Nhà triết học người Pháp ở thế kỷ XVII René Descartes có thói quen nằm trên giường đến trưa và chỉ suy nghĩ. Theo truyền thuyết, ông đã nảy ra ý tưởng về tọa độ Descartes vào một buổi sáng khi ông nhìn thấy một con ruồi đang bò trên trần nhà phía trên mình. Có lẽ cũng chính trong lúc ngồi thư giãn trước bữa trưa, ông đã để đời câu nói nổi tiếng nhất của mình “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”.

Descartes băn khoăn làm thế nào ông có thể biết chắc chắn rằng nhận thức của mình đã miêu tả chính xác thế giới vật chất. Đối với vấn đề này, làm thế nào ông thậm chí biết được có tồn tại một thế giới vật chất? Điều gì sẽ xảy ra nếu ông bị lú lẫn và mọi thứ ông trải qua đều là ảo giác? (Một số độc giả có thể nhận ra đây là tiền đề cho những bộ phim Ma trận).

Cuối cùng, Descartes đã quyết định chỉ có một điều duy nhất mà ông chắc chắn, đó là ông nhận thức được suy nghĩ của chính mình. Nói cách khác, tâm trí của Descartes là thực tại cuối cùng, là thứ duy nhất tồn tại tuyệt đối. Đối với thế giới vật chất, nó có thể là thật, nhưng ông không thể nói chắc chắn.

Theo định nghĩa, có một ý nghĩ phi vật lý vượt ra khỏi giới hạn của cơ thể được gọi là thuyết nhị nguyên Descartes. Cho dù bạn có gọi đó là tâm trí, linh hồn hay tinh thần, thì một số khái niệm thuộc tâm lý học như là nhận thức cốt lõi của một người có lẽ là trải nghiệm phổ quát của con người. Điều này đưa chúng ta đến vấn đề giữa tâm trí và cơ thể: Mối quan hệ giữa tâm trí và cơ thể là gì?

Trong suốt thế kỷ XX, rõ ràng là bộ não tạo ra nhiều chức năng mà thông thường là để điều khiển ý nghĩ. Hầu hết các nhà khoa học ngày nay đều bác bỏ thuyết nhị nguyên Descartes. Nhà khoa học nhận thức Marvin Minsky đã châm biếm “Bộ não chỉ điều khiển ý nghĩ thôi”.

Tuy nhiên, thuyết nhị nguyên Descartes dẫn dắt các nhà tâm lý học nghĩ về công việc của họ. Ví dụ, các nhà khoa học thần kinh khi nói về “mối tương quan thần kinh của các quá trình trí óc”, thừa nhận mối quan hệ giữa hoạt động của não và các trạng thái tinh thần mà không cần tìm hiểu sâu xa như khi nói nguyên nhân dẫn đến kết quả.

Một lĩnh vực khác mà thuyết nhị nguyên Descartes thống lĩnh tư duy là trong lĩnh vực giới tính của con người. Cho đến gần đây, thuật ngữ “giới tính” và “giới” được sử dụng thay thế cho nhau trong các tài liệu. Nhưng giờ đây, các nhà nghiên cứu đang đi tới thống nhất một quan điểm: “Giới tính” đề cập đến các thuộc tính thể chất của cơ thể nam giới hoặc nữ giới, trong khi “giới” đề cập đến trải nghiệm tâm lý khi trở thành một người nam tính và nữ tính.

Một cách ngẫu nhiên, xu hướng tình dục là một khía cạnh riêng biệt với giới tính hoặc giới. Xu hướng tình dục đề cập đến giới tính của những người mà bạn bị thu hút, bất kể là giới tính hay giới của bạn. Do đó, một người đàn ông (nghĩa là một người có cơ thể nam giới) có thể nhận thức mình mang giới tính nam (thích và làm những chuyện chứng tỏ sức hút nam tính) nhưng có xu hướng tình dục với đối với nam giới. Có lẽ hầu hết những người đồng tính nam đều nhìn nhận mình theo cách này.

Dân số nói chung xem giới tính/giới là các danh mục nhị phân – nam/nam tính và nữ/nữ tính. Ngược lại, một số học giả và nhiều nhà hoạt động phản bác rằng  cả giới tính và giới đều liên tục mở rộng. Có một vài sự thật đối với mỗi quan điểm.

Trong trường hợp là giới tính sinh học, hầu như tất cả mọi người đều có thể được phân loại là nam hoặc nữ. Điều này càng đặc biệt nếu chúng ta sử dụng tiêu chí đơn giản là dương vật = nam và âm đạo = nữ. Tuy nhiên, một số người được sinh ra với cơ quan sinh dục không rõ ràng, tình trạng này được gọi là liên giới tính. Nếu chúng ta cũng xem xét các đặc điểm giới tính phụ, chẳng hạn như khuôn mặt góc cạnh và vai rộng đối với đàn ông hoặc khuôn mặt tròn và hông rộng đối với phụ nữ, chúng ta thấy rằng mọi người được xếp theo khuôn mẫu từ cực kỳ nam tính cho đến cực kỳ nữ tính.

Tuy nhiên, sự mở rộng về giới tính này không giống như cầu vồng, với các dải có chiều rộng bằng nhau. Thay vào đó, giới tính của mọi người được trải rộng theo cái cách mà các nhà thống kê gọi là phân chia lưỡng tính – hay nói cách khác là một đường cong hình chuông kép. Hầu hết đàn ông có các đặc điểm cơ thể thông thường của nam giới, nhưng một số ít vượt ra ngoài phạm vi cực kỳ nam tính, trong khi những người khác lại có phần nào đặc điểm hơi nữ tính. Tương tự như vậy, hầu hết phụ nữ có đặc điểm cơ thể thông thường của nữ giới, với một số kiểu người quá nữ tính và những người mang một số đặc điểm nam tính.

Chúng tôi nhận được cùng một đường cong hình chuông kép đối với giới tính. Hầu hết đàn ông và phụ nữ đều xoay quanh hai điểm giữa, với sự cân bằng nhất định giữa các đặc điểm nam tính và nữ tính. Chỉ một số ít nằm ở các cực của sự phân chia lưỡng tính về giới.

Đối với đại đa số mọi người, bất kể là xu hướng tình dục, tâm lý giới tính và giới tính sinh học đều ít nhiều theo một trật tự. Nhưng đối với một số người, có sự không ăn khớp giữa giới tính và giới, và họ sẽ bày tỏ định kiến như “Tôi cảm thấy mình giống như một người đàn ông bị mắc kẹt trong cơ thể của một người phụ nữ”.

Đây là một trải nghiệm mà rất ít người có thể đồng cảm, lâu nay bị xem là một chứng rối loạn tâm lý. Nhưng trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ phiền muộn giới (có nghĩa là “lo buồn”) thay vì rối loạn bản dạng giới. Nói cách khác, giới tính và giới không hòa hợp không phải do bất ổn tâm lý. Tuy nhiên, rối loạn bản dạng giới dẫn đến các vấn đề tâm lý, cụ thể là trầm cảm và lo âu, và các vấn đề này cần được giải quyết.

Rối loạn bản dạng giới là một hội chứng mà tâm lý vẫn phải đối mặt vấn đề cả về thể chất lẫn tinh thần. Có rất nhiều suy đoán về cơ sở sinh học cho tình trạng này, từ di truyền dị thường đến tiếp xúc với hormone trong tử cung, nhưng những phát hiện được báo cáo cho đến nay không đủ để lặp lại trong những nghiên cứu tiếp theo. Vì vậy, vẫn còn rất nhiều điều chúng ta cần tìm hiểu về tình trạng này.

Rối loạn bản dạng giới được định nghĩa là tình trạng lo lắng, căng thẳng xuất phát từ việc giới tính sinh học và giới tính tâm lý không phù hợp với nhau, nên cách tiếp cận để điều trị tình trạng này là tìm phương pháp phù hợp với cả hai. Về lý thuyết, bạn có thể chuyển giới để phù hợp với giới tính, hoặc thay đổi giới tính để phù hợp với giới. Như vậy hóa ra là chuyển đổi giới tính dễ dàng hơn chuyển giới.

Liệu pháp xác định lại giới tính điển hình bao gồm một phác đồ hormone mang lại phản ứng hóa học của cơ thể phù hợp với giới tính nhận thức được. Sau đó, phương pháp này được tiếp tục bằng các cuộc phẫu thuật định hình lại cơ thể sang một giới tính mới. Quá trình chuyển đổi từ nam sang nữ thường thành công hơn chuyển từ nữ sang nam, chủ yếu do các bác sĩ phẫu thuật vẫn chưa biết cách tạo ra một dương vật nhân tạo hoạt động được.

Tuy nhiên thì sự can thiệp từ liệu pháp này không phải là không có rủi ro. Trong khoảng một phần tư các trường hợp, tình trạng đau khổ được hiểu là rối loạn định dạng giới vẫn tiếp tục xảy ra ngay cả sau khi hoàn chỉnh giới tính mới đã hoàn thiện. Nói cách khác, nguyên nhân thật sự của rối loạn định dạng giới có thể nằm ngoài bản dạng giới. Và vì thế, dù liệu pháp xác định lại giới tính có thể giúp một số người trở thành các cá nhân vui vẻ và hữu ích hơn trong xã hội, nó cũng cần được tiếp cận với sự quan sát kỹ lưỡng nhất.

Cho dù trị liệu tâm lý là một phần quan trọng trong việc xác định lại giới tính, thì các chuyên gia tư vấn thường tránh những liệu pháp liên quan đến việc dung hòa giới tính tâm lý với cơ thể vật lý. Ít nhất thì tôi cũng nghi ngờ là vì những cách tiếp cận như vậy đã áp dụng các “liệu pháp chuyển đổi” đã từng được sử dụng – với những hậu quả khôn lường – để “chữa trị” đồng tính luyến ái.

Nhưng ở đây có một sự khác biệt lớn. Xu hướng đồng tính không dẫn đến cảm xúc buồn bã và giằng xé về bản thân. Chỉ có thái độ tiêu cực từ phía xã hội và phải đối diện với sự phân biệt đối xử mới tạo ra các vấn đề tâm lý. Trong một xã hội cởi mở, những người đồng tính cũng hạnh phúc và hữu ích như những người dị tính. Ngược lại, những người mắc chứng rối loạn định dạng giới về cơ bản là không hài lòng với sự tách biệt giữa giới tính và giới mà họ nhận thức được bên trong cơ thể. Nói cách khác, họ cảm thấy cần phải thay đổi một điều gì đấy.

Đối với một số người, thay đổi cơ thể phù hợp với tâm trí có thể là giải pháp thích hợp. Với những người khác, việc tìm hiểu những vấn đề cơ bản của chứng rối loạn định dạng giới, với mục đích hòa hợp bản dạng giới của họ với cơ thể, có lẽ sẽ hiệu quả hơn. Các nhà cung cấp dịch vụ sức khỏe cho những người mắc bệnh cần phải cởi mở với cả hai cách tiếp cận.

Hầu hết các nhà tâm lý học ngày nay không đồng tình với Descartes. Là nhà khoa học, chúng ta cần phải chấp nhận tính ưu việt của thực tại vật lý, và công việc của chúng ta với tư cách là lao động của trí óc là giải thích trải nghiệm tâm lý liên quan đến thực tiễn như thế nào. Tuy nhiên, khi giới tính và giới không khớp nhau, tính ưu việt của trải nghiệm tâm lý Descartes vẫn chiếm ưu thế hơn. Nó hỗ trợ các nhà trị liệu đối phó với chứng rối loạn định dạng giới để xem xét các vấn đề thể chất và tinh thần trước khi đề xuất hướng giải quyết cho khách hàng của họ. 

Nguồn: Psychology Today

Dịch: Vũ Phương Thảo

Đọc thêm: Rối loạn bản dạng giớiHãy ủng hộ con của bạn khi con muốn khám phá bản dạng giới