Lijphart đặc biệt thích các hệ thống PR hai tầng như tại Đan Mạch, nơi mà đa số các ghế được chọn từ các khu vực bầu cử nhiều đại biểu có quy mô trung bình, và sau đó, một số lượng nhỏ ghế bồi hoàn (compensatory seats) được phân bố để đảm bảo tổng tỉ lệ cân xứng toàn quốc lớn hơn các tỷ lệ số phiếu và tỷ lệ ghế trong quốc hội của các đảng. Như trong nhiều bài viết khác của ông, Lijphart kêu gọi áp dụng hệ thống PR vào hệ thống quốc hội của chính phủ, nơi tạo điều kiện cho sự hình thành liên minh với sự chia sẻ quyền lực rộng lớn và tránh khỏi các tính chất được-mất không công bằng của các cuộc bầu cử tổng thống. Hơn thế nữa, ông cảnh báo rằng trong các hệ thống nghị viện, tổng thống nên nắm toàn bộ quyền lãnh đạo dân tộc, và được bầu chọn bởi quốc hội (lý tưởng nhất là thông qua một số yêu cầu về đồng thuận chung) nhưng không thông qua bầu cử trực tiếp. Với các nhóm tập trung theo khu vực, chủ nghĩa liên bang là “một cách thức tuyệt vời” giúp các nhóm này có khả năng tự trị. Về vấn đề này, Lijhart khuyến khích rằng nên để thượng viện ở thế yếu hơn và phát triển một hệ thống các đơn vị đồng nhất và tương đối nhằm đảm bảo sự tự chủ và tránh được sự bành trướng của một số quốc gia lớn.

Vai trò của luật bầu cử dưới hình thức chủ nghĩa liên bang tạo nên mối quan ngại trong phân tích của R. Kent Weaver ở chương 5. Câu hỏi mà Weaver đặt ra là, chủ nghĩa liên bang và hệ thống bầu cử đã thực hiện tương tác với một hệ thống khác bằng cách nào? Liệu các hệ thống liên bang có đang tạo ra sự khác biệt giữa những gì nằm trong yêu cầu của mình với hệ thống bầu cử? Câu trả lời là: không có quá nhiều phân biệt. Weaver kết luận: “Chủ nghĩa liên bang tương thích với nhiều luật bầu cử khác nhau ở cả mức độ địa phương và quốc gia.” Và vì vậy, hệ thống liên bang biến đổi nhiều theo số lượng và đặc tính của các đảng chiếm ưu thế. Một vài hệ thống liên bang sử dụng hệ thống bầu cử PR và một số sử dụng hệ thống đa số tương đối (hay ai về đích trước thì thắng). Úc là nước duy nhất áp dụng hệ thống bầu cử AV cho hạ viện và hệ thống lá phiếu đơn khả nhượng STV cho thượng viện. Hầu hết các nước còn lại áp dụng hệ thống bầu cử giống nhau cho các cơ quan lập pháp địa phương. Tại những khu vực có bản sắc địa phương đậm đà và khác biệt, các hệ thống đa số tuyệt đối như hệ thống FPTP có xu hướng tập trung các mặt mạnh của từng đảng theo khu vực đồng nhất. Vì vậy, trái ngược một cách hết sức rõ ràng với PR, hệ thống bầu cử FPTP “rất dễ loại trừ một số đại hạt (territorial exclusion) ra khỏi các cuộc họp kín của đảng cầm quyền ở cấp quốc gia trong hệ thống nghị viện”. Điều này, tới lượt nó, sẽ có khả năng khiến cho tình trạng thờ ơ với các vấn đề chính trị trong một số khu vực trở nên ngày càng nghiêm trọng hơn. Nguyên tắc đa số tuyệt đối có thể ngăn các đảng ly khai giành được nhiều ghế, nhưng một khi các đảng “phản hệ thống” này chạm tới mốc đa số trọng yếu 35% hoặc hơn, hệ thống FPTP trong thực tế có thể giúp các đảng này ngày càng mạnh hơn. Những tác động hỗn hợp này khiến Weaver phải tiếp tục đặt dấu hỏi về việc liệu có tồn tại một loại hình hệ thống bầu cử nào phù hợp nhất để  điều hành các liên bang dân chủ.

Tranh cãi về hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ

Trong nhiều thập niên từ trước tới nay, các cuộc tranh luận về thiết kết thể chế trong các nền dân chủ đều xoay quanh các lựa chọn cơ bản giữa tính hợp lý về đa số và chia sẻ quyền lực, và giữa hai hệ thống bầu cử: hệ thống FPTP và hệ thống PR. Năm 1991, Tạp chí Dân chủ đã xuất bản một chuyên đề của tác giả Arend Lijphart với nội dung tranh luận về tính ưu việt nói chung của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ PR, đặc biệt trong các nền dân chủ mới và các xã hội bị phân hóa sâu sắc. Bài nghiên cứu thẳng thắn của Lijphart đã gây ra một cuộc tranh luận mạnh mẽ giữa ông và nhiều nhà phê bình của PR. Trong Phần II, chúng tôi xin đưa lại nguyên văn những bài báo hiện vẫn đang tiếp tục được trích dẫn hết sức rộng rãi này. Trong chương 6, Lijphart phản đối nền dân chủ đa số và ủng hộ mô hình đồng thuận chung, vì mô hình này “ra sức giới hạn, phân chia, tách rời, và chia sẻ quyền lực,” và đề cao đa đảng, các chính phủ liên minh, và các mối quan hệ quyền lực hành pháp – lập pháp. Bằng việc đảm bảo hầu hết hệ thống đa đảng, đại diện tỉ lệ (kết hợp với chế độ nghị viện) là nguyên liệu chính tạo ra nền dân chủ bằng cách thức đồng thuận. Tuy nhiên, Lijhart vẫn giữ vững quan điểm cho rằng, bên cạnh mục tiêu đảm bảo quyền đại diện của nhóm thiểu số và hoạt động quản lý xung đột sắc tộc được hiệu quả hơn, hệ thống bầu cử PR nên được ưu tiên vì bản chất dân chủ của hệ thống này rõ nét hơn. Hơn nữa, các dữ liệu của ông về nền dân chủ phương Tây cũng ám chỉ rằng các hệ thống nghị viện PR nên cải thiện chất lượng dân chủ, bao gồm tỷ lệ số lượng cử tri cao, mà không khiến cho tính cai trị của nhà nước và hiệu suất kinh tế bị suy giảm để các nhà phê bình có cớ cáo buộc các tình trạng trên chỉ là “cái giá phải trả” cho việc áp dụng các hệ thống bầu cử PR. Các hệ thống bầu cử PR trung dung như ở Đức và Thụy Điển, với số lượng các đảng nghị viện tham gia ngày càng tăng, đòi hỏi sự kết hợp hiệu quả nhất giữa hoạt động chia sẻ quyền lực và hoạt động quản lý từ phía chính phủ đối với các nền dân chủ mới.

    Các tranh luận của Lijphart gây tranh cãi ở nhiều khía cạnh. Điều cần quan tâm ở đây là về các hệ thống bầu cử, do vậy, chúng ta không nên đề cập tới cuộc tranh luận diễn ra giữa chính phủ tổng thống và chính phủ nghị viện; tuy nhiên, vẫn cần chú ý tới lập luận của Donald Horowitz rằng chế độ tổng thống có thể trở thành một công cụ phục vụ hoạt động quản lý xung đột sắc tộc bằng cách đưa ra một biểu tượng liên sắc tộc cho quốc gia và khích lệ hòa giải và thỏa hiệp dân tộc ở mức độ triển khai mô hình bầu cử hùn phiếu (bao gồm lá phiếu ưu tiên và yêu cầu của Nigeria về việc ứng viên tổng thống phải giành được tối thiểu 25% số phiếu bầu trong ít nhất hai phần ba các bang được bầu chọn ở vòng  bầu cử đầu tiên).

Ở chương 7 và 8, Guy Lardeyret và Quentin Quade kịch liệt đả kích thứ tình huống mà Lijhart đã đặt ra cho hệ thống bầu cử PR và lập luận hết sức đanh thép về các ưu điểm của dân chủ đa số tuyệt đối. Thực vậy, Lardeyret là người ủng hộ tính khả thi cao nhất của hệ thống đa số tuyệt đối, mà theo quan điểm của ông, do hệ thống này không đi theo chế độ tổng thống mà đi theo chế độ nghị viện kết hợp với phương thức đa số tương đối – hệ thống Westminster. Vì các cuộc bầu cử đa số tương đối như trên dành cho cơ quan lập pháp có xu hướng làm trỗi dậy hệ thống hai đảng hay hai đảng chiếm ưu thế, chúng tạo ra các chính thể nghị viện hùng mạnh, hợp nhất quyền lực hành pháp và lập pháp, đồng thời giải phóng các nhu cầu về liên minh. Lardeyret tin rằng mối nguy hiểm lớn nhất nằm ở sự phân mảnh kết hợp với hệ thống PR nghị viện, như trường hợp đã từng xảy ra với Nền Cộng hòa Thứ tư ngay trên nước Pháp quê hương của ông. Quentin Quade cũng trích dẫn ví dụ này, cũng như tình hình nước Ý trước giai đoạn Mussolini cầm quyền và tình hình nước Đức trong giai đoạn ông Weimar lên nắm quyền, để cho thấy làm cách nào mà hệ thống bầu cử PR có thể vừa duy trì tình trạng hòa giải và thỏa hiệp vừa duy trình tình trạng phân tách, chủ nghĩa cực đoan, và tình trạng tê liệt chính phủ. Xét về mô hình đồng thuận, cũng giống như hầu hết các nhà phê bình khác, Quade tập trung sự chú ý vào tính mỏng manh thuộc về bản chất của chính phủ liên minh.

Vì hệ thống bầu cử PR tạo động lực cho quyền đại diện của nhóm thiểu số và nhờ đó, làm gia tăng tình trạng phân cực và phân tách nội bộ đảng, do đó, Lardeyret vẫn giữ vững quan điểm cho rằng, “Hệ thống này rất nguy hiểm đối với các quốc gia đang đối mặt với tình trạng chia rẽ dân tộc hay văn hóa.” Ngược lại, “Các đảng phái trong các hệ thống đa số tương đối có xu hướng ôn hòa hơn vì hầu hết số phiếu đều đến từ số cử tri trung tâm còn phân vân.” Sự hòa giải dân tộc sẽ đạt tới đỉnh điểm khi các thành viên của một nhóm sắc tộc phải cạnh tranh với một nhóm khác trong các khu vực bầu cử một đại biểu, dọc theo hố ngăn phân chia giao nhau giữa các dòng tư tưởng và chính trị. Lardeyret thích hệ thống đa số tương đối không chỉ bởi vì nó có thể tạo ra một chính phủ vững mạnh, ổn định và quyết đoán hơn. Cũng như Quade, ông tin tưởng rằng các hệ thống bầu cử đa số tương đối “đậm đà tính dân chủ hơn và hiệu quả hơn,” bởi, không giống như PR, hệ thống này loại bỏ các đảng phái cực đoan, bỏ qua các đảng nhỏ, và trao cho cử tri quyền lựa chọn người lãnh đạo, chứ không trao toàn bộ quyền quyết định vào tay các nhóm lãnh đạo của các đảng vẫn ngày đêm thực hiện các cuộc thương lượng bí mật phía sau hậu trường. Quade viết: “Hệ thống đa số tương đối khích lệ các đảng cạnh tranh hình thành thái độ đa số…ôn hòa, để tìm ra đáp án cho hòa giải…nói chung, trước công chúng, nhiệm vụ cấp bách cần thực hiện trước cuộc bầu cử chính là những gì mà hệ thống bầu cử PR đã làm sau cuộc bầu cử, là những gì mà Lijhart đã hết lời ca ngợi.

Lựa chọn thể chế của hệ thống PR (với chính phủ nghị viện) hay đa số tương đối (trong hệ thống theo chế độ tổng thống hoặc chế độ nghị viện) có liên quan đến cuộc tranh luận mang tính thực nghiệm và phân tích giữa Lijphart và phe phê bình ông. Đồng thời, giữa các giá trị cạnh tranh cũng nổ ra tình trạng tranh luận hết sức căng thẳng. Có một mâu thuẫn nội tại nhất định giữa tính đại diện và tính cai trị trong các nền dân chủ. Hệ thống bầu cử PR phải chấp nhận rủi ro hi sinh sự cai trị quyết đoán và luân phiên rõ ràng để tối đa hóa tính đại diện. Đối thủ của hệ thống PR đặt ưu tiên cao hơn vào tính cai trị và coi nhẹ tính đại diện trực tiếp cho cơ quan lập pháp của nhiều bộ phận trong xã hội. Tuy nhiên, để công bằng, hầu như không có điển hình nổi bật nào của nền dân chủ ủng hộ loại hình bầu cử PR cực đoan – với hầu như không có ngưỡng bầu cử tối thiểu cần cho việc đắc cử vào ghế trong quốc hội – đã tồn tại một thời gian ở Ý và Israel. Trong thực tế, trong thập niên 90, Ý đã chuyển sang một hệ thống bầu cử đa số tuyệt đối, trong khi Israel đã dần dần nâng ngưỡng đại cử tri lên đến 2% (trong cuộc bầu cử tháng 3 năm 2006 gần đây nhất tại đất nước này). Như Lijphart nhấn mạnh, có rất nhiều loại hình và mức độ của hệ thống bầu cử PR; và hệ thống bầu cử PR trung dung với ngưỡng tối thiểu 5% tại Đức lại có xu hướng tăng cơ hội trúng cử cho một số lượng trung bình của các bên. Đáp trả quan điểm của Lardeyret và Quade trong Chương 9, Lijphart không chỉ bảo vệ các phân tích so sánh của mình về hoạt động của hệ thống bầu cử PR và hệ thống đa số. Ông cũng nhắc lại các trường hợp quy chuẩn cho hệ thống này – “mà kết quả bầu cử không tương xứng tỷ lệ vốn đã không công bằng và không có tính dân chủ” – nhấn mạnh rằng không ai trong số các đảng cầm quyền trong thời kỳ hậu chiến của Anh thực hiện giành được đa số phiếu (một thực tế được chứng minh là chính xác cho tất cả các chính phủ độc đảng tại Ấn Độ).

Liệu sau đó có tồn tại một hệ thống bầu cử phù hợp với tất cả các quốc gia và các khoảnh khắc lịch sử hay không? Trong chương 10, khi nhìn lại cuộc tranh luận về hệ thống PR, Ken Gladdish đã khẳng khái trả lời không. Trong thực tế, có vô số các công thức tạo ra hệ thống bầu cử. Gladdish nhấn mạnh, mỗi công thức này đều có giá trị và lợi thế, và mỗi kiểu hình hệ thống đều phục vụ nền dân chủ một cách tốt nhất theo cách thức riêng biệt tùy theo từng quốc gia, dựa trên bản chất của sự phân chia giai tầng trong xã hội và các loại hình huy động chính trị. Cách thức giải quyết căng thẳng giữa tính đại diện và tính cai trị của một quốc gia là một lựa chọn giá trị bắt buộc phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử và văn hóa đặc thù của quốc gia đó. Hệ thống bầu cử PR không chỉ tạo điều kiện cho quá trình phân mảnh lập pháp, và từ đó khiến cho việc thành lập và duy trì chính phủ trở nên ngày càng khó khăn hơn; mà hệ thống này còn sản sinh ra các liên kết tương thích kỳ quặc, khiến cho việc cai trị rất khó diễn ra một cách trôi chảy, hoặc nhóm nội các thiểu số không thể tự tin với khả năng cai trị của chính mình.

Hơn nữa, hậu quả của tính đại diện sản sinh từ việc áp dụng hệ thống này lại không nhất quán, vì các hệ thống bầu cử theo danh sách đảng với các khu vực cử tri nhiều thành viên lớn (hoặc, tại Israel và Hà Lan, đặc biệt không thấy bóng dáng bất cứ khu vực cử tri nào) đã không tồn tại các kết nối trực tiếp giữa cử tri và đại biểu. Sự thiếu trách nhiệm của các Nghị sĩ Quốc hội với các khu vực cử tri theo địa lý cụ thể đã trở thành vấn đề lớn được nêu ra trong cuộc tranh luận về hệ thống bầu cử tại Cộng Hòa Nam Phi. Tuy nhiên, đặc biệt khi có nhiều hơn hai đảng tham gia bầu cử như tại Anh và Ấn Độ, hệ thống bầu cử đa số tương đối có thể khiến cho kết quả bầu cử càng thêm sai lệch hết sức nặng nề (Đảng Lao Động và Đảng Bảo Thủ tại Anh đã liên tục giành chiến thắng vào quốc hội, trường hợp nhiều nhất lên tới đơn cử 40% số phiếu bầu). Bên cạnh đó, theo chú ý của Gladdish, hệ thống bầu cử đa số tương đối cũng có xu hướng không thu hút được sự chú ý của cử tri (thường là đa số cử tri) tại các khu vực bầu cử, nơi không tránh khỏi cuộc cạnh tranh giành ghế. Do đó, thiết kế thống bầu cử là một tập hợp các lựa chọn hết sức khó khăn không thể chỉ dựa vào lý thuyết hay trừu tượng mà thành; hoạt động này bắt buộc phải được thực hiện dựa trên cơ sở “thực tiễn và linh động tùy theo tình hình của mỗi quốc gia”.

Học hỏi từ kinh nghiệm quốc gia và khu vực

Nếu nhận định của Gladdish về việc loại hình hệ thống bầu cử tốt nhất dành cho một quốc gia sẽ phụ thuộc vào sự phân chia giai tầng xã hội và thực tế lịch sử, chính trị của chính quốc gia đó là điều đúng đắn, thì chúng ta cần phải đặc biệt chú ý tới tính đa dạng trong các kinh nghiệm của quốc gia hay vùng lãnh thổ về hệ thống bầu cử. Trong Phần III, chúng ta sẽ xem xét tới vấn đề này. Hãy bắt đầu đánh giá bằng việc xem xét lại cuộc tranh luận giữa hai học giả nghiên cứu khoa học chính trị hàng đầu châu Phi, ông Andrew Reynolds và ông Joel Barkan, về việc liệu hệ thống bầu cử PR có phải là hệ thống bầu cử hiệu quả nhất dành cho các nền dân chủ tại châu Phi hay không. Ông Reynolds (người đã viết luận án tiến sĩ tiếp nối đề tài của Arend Lijhart) tranh luận một cách hết sức hùng hồn về việc kết hợp giữa hệ thống bầu cử PR và quy tắc đặt ra trong quốc hội ở bối cảnh diễn ra tại châu Phi. Tranh luận này vọng lại các lo ngại của Lijhart về việc nâng cao tính bao trùm, việc chia sẻ quyền lực và né tránh tình trạng “chính trị có tổng bằng không”. Khi xem xét các trải nghiệm chính trị diễn ra tại Malawi, Zambia, Namibia và Cộng Hòa Nam Phi vào đầu thập niên 90, cùng với làn sóng của quá trình chuyển đổi sang dân chủ, Gladdish cho thấy không một lời chỉ trích nào của Lardeyret nhắm vào hệ thống bầu cử PR có sức thuyết phục tốt tại khu vực Nam Phi. Thay vì thúc đẩy tình trạng cực đoan bằng cách để các đảng ngoại vi tiến vào nội bộ quốc hội, hệ thống bầu cử PR có xu hướng “kết hợp các đảng cực đoan, trao cho họ động lực để bầu cử trong hòa bình thay vì bạo lực”. Đây là kết quả hết sức đáng kinh ngạc đến từ việc tổ chức theo ngưỡng bầu cử thấp, cho phép các đảng cách mạng và quân phiệt da đen, cũng như các đảng tự do quy mô nhỏ, bước chân vào quốc hội Cộng Hòa Nam Phi. Thay vì nâng cao vị thế của các đảng độc tôn dân tộc, hệ thống bầu cử PR cho phép các đảng tại quốc gia này được kết hợp các danh sách thành viên đa sắc tộc ở mức độ có nguy cơ đơn thuần là bất khả thi dưới hệ thống bầu cử FPTP. Đương nhiên, nếu xét tới quyền lực bao trùm liên quan đến việc bầu cử của Đại hội Quốc gia Phi châu ANC, rất dễ sử dụng kinh nghiệm của Cộng Hòa Nam Phi để bác bỏ các cảnh báo về tính bất ổn và yếu kém của các chính phủ vận hành dưới hệ thống bầu cử PR và các đòn bẩy đi quá giới hạn cần thiết của các đảng cực đoạn. Tuy nhiên, điều khiến Reynolds lo lắng nhất là thất bại của hệ thống bầu cử PR trong việc cho phép các cử tri buộc các đại diện của mình phải chịu trách nhiệm (hoặc thậm chí chỉ để cử tri biết được ai là đại diện của mình) khi các khu vực cử tri có quy mô rộng như tại Cộng Hòa Nam Phi. Đây là một lý do cho việc ông này ra sức khuyến cáo việc áp dụng hệ thống bầu cử PR trên các khu vực cử tri có quy mô trung bình (chỉ có từ 5 tới 12 thành viên) và cần tới các danh sách mở để cử tri có thể lựa chọn các cá nhân ứng viên từ các đảng tham gia.

Theo quan điểm của Reynolds, đối với việc giải quyết các xung đột sắc tộc, vẫn có lý do thậm chí còn thuyết phục hơn trong việc ủng hộ việc áp dụng hệ thống bầu cử PR. Giống như Weaver, Reynolds có phần lo ngại về các hậu quả phân cực từ các kết quả bầu cử khi áp dụng hệ thống bầu cử FPTP, tức là cá nhân các đảng sẽ có quyền lực bao trùm toàn bộ một khu vực nhất định. Ví dụ điển hình được đưa ra là các cuộc bầu cử đa đảng đầu tiên diễn ra tại Malawi vào năm 1994, khi ba đảng ở các khu vực địa lý khác nhau đều giành được 75% cho tới 100% số ghế mỗi đảng trong tầm kiểm soát về mặt lãnh thổ của mình, bất chấp sự hiện diện của các phe đối lập lớn. Trong mỗi tình huống, đặc tính đa số tuyệt đối của FPTP đã khiến cho các nhóm thiểu số bị cảm giác bỏ rơi và gần như không được đại diện, trong khi với hệ thống bầu cử PR, mỗi khu vực đáng lẽ sẽ có đại diện chính trị của các đảng chiếm ưu thế trong các khu vực khác. Sự hòa trộn chính trị theo khu vực địa lý giúp cải thiện tính tổng quát về mặt sắc tộc và hợp tác trong nội bộ các đảng cũng như giữa các đảng với nhau, và do vậy sẽ ngăn chặn được tình trạng phân cực. Bên cạnh đó, Reynolds cũng phát hiện ra rằng hệ thống bầu cử PR đã tạo ra một quốc hội Cộng Hòa Nam phi có tính đại diện và đa dạng về chủng tộc, sắc tộc và giới tính hơn nhiều so với những gì có thể đạt được khi áp dụng hệ thống bầu cử FPTP.

Các lập luận trên không làm lay chuyển quan điểm của Joel Barkan. Trong chương 12, Barkan lập luận rằng, hệ thống bầu cử FPTP với các khu vực cử tri một thành viên và mối liên kết hữu cơ khăng khít mà chúng giả lập giữa các nhà lập pháp và các cử tri theo khu vực lãnh thổ – phù hợp hơn nhiều với tình hình và nhu cầu của đa số quốc gia thuần nông nghiệp tại châu Phi. Tại các quốc gia này, hầu hết cư dân đều mong muốn đại diện của họ giúp họ truyền tải được nhu cầu cơ bản về nước sạch, trường học, đường xá và dịch vụ chăm sóc sức khỏe; và các cử tri đánh giá đảng và đại diện của mình “thông qua tiêu chí tiềm năng phục vụ hay thành tích phục vụ cử tri trong quá khứ”. Hệ thống bầu cử PR, với các khu vực cử tri nhiều thành viên (và thường với quy mô rất lớn), về bản chất lại không hề có tác dụng theo tiêu chí trên, ví dụ, tại Namibia, các thành viên quốc hội có khi “rất hiếm khi xuất hiện tại khu vực nông thôn”. Thật vậy, rào cản mang tính đại diện đáng báo động này buộc ANC phải phân công một cách ngẫu hứng các Nghị sĩ Quốc hội xuống các khu vực nhất định để làm “đại diện” (các kết quả không rõ ràng). Hơn nữa, Barkan vẫn giữ quan điểm cho rằng hệ thống bầu cử PR không thu được các kết quả công bằng hơn (với tỷ lệ tương xứng hơn) tại khu vực thuần nông ở châu Phi. Thay vào đó, các phân tích của ông về các cuộc bầu cử cụ thể cho thấy tại các quốc gia thuần nông của châu Phi, nơi cư dân vẫn quần tụ tại từng khu vực địa lý theo xu hướng đồng sắc tộc, hệ thống bầu cử FPTP giúp tạo ra sự tương đồng trong việc phân bổ các ghế cho các đảng với hệ thống bầu cử PR, đặc biệt khi toàn bộ các khu vực cử tri có cùng số lượng cử tri.

Để phản bác lại luận điểm của Barkan, Reynolds đã đưa ra hai luận điểm chính trong chương 13. Đầu tiên, khi so sánh hệ thống bầu cử PR và FPTP về mặt hệ thống tại châu Phi (chứ không tập trung và các trường hợp đơn lẻ như tại Malawi), khẳng định về tính công bằng đã sụp đổ. Trong cả Cộng hòa Nam Phi và châu Phi nói chung, hệ thống bầu cử PR đã đạt được các kết quả có tính tương xứng tỷ lệ ý nghĩa hơn; “khi xét tới việc chuyển đổi số ghế thành số phiếu, hệ thống bầu cử PR có tính ưu việt hơn hẳn hệ thống bầu cử FPTP”. Thứ hai, không tính tới tỷ lệ tương xứng nói chung, điều cần quan tâm ở đây là ưu thế của các đảng về mặt địa lý. Reynolds nhấn mạnh rằng chìa khóa cho việc quản lý xung đột sắc tộc và thống nhất dân chủ tại châu Phi là nỗ lực ngăn cản sự xuất hiện của các nhà nước độc đảng ở mức độ (khu vực) tiểu quốc gia và đảm bảo một lượng đáng kể các ghế cạnh tranh. Thậm chí khi hệ thống FPTP đưa ra các kết quả tương tự trên quy mô quốc gia, hệ thống này cũng làm theo cách thức tương tự bằng cách giúp các đảng gần như bất khả xâm phạm trong phạm vi ưu thế dân tộc của mình. Reynolds muốn sử dụng hệ thống bầu cử PR trong các đơn vị bầu cử đa thành viên quy mô trung bình để tạo ra phân chia giai tầng sâu sắc, và do đó, với nền tảng dân tộc của mình, một đảng sẽ có động lực để thực hiện chiến dịch tại các khu vực “khác”, và các đảng đối lập trong quy mô tiểu quốc gia cũng sẽ tham gia vào trò chơi bầu cử, chứ không phải bị đóng băng và cô lập vĩnh viễn khỏi tiến trình dân chủ. Về mặt này, Reynolds sử dụng biến số của mô hình Lijhart sử dụng (hệ thống bầu cử PR) để đạt được các mục tiêu của Horowitz (khích lệ các đảng chính trị vận động bên ngoài biên giới sắc tộc). Như đã đề cập trong tác phẩm được xuất bản khác của mình, Reynolds khuyến khích Cộng hòa Nam Phi sử dụng mô hình hệ thống bầu cử PR hai vòng của Scandinavia, mà qua đó, tình trạng mất cân xứng tỷ lệ vốn có thể xảy ra từ việc sở hữu các đơn vị cử tri nhiều thành viên tương đối nhỏ có khả năng được cải tổ lại với lần phân bổ ghế thứ hai có thể giúp cân bằng tỷ lệ ghế trong quốc hội với tỷ lệ phiếu bầu toàn quốc của từng đảng.

Trong hai đoạn phân tích đầu của chương 14 tập trung vào khu vực Mỹ Latin, Jeffrey Cason đánh giá tác động của cuộc cải cách bầu cử lên tình trạng ổn định dân chủ tại Uruguay. Quốc gia này đã trải qua nhiều thập kỷ là một trong những quốc gia có hệ thống bầu cử yếu kém nhất và độc nhất vô nhị trên thế giới, còn gọi là “hệ thống bầu cử nhị cấp đồng thời – double simultaneous voting” (DSV). Là một kiểu hình đại diện theo tỷ lệ tương xứng, hệ thống bầu cử DSV cho phép các nhóm đa đảng có thể tranh cử trong một cuộc bầu cử chung. Trong các cuộc bầu cử quốc hội, việc này đã khiến cho tình trạng phân mảnh trong danh sách đảng ngày càng ấn tượng (năm 1994, có tới 641 danh sách đến từ ba đảng chính trong một quốc gia chỉ vỏn vẹn có hai triệu cử tri), vì các đảng không mất chi phí cho quá trình phân mảnh này. Các đảng giành được tỷ lệ ghế trong quốc hội tương đương với tỷ lệ phiếu bầu cho toàn bộ các nhóm của mình (và các nhóm lần lượt nhận được tỷ lệ ghế của các đảng cũng tương đương với tỷ lệ phiếu được phân chia). Kết quả này cực kỳ yếu, các đảng bị phân rã và chủ nghĩa bảo trợ hết sức nặng nề. Trong các cuộc bầu cử tổng thống, ảnh hưởng diễn ra thậm chí còn tệ hơn, vì người giành chiến thắng của cuộc bầu cử tổng thống là ứng viên giành được nhiều phiếu bầu nhất từ đảng nhận được tổng số phiếu bầu nhiều nhất trong danh sách đảng. Điều đó có nghĩa là vị trí tổng thống có thể (và đã từng) được bầu ra với ít hơn một phần tư số phiếu, và thậm chí còn không phải là ứng viên được yêu thích nhất. Rõ ràng là, “hạn ngạch mỏng này dấy lên câu hỏi về tính hợp pháp của người chiến thắng cuối cùng trong cuộc bầu cử tổng thống.”

Tình trạng nổi dậy của phe cánh Tả đã gióng lên hồi chuông báo động, khiến các đảng tại Uruguay phải tiến hành thiết kế cải tổ hiến pháp vào năm 1996 để đưa ra nguyên tắc tranh cử: mỗi đảng chỉ được phép cử một ứng viên cho cuộc tranh cử vị trí tổng thống, và ứng viên này được chọn ra trong một cuộc bầu cử nội bộ đảng, cũng như tổ chức vòng bỏ phiếu thứ hai trong trường hợp không có ứng cử viên nào giành được đa số phiếu bầu trong vòng bỏ phiếu đầu tiên. Mặc dù cuộc cải tổ không tạo ra quá nhiều thay đổi và đồng thời hợp thức hóa hệ thống bầu cử này trong các kỳ bầu cử quốc hội (ngăn cấm các nhóm đảng kết hợp số phiếu của họ cho các danh sách khác nhau sau khi kết thúc bầu cử để giành được đa số ghế), nhưng chính bản thân cuộc cải tổ đã góp phần tạo ra ảnh hưởng ngay lập tức cũng như đáng kinh ngạc lên kỳ bầu cử tổng thống diễn ra sau đó vào năm 1999. Đặc biệt, nguyên tắc đa số tuyệt đối mới áp dụng cho kỳ bầu cử tổng thống đã buộc liên minh phe cánh Tả phải di chuyển vào trung tâm chính trị và tập trung đóng góp các đề xuất chính sách trong vòng bầu cử tổng thống thứ hai. Điều này khiến cho “phe cánh Tả giảm bớt khả năng đe dọa” và giúp nền dân chủ Uruguay ít “gặp rủi ro” hơn. Thậm chí các cải cách khiêm tốn nhất của hệ thống bầu cử DSV trong các kỳ bầu cử quốc hội cũng làm giảm số lượng các danh sách thành viên quốc hội và giúp các đảng có động lực để đoàn kết với nhau. Và bằng việc yêu cầu thành lập các liên minh rộng khắp vì thành công chung của quá trình bầu cử, việc cải cách giúp các lãnh đạo được bầu ra thực hiện hoạt động quản trị một cách dễ dàng hơn.

Trong chương 15, Richard Snyder và David Samuels kiểm chứng các đặc trưng cơ bản của các hệ thống bầu cử tại các quốc gia Mỹ Latin, mức độ thiếu cân bằng trong tỷ lệ phân bố đại biểu ở mức cao chót vót – “khoảng cách giữa tỷ lệ ghế lập pháp và cử tri được tổ chức bởi các khu vực bầu cử lại vô cùng lớn.” Các hệ thống liên bang (trong đó một vài hệ thống tồn tại tại các quốc gia Mỹ Latin như Mexico và Braxin) thường cố ý tăng tỉ lệ đại diện quá mức một số đơn vị quốc gia trong thượng viện quốc hội như một phần của “cuộc thỏa thuận” chia sẻ quyền lực liên bang. Tuy nhiên, theo quan điểm của Snyder và Samuels, điều đặc biệt về các nền dân chủ tại Mỹ Latin là mức độ thiếu cân bằng trong tỷ lệ phân bố đại biểu trong ghế Hạ viện – trên trung bình, sự thiếu cân bằng này trong các nền dân chủ tại khu vực Mỹ Latin nghiêm trọng gấp đôi so với các nền dân chủ công nghiệp tiên tiến. Hơn nữa, hai nhà nghiên cứu còn cho biết, tình trạng đại diện quá mức của một số khu vực cử tri và đại diện chưa đủ của các khu vực cử tri khác không hề ngẫu nhiên nếu xét đến việc phân chia giai tầng chính trị và xã hội. Tình trạng thiếu cân bằng trong tỷ lệ phân bố đại biểu tại Mỹ Latin biến cơ quan lập pháp quốc gia trở thành nơi tồn tại thứ “định kiến bảo thủ và tâm lý nông thôn sâu sắc”. Tình trạng bất công này không được công khai trước dư luận, không chỉ hỗ trợ các cử tri đô thị và đi theo phe cánh Tả trong cuộc chiến về chính sách và nguồn lực, mà còn giúp thu được một số các kết quả có khả năng dự báo khác tại nhiều quốc gia và trong thời gian dài. Nó có xu hướng gây rạn nứt ngày càng sâu rộng trong mối quan hệ giữa các tổng thống tương lai, những người nhận được số phiếu bầu tương đương nhau; và giữa các hội đồng chịu ơn từ phe bảo thủ và phe bảo trợ nông nghiệp. Nó khiến các tổng thống tương lai dễ rơi vào áp lực từ các lợi ích nông nghiệp trên, bao gồm nhu cầu cấp thiết về việc được bảo trợ (và do đó các nhân vật này không còn quan tâm tới các nhu cầu đô thị cấp thiết). Và tình trạng bất công này cũng có thể buộc các lãnh đạo quốc gia phải nhún mình trước sự bành trướng độc tài tại khu vực nông thôn, vì các tổng thống cần đến sự hỗ trợ về mặt lập pháp của các lãnh đạo khu vực này vốn bị đại diện quá mức.

Snyder và Samuels xem xét đến ba phương thức cải cách khả thi để giải quyết vấn đề trên. Theo quan điểm của hai nhà nghiên cứu này, việc giám sát tư pháp phân bổ tỷ lệ đại biểu không có nhiều hứa hẹn như mong đợi tại Mỹ, vì nền tư pháp tại các quốc gia khu vực Mỹ Latin thường không độc lập và có hiệu quả bằng nền tư pháp tại các quốc gia khu vực Bắc Mỹ. Sự thành công của Viện Bầu Cử Liên Bang IFE độc lập được ra đời vào năm 1996 tại Mexico hứa hẹn sẽ tạo ra một “ủy ban bầu cử trung lập, vô tư, có trách nhiệm giảm thiểu tình trạng mất cân bằng trong tỷ lệ đại biểu tại Hạ viện”. Giải pháp khả thi thứ ba là thay đổi tự thân của luật bầu cử, để việc cải thiện tình trạng mất cân đối trên trở thành một phần của gói cải cách mở rộng hơn, nhằm nâng cao chất lượng nền dân chủ. Đương nhiên, một phương thức cải cách khả thi là từ bỏ các khu vực cử tri để sử dụng danh sách quốc gia đơn (như áp dụng tại Peru); tuy vậy phương thức này đòi hỏi trách nhiệm giải trình cực kỳ lớn đến từ phía quốc hội với người dân của mình.

          Thay vào đó, họ đưa ra hệ thống bầu cử hỗn hợp, với vừa đủ ghế được phân bổ thông qua hệ thống bầu cử PR (được vận hành trong một khu vực cử tri quy mô toàn quốc) để làm dịu bất cứ ảnh hưởng nào của tình trạng mất cân đối trong tỷ lệ phân bố đại biểu giữa các khu vực cử tri một thành viên.

Các nhà nghiên cứu khoa học chính trị bị thu hút một cách hết sức tự nhiên vào lời hứa hẹn của công cuộc cải cách chính trị, nhưng như lời cảnh báo của Emanuele Ottolenghi trong chương 16, hậu quả có thể sẽ từ “chữa lợn lành chữa thành lợn què”. Từ việc chán nản với tình trạng tê liệt và tống tiền trong chính trường góp phần ngăn cản quá trình hình thành liên minh trong hệ thống đảng hết sức manh mún của Israel trong suốt giai đoạn thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, sau đó là không thể đạt đến một sự thay đổi đáng kể trong hệ thống bầu cử ngày càng có nguy cơ bị phân rã cao; các nhà cải cách đã ra sức thúc đẩy quá trình tiến hành thay đổi căn bản trong bản chất của chính phủ nghị viện. Dưới kế hoạch được thông qua vào năm 1992, vị trí thủ tướng đã không còn được bầu ra từ các cuộc thương lượng trong quốc hội (vốn tạo điều kiện cho các đảng tôn giáo giữa Đảng Lao Động và Đảng Likud đưa ra yêu sách), mà sẽ được nhân dân bầu trực tiếp, trong các cuộc bỏ phiếu riêng biệt diễn ra đồng thời với cuộc bỏ phiếu truyền thống cho danh sách đảng tại Israeli trong hệ thống bầu cử có tính tỷ lệ cao của họ. Như dự đoán hết sức chắc chắn từ phía các nhà cải cách, sự thay đổi này không chỉ trao quyền hợp pháp trong việc thành lập chính phủ nhanh chóng và quản trị quyết đoán hơn cho các thủ tướng được bầu ra trực tiếp; mà còn trao cho thủ tướng nhiều ghế hơn vì nhân vật này sẽ có thể có khả năng kêu gọi các đại biểu có chung chí hướng về phe cánh của mình.

Như những gì Ottolenghi cho chúng ta thấy, trong thực tế, điều ngược lại đã xảy ra. Không còn phải sử dụng lá phiếu quốc hội để lựa chọn vị trí Thủ tướng, các cử tri Israel tham gia vào quá trình chia phiếu (ticket splitting) như một cách trả đũa. Trong khi các ứng cử viên trong cuộc đua giành ghế thủ tướng đã có thể giành chiến thắng đa số tuyệt đối trong cuộc bầu cử đầu tiên, hai đảng lớn nhất, Đảng Lao động và Đảng Likud, mất đi một lượng lớn phiếu bầu cho các đảng nhỏ hơn, theo ý thức hệ nhiều hơn, hoặc đơn thành viên; và như thế, quốc hội ngày càng bị phân rã nghiêm trọng hơn (từ 10 đảng vào năm 1992 tăng lên 15 đảng vào năm 1999). Kết quả là, việc hình thành và duy trì liên minh đa số ngày càng trở nên khó khăn hơn, và “nhà cầm quyền vẫn mắc kẹt trong khả năng tạo ra được các chính sách liên tục về các vấn đề gây tranh cãi.” Vì vậy, những hậu quả của cuộc cải tổ gây bất mãn và phản tác dụng tới mức gây ra phản ứng ngược cho toàn bộ cuộc cải cách trong năm 2001 với chiều hướng có lợi cho hệ thống nghị viện truyền thống (nhưng hiện tại, với sự đổi mới có giá trị của các “phiếu bất tín nhiệm mang tính xây dựng”). Ottolenghi nhấn mạnh rằng bài học rút ra chính là nhận thức rằng không thể sử dụng cách thức đổi mới hiến pháp như trên để thay thế cho cải cách bầu cử cơ bản. Cải cách bầu cử cơ bản cung cấp các phương tiện chắc chắn duy nhất hứa hẹn giảm thiểu nguy cơ phân rã của quốc hội, qua đó giúp thủ tướng cải thiện quyền lực nhằm hình thành và duy trì liên minh và từ đó để cai trị một cách hiệu quả hơn.

Như tại Israel, hay Nhật Bản hoặc Đài Loan, công dân và các nhóm dân sự ngày càng chán ngán với những đặc điểm mà hệ thống bầu cử mang tới cho họ, những đặc điểm có vẻ như đang dung dưỡng những khía cạnh thất đức của chính trị. Vấn đề ở đây chính là hệ thống lá phiếu đơn bất khả nhượng (SNTV), một hệ thống hiếm gặp được sử dụng chủ yếu tại hai quốc gia (và trong một thời gian ngắn ngủi ở Hàn Quốc). Dưới hệ thống SNTV, các ứng viên cạnh tranh ghế nghị sĩ tại các đơn vị bầu cử nhiều đại biểu (multimember district), tuy nhiên cử tri chỉ được bỏ phiếu cho một người duy nhất, và số phiếu “dư” không thể được chuyển đổi sang cho ứng viên khác trong cùng một đảng tại cùng một đơn vị bầu cử. Những ứng viên đạt được nhiều phiếu bầu nhất được quyết định theo nguyên tắc đa số tương đối (plurality rule) mà không có quy định về số phiếu họ giành được. Do đó hệ thống này đặt một ưu tiên rất nặng lên tổ chức đảng, một điều cho phép đảng phái phán đoán và phân phối hợp lý lực lượng ủng hộ họ tại một đơn vị bầu cử. Nếu một đảng cử ra quá nhiều ứng viên, lượng phiếu mà họ giành được có thể bị rải rác một cách quá mỏng, và số ghế giành được sẽ ít đi. Tuy nhiên, nếu nó cử ra quá ít ứng viên, nó cũng phải trả giá không nhỏ. Tiền bạc và tổ chức trở nên quan trọng sống còn (tới mức mà các đảng chính trị tại Đài Loan đã phải hướng dẫn cử tri của họ ủng hộ các ứng viên khác nhau dựa trên ngày sinh nhật của họ, tức là cử tri nào sinh trong khoảng tháng Một tới tháng Ba thì bầu cho ứng viên đầu tiên tại đơn vị bầu cử, những cử tri sinh ra trong khoảng từ tháng Tư tới tháng Sáu thì bầu cho ứng viên thứ hai, và cứ tiếp tục như vậy). Hiếm khi quy trình như vậy hoạt động một cách hoàn hảo. Một đặc điểm tai hại của SNTV đó là các ứng viên trong cùng một đảng bị ép phải cạnh tranh với nhau cũng như với các ứng viên của đảng đối thủ. Do đó, đảng bị chia bè kết phái rất nặng nề và các chiến dịch tranh cử thì phức tạp và rất tốn kém, khiến cho các chính trị gia hoặc là phải dựa vào nhiều nguồn tài trợ hoặc là phải đưa ra một cương lĩnh cực đoan nhằm thu hút sự ủng hộ từ những người trung thành với tư tưởng.

Trong chương 17, Jih-wen Lin giải thích bằng cách nào cải cách bầu cử được tìm kiếm bấy lâu nay từ hệ thống SNTV sang hệ thống hỗn hợp mà có tính đa số tuyệt đối nhiều hơn lại đạt được tại Nhật Bản (1994) và Đài Loan (2005). Trong mỗi trường hợp, công chúng trở nên chán ngán với sự tham nhũng và không hiệu quả của hệ thống chính trị, tuy nhiên sự không hài lòng ở diện rộng này không đủ để dẫn tới thay đổi. Thay vào đó, Lin chứng minh rằng, thay đổi chỉ có thể xảy ra khi có đủ ba thành tố. Thứ nhất, “sự không hài lòng của người dân mài mòn đi sức mạnh bầu cử của đảng lãnh đạo và cuối cùng tước đoạt đi trạng thái thống trị của đảng cầm quyền,” làm tan băng tình hình chính trị vốn đã bị các thành viên lo sợ của đảng cầm quyền ngăn chặn mọi cải cách. Thứ hai, một số lượng đủ lớn các chính trị gia phát hiện ra rằng họ có mối quan tâm cá nhân đối với cải cách. Cụ thể, các nghị sĩ của đảng cầm quyền, những người mà chiến thắng của họ là nhờ vào “hình ảnh cá nhân chứ không phải nhờ vào những mối quan hệ đặc biệt nào đó” nhận ra rằng lợi ích của họ có thể được phục vụ tốt hơn bởi hệ thống FPTP. Thứ ba, cải tổ bầu cử phải trở thành một phần của một thỏa hiệp chính sách lớn hơn (logrolling – một kiểu thỏa hiện mà trong đó bạn đồng ý với chính sách của phe đối lập để sau đó họ đồng ý với chính sách của bạn) nhằm thu hút sự ủng hộ của đa số các nghị sĩ (đặc biệt là từ các đảng nhỏ hơn bị đe dọa bởi việc chuyển sang một hệ thống có tính đa số tuyệt đối hơn). Tuy rằng những điều kiện này bị tước đi khỏi kinh nghiệm chính trị của Nhật Bản và Đài Loan trong việc chuyển từ SNTV, họ có vẻ như có liên quan tới các quốc gia khác cũng đang tìm kiếm cải cách bầu cử, và để giải thích tại sao cải cách lại khó đạt được như vậy: Thậm chí nếu xã hội có thể được tề tựu bởi một lý tưởng nào đó, các nghị sĩ cũng không thích bỏ đi một hệ thống mà đã đưa họ vào trong quốc hội. Tuy vậy, nghiên cứu của Lin nhấn mạnh lý do tại sao cải cách bầu cử quan trọng. Trong bốn cuộc bầu cử theo sau thay đổi của Nhật Bản hướng tới một hệ thống bấu cử có tính đa số tuyệt đối hơn, hệ thống đảng cho thấy những dấu hiệu nổi bật của một sự củng cố tới một hệ thống hai đảng, và một xu hướng tương tự nhiều khả năng bộc lộ còn nhanh hơn tại Đài Loan. Trong khi di sản của mạng lưới người bảo trợ – người được bảo trợ (patron – client) vẫn còn mạnh mẽ tại Nhật Bản, Lin dự đoán rằng “khi hệ thống hai đảng hình thành, cách thức vận động tranh cử sẽ có nhiều khả năng tập trung vào các vấn đề chính sách và tranh luận.”

Mỉa mai thay, ngay khi Đài Loan từ bỏ SNTV, Afghanistan lại áp dụng chính hệ thống này trong cuộc bầu cử lập pháp năm 2005. Andrew Reynolds giải thích “trường hợp gây tò mò” này trong chương 18. Khi điều này xảy ra, các chuyên gia quốc tế như bản thân Reynolds đã góp ý rằng Afghanistan nên sử dụng hệ thống PR danh sách đóng trong đơn vị bầu cử nhiều đại biểu với cơ sở bầu cử chính là 34 tỉnh lâu đời của quốc gia này. Điều này sẽ cho cử tri các lựa chọn khá đơn giản và dễ tiếp cận (mỗi biểu tượng được gán cho một danh sách) và sẽ củng cố những kết quả có tính tỉ lệ hơn. Tuy vậy, trong khi có một sự đồng thuận chống lại việc tái sử dụng hệ thống FPTP cũ (kế thừa từ bộ luật thuộc địa của Anh nhưng không được dùng trong 40 năm), cũng có những phản kháng dành cho hệ thống PR trong những người Afghanistan không thích hoặc không tin các đảng chính trị, và từ chính bản thân Tổng thống Hamid Karzai (vốn đã được bầu trong năm trước), một người muốn cho phép người dân Afghanistan bỏ phiếu cho các ứng viên riêng lẻ. Các chuyên gia quốc tế đã nhìn thấy trước phần lớn các vấn đề gây ra bởi việc sử dụng hệ thống SNTV. Trong khi hệ thống này rõ ràng tạo ra một kết quả khá có tính tỉ lệ trên phương diện sắc tộc, nó lại gây ra một hoàn cảnh đảng hỗn loạn, với 33 đảng chính trị hoặc nhóm trong quốc hội, đa phần không hề có đủ một số đông và thống nhất các đại biểu quốc hội. Với những khuyến khích trong việc vận động cá nhân, các ứng viên riêng lẻ được bầu, bao gồm một số lượng đáng kể những nhà quân phiệt, các lãnh đạo băng đảng tội phạm, các nhà tôn giáo cực đoan, và những kẻ buôn lậu thuốc cấm. Và bởi kích cỡ lớn của nhiều khu vực bầu cử, đa phần các ứng viên được bầu chọn chỉ với một số lượng nhỏ các phiếu bầu. Cử tri rõ ràng đã bị khó phân xử giữa một danh sách các tên trên tờ phiếu bầu, điều này dẫn tới tỉ lệ đi bầu thấp và tỉ lệ phiếu bầu sai quy phạm cao. Tuy rằng Tổng thống Karzai nghĩ rằng hệ thống này có thể mang tới lợi ích cho ông ta, thế nhưng thay vào đó nó lại làm yếu ông ta, đúng như các chuyên gia đã cảnh báo, khiến cho ông ta chỉ còn chưa đầy một phần ba quốc hội ủng hộ. Kết quả đó là một hệ thống lập pháp bị chia rẻ và đối kháng với Karzai, được đặc trưng bởi “chủ nghĩa bảo trợ và thay đổi liên minh” và phải thế chấp cho “những kẻ có quá khứ đen tối.” Thêm nữa, nếu nhìn vào kinh nghiệm của các quốc gia khác, hệ thống này sẽ khó thay đổi. Tuy vậy Raynolds cảnh báo rằng: “Nếu hệ thống SNTV được sử dụng trong các kỳ bầu cử tiếp theo, sự phân mảnh và tính địa phương cục bộ của quốc họi sẽ còn tăng thêm, và chính trị nói chung sẽ bị tách xa khỏi số đông.”

Nhưng Adeed Dawisha và Larry Diamond đã chỉ ra trong chương 19, các chuyên gia quốc tế về hệ thống bầu cử cũng chỉ thành công hơn một chút tại Iraq, nơi (khá tương tự với Afghanistan) họ đã đề xuất sử dụng hệ thống PR danh sách đảng tại các khu vực bầu cử nhiều đại biểu, với 18 tỉnh thành của quốc gia này làm đơn vị bầu cử. Lần lượt các lựa chọn thay thế cho PR đã bị gạt bỏ bởi tính không phù hợp về mặt kỹ thuật hoặc thực tế. FPTP thì quá mang tính đa số tuyệt đối, và trong bất cứ trường hợp nào việc vẽ ra các đơn vị bầu cử một đại biểu đều bất khả thi trong hoàn cảnh quá độ mỏng manh của Iraq hiện nay. AV thì bất khả thi bởi cùng lý do, và có thể quá phức tạp đối với những cử tri đi bỏ phiếu lần đầu. STV cũng bị loại bỏ bởi tính phức tạp của nó, và SNTV thì bị loại bởi tính bất hợp lý mà ai cũng biết của nó. Ngược lại, PR thích hợp với hoàn cảnh chia sẻ quyền lực đối với thực hành chính trị và thiết kế hệ thống mới trỗ dậy tại Iraq, có sức hấp dẫn đối với các lãnh đạo đảng phái, những người muốn củng cố quyền lực, và phù hợp tốt với việc thiết lập chỉ tiêu 25% đại diện phụ nữ trong quốc hội, như được thiết lập trong hiến pháp tạm thời của Iraq. Tuy nhiên, câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ đó là bằng cách nào có thể thiêt lập PR tại Iraq. Trong khi một vài cán bộ Iraq và quốc tế đã đẩy đề xuất trong năm 2004 với một hệ thống hai tầng theo mô hình Scandinavian, với danh sách tỉnh thành và một sự điều chỉnh bồi hoàn từ danh sách quốc gia nhằm đạt được tính tỉ lệ chung cao hơn, uỷ bạn bầu cử của Liên Hợp quốc đã lựa chọn PR đối với mỗi tỉnh thành đơn lẻ bởi tính đơn giản và dễ quản lý của nó.

Sự khác biệt giữa hai loại PR – cơ sở bầu cử (district-based) và danh sách quốc gia (national list) – có thể khá khó nắm bắt, nhưng trong thực tế nó mang tới những kết quả khác biệt rất lớn. Hệ thống lấy cơ sở bầu cử làm nền tảng mang tới một vài hi vọng trao quyền lực cho các nhân tố và đặc trưng địa phương, và do đó làm chững lại quá trình phân cực hoá chính trị xung quanh vấn đề sắc tộc và đặc trưng nhóm. Và do đó, nó cũng tạo ra những ràng buộc giữa các ứng viên được bầu và cơ sở bầu cử theo khu vực, điều này “dẫn tới tính trách nhiệm địa phương cao hơn.” Trong sự vắng mặt của tất cả các cơ sở bầu cử, hay thậm chí không ai có nhận thức nào về việc ai là ứng viên, “cuộc bầu cử quốc hội năm 2005 đã trở thành đơn thuần là một cuộc chưng cầu dân ý về đặc trưng quốc gia, không được tôi luyện bởi bất cứ một thành phần hay đặc trưng địa phương nào.” Thêm vào đó, việc thiếu vắng một mức sàn tối thiểu đại diện đối với các khu vực địa lý đã dẫn tới việc tẩy chay bầu cử của người Sunni. Mỗi một bước phát triển này đã làm méo mó và phân cực quang cảnh chính trị theo những cách kéo dài. Do đó, mặc dù cuộc bầu cử tháng 12 năm 2005 của Iraq đã thiết lập căn bản được hệ thống PR hai tầng dựa trên đơn vị bầu cử vốn đã được đề xuất vào năm 2004, sự phân cực đảng xung quanh vấn đề nhận diện sắc tộc và nhóm từ đó đã được củng cố thêm. Trong chiến dịch “mỗi liên minh tập trung năng lượng của mình vào hỗ trợ củng cố trong chính cơ sở cử tri của nó, đồng thời bền bỉ ngăn cản sự thâm nhập của các liên minh khác vào sân nhà của mình.” Bạo lực tăng cường, người Iraq một lần nữa bỏ phiếu chủ yếu theo các tiêu chí sắc tộc và tôn giáo, và danh sách không sắc tộc và không tôn giáo duy nhất đã bị đè bẹp. Như Dawisha và Diamond tường thuật lại, trường hợp Iraq mang lại cho chúng ta bài học về sự giới hạn của việc xây dựng hệ thống bầu cử một khi có sự phân cực sắc tộc và bạo lực tràn lan.

Trường hợp của Iraq và Afghanistan không nghi ngờ gì đã khiến cho các chuyên gia hệ thống bầu cử, những người tin rằng mỗi quốc gia mỗi quốc gia có thể làm tốt hơn nếu họ xem xét cẩn thận các lời khuyên. Tuy nhiên, nhiều lựa chọn cho lộ trình phát triển của hệ thống bầu cử trên thế giới có lẽ sẽ mang lại nhiều hi vọng hơn. Trong vài thập kỷ qua, kiến thức về những hệ luỵ mà các hệ thống bầu cử khác nhau có thể mang lại đã được tập hợp và phổ biến. Tựu trung, phương hướng thay đổi tách ra xa khỏi những thái cực của một kiểu đa số tuyệt đối tuyệt đối hay có tính tỉ lệ tuyết đối, mà thay vào đó nó hướng tới hoặc là một hệ thống hỗn hợp hoặc là một hệ thống tỉ lệ với ít nhất một vài thúc đẩy thoả hiệp đảng phái.  Các hệ thống được ưu tiên vẫn chưa được áp dụng trên diện rộng, nhưng kết quả từ những nơi áp dụng các hệ thống này thì rất có triển vọng. Các mô hình càng thành công, ví dụ như hệ thống tỉ lệ thành viên hỗn hợp kiểu Đức (German mixed-member proportional system) và hệ thống đại diện tỉ lệ hai tầng của Scandianvian (Scandinavian two-tiered PR), đã thu được nhiều ủng hộ, và các hệ thống kém hiệu quả nhất, ví dụ như SNTV hoặc phiếu khối (block vote) (một hệ thốn siêu đa số tuyệt đối với cơ sở bầu cử đa đại biểu) đã bị loại bỏ dần. Từng bước, một kiểu quá trình chọn lọc tự nhiên được hình thành, khi các nền dân chủ thử nghiệm và lựa chọn, loại bỏ những mô hình không hiệu quả, hay chí ít loại bỏ những cái không phù hợp với một số kiểu hình xã hội. Theo thời gian, chúng ta có thể kỳ vọng trông thấy nhiều thay đổi hơn mà qua đó các quốc gia tìm kiếm một cân bằng tốt hơn giữa tính bao gồm và tính quản trị, và giữa tính tỉ lệ và tính trách nhiệm. Rõ ràng sẽ có nhiều khởi đầu sai lầm đau đớn và nhiều cơ hội bị tuột mất, nhưng dân chủ nói chung đang tiến tới các hệ thống bầu cử hoàn thiện hơn, có lý hơn và công bằng hơn.

Dịch: Book Hunter
Biên tập và hiệu đính: Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

GHI CHÚ:

  1. Bài viết trước về mô hình này là của Arend Lijphart, “Consociational Democracy,” World Politics 21 (tháng 1 năm1969): 207–25, và Democracy in Plural Societies: A Comparative Exploration (New Haven: Yale University Press, 1977).Để đọc tổng quan và đầy đủ hơn về mô hình này, có thể tham khảo thêm trong Arend Lijphart, Patterns of Democracy: Government Forms and Performance in 36 Countries (New Haven: Yale University Press, 1999).
  • Tìm đọc thêm tại các ấn bản mà Donald Horowitz đã phê bình mô hình thoả hiệp đa nguyên: Ethnic Groups in Conflict (Berkeley: University of California Press, 1985), 568–76; A Democratic South Africa? Constitutional Engineering in a Di-vided Society (Berkeley: University of California Press, 1991), 137–45, 167–71;“Constitutional Design: Proposals versus Process,” in Andrew Reynolds, ed., The Architecture of Democracy: Constitutional Design, Conflict Management, and Democracy (Oxford: Oxford University Press, 2002), 20–23.
  • Donald L. Horowitz, “Comparing Democratic Systems,” Journal of Democ-racy 1 (Fall 1990): 73–79. Tranh luận rộng hơn về vấn đề chính phủ nghị viên tương phản với chính phủ tổng thống xuất hiện trong Larry Diamond và Marc F. Plattner, eds., The Glo-bal Resurgence of Democracy, 2nded. (Baltimore: Johns Hopkins University Press,1996), 124–61.
  • Larry Diamond, “Three Paradoxes of Democracy,” Journal of Democracy 1 (July 1990): 48–60.
  • Vincent Maphai, “The New South Africa: A Season for Power-Sharing,” Journal of Democracy 7 (January 1996): 67–81.
  • Điều này ngăn cản phiếu bầu một cách thiếu tự tin khỏi việc phá huỷ một chính phủ trừ khi nó cũng đẩy tới một liên minh thay thế với đa số phiếu tạo thành một chính phủ mới. Cơ sở này do đó hạn chế các nổ lực phán đoán nhằm phá huỷ một chính phủ để đơn giản có thể có lợi thế đàm phán cho sự hình thành một chính phủ mới.