Arend Lijphart

Arend Lijphart là giáo sư danh dự về khoa học chính trị tại Đại học California, San Diego. Ông là tác giả của công trình Những mô hình dân chủ: Hình thức và Hiệu lực của chính phủ ở 36 quốc gia (Patterns of Democracy: Government Forms and Performance in Thirty-Six Countries) (1999) và nhiều công trình nghiên cứu khác về các thể chế dân chủ, việc quản lí các xã hội chịu sự chia rẽ sâu sắc, và các hệ thống bầu cử. Bài viết này xuất hiện lần đầu tiên trên Tạp chí Dân chủ số mùa hè năm 1991.

***

Trong bài viết “Lựa chọn hiến pháp cho những nền dân chủ mới” (Constitutional Choices for New Democracies), tôi đã trình bày hệ thống các bằng chứng thực nghiệm về hiệu lực tương đối của các hệ thống dân chủ khác nhau trong một nổ lực nhằm vượt qua những tuyên bố cũng như những phản biện mơ hồ và khó kiểm chứng xung quanh chủ đề này. Tôi đã so sánh bốn nền dân chủ nghị viện với hệ thống bầu cử đa số tương đối (Vương quốc Anh, Canada, Úc và New Zealand) với chín nền dân chủ nghị viện với hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ (Đức, Ý, Áo, Hà Lan, Bỉ, và bốn quốc gia Bắc Âu – Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan) với các tiêu chí về năng lực đã được ghi nhận liên quan đến tính đại diện và khả năng bảo vệ nhóm thiểu số, chất lượng của nền dân chủ, khả năng duy trì trật tự và hòa bình nơi công cộng, cùng với khả năng quản lí nền kinh tế.

Tôi nhận ra rằng trong những trường hợp xuất hiện sự khác biệt giữa hai nhóm nhà nước dân chủ nêu trên thì nền dân chủ nghị viện với hệ thống đại diện tỷ lệ đạt được hiệu lực tốt hơn. Qua đó, giữa hai hệ thống này có sự khác biệt khá lớn, đặc biệt về các khía cạnh liên quan đến tỷ lệ đại diện của các nhóm thiểu số (được đo bởi tỷ lệ đại diện nữ giới trong nghị viện quốc gia), khả năng bảo vệ quyền lợi của các nhóm thiểu số (được đo bởi chính sách sáng tạo về gia đình), chất lượng của nền dân chủ (được đo bởi lượng cử tri đi bầu), và khả năng kiểm soát tình trạng thất nghiệp. Hai hệ thống này không có sự khác biệt to lớn nào về tình trạng bất bình đẳng thu nhập và khả năng kiểm soát lạm phát, và có rất ít hoặc hầu như không có sự khác biệt nào liên quan đến khả năng duy trì trật tự công (được đo bởi mức độ bạo loạn và tỷ lệ tử vong do bạo lực chính trị) cũng như mức tăng trưởng kinh tế. Bởi vì, dựa trên tri thức truyền thống – nhưng cũng khá cổ hủ – hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ có thể vượt trội hơn so với hệ thống đa số tương đối ở tiêu chí liên quan đến nguyện vọng của các nhóm thiểu số nhưng lại dẫn đến việc đưa ra quyết định kém hiệu quả, nên ngay cả những phát hiện của tôi về khác biệt nhỏ hoặc không có sự khác biệt nào tại một số tiêu chí liên quan đến hiệu suất của hai hệ thống bầu cử này cũng phải được tính là điểm tốt của hệ thống đại diện tỷ lệ – nghị viện.

Guy Lardeyret và Quentin L. Quade, hai nhà biện luận tài năng với sự thông thái trong lĩnh vực kinh điển này, đã đề ra một loạt luận điểm phản đối chuỗi phân tích và kết luận của tôi – đó là thách thức rất đáng hoan nghênh vì họ đã cho tôi có cơ hội nhận diện lại tính hợp lí đối với các bằng chứng mà tôi đưa ra. Lardeyret và Quade cho rằng: 1) sự khác biệt trong hiệu suất của chính phủ có thể được giải thích bởi các yếu tố đứng ngoài hình thái của nền dân chủ, và vì thế những trường hợp này không thể chứng minh được tính ưu việt của hệ thống dân chủ nghị viện với hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ; 2) khi xét đến tác động quan trọng khác của các loại hình dân chủ, hệ thống đa số tương đối luôn vượt trội hơn; 3) một số phát hiện của tôi là do kết quả đo không chính xác; và 4) phát hiện của tôi mang tính thiên vị bởi những bất cập trong việc tôi lựa chọn và phân loại các quốc gia để đưa vào chuỗi phân tích. Tuy nhiên, tôi sẽ chứng minh rằng bất cứ khi nào những luận điểm phản đối của họ được kiểm tra trong thực tế thì chính những luận điểm ấy lại có vấn đề.

Những cách giải thích khác

Ở đây, tôi đồng ý với lập luận của Quade và Lardeyret rằng sự thành công trong kinh tế không chỉ được xác định bởi chính sách của chính phủ; và tôi đã từng viết nhiều về đề tài này ngay trong bài viết đầu của tôi. Rõ ràng có nhiều yếu tố bên ngoài và ngẫu nhiên ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của một quốc gia. Tôi cũng đồng ý với lập luận của Quade rằng một số yếu tố đặc biệt đã ảnh hưởng tiêu cực đối với nước Anh. Mặt khác, chính một số quốc gia với hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ đã phải hứng chịu những thất bại tương tự: Hà Lan và Bỉ cũng là những đế quốc thực dân khá lớn đã bại trận, cơn “địa chấn xã hội-tâm lí” đã tạo nên cú sốc giải phóng thuộc địa mà nước Anh phải chịu đựng không hề kém nghiêm trọng hơn cú sốc của nước Đức sau khi bại trận và bị chia cắt, và xung đột sắc tộc cũng đã cản bước đường phát triển của Bỉ, cũng như vùng vành đai văn hóa Celtic của Vương quốc Anh. Nhưng tôi không chỉ so sánh giữa nước Anh với một hoặc nhiều nước theo hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ. Tôi so sánh một nhóm gồm bốn nền dân chủ nghị viện với hình thức bầu cử đa số tương đối với nhóm gồm chín quốc gia dân chủ nghị viện với hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ. Tôi đã giả định rằng khi hoạt động kinh tế của nhóm các nền dân chủ này được kiểm tra trong một thời gian dài, và khi tất cả các nước được nghiên cứu có mức phát triển kinh tế ngang nhau, tác động của những ảnh hưởng bên ngoài và ngẫu nhiên có xu hướng triệt tiêu nhau. Do đó, vì không có bất cứ luận điểm chính đáng nào cho rằng, nhóm các nước có nền dân chủ nghị viện với hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ đã hưởng lợi thế kinh tế bất thường từ năm 1960 đến năm 1980, và ngay cả Lardeyret và Quade cũng không đưa ra luận điểm phản đối nào trong trường hợp này, nên những giả định và khám phá của tôi về sự khác biệt trong hoạt động kinh tế vẫn còn hiệu lực.

Lardeyret và Quade đã đề cập đến một số vấn đề có thể làm cơ sở cho cách giải thích khác: những điểm đặc thù của nhóm các nước Bắc Âu, lợi thế của việc sở hữu một chế độ quân chủ lập hiến, những sự khác biệt giữa hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ trung tính và cực đoan, và lợi thế từ chiếc ô quân sự của Hoa Kì. Tất cả những vấn đề đều có thể được kiểm tra bằng thực nghiệm. Ở đây, Lardeyret tuyên bố rằng tỷ lệ thất nghiệp ở các nước Bắc Âu đã bị đánh giá thấp vì “nhóm công việc được bảo hộ cao” và gần như không có tình trạng bất bình đẳng thu nhập do một bất lợi không bình thường mà các đảng bảo thủ phải đối mặt ở các quốc gia này. Để xác nhận xem liệu các yếu tố này có thể thay đổi phát hiện của tôi hay không, chúng ta có thể kiểm tra một cách dễ dàng bằng cách tạm thời loại trừ các nước Bắc Âu ra khỏi chuỗi phân tích, và so sánh các nước dân chủ nghị viện với hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ không thuộc nhóm nước Bắc Âu với nhóm các nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ thống bầu cử đa số tương đối. Tỷ lệ thất nghiệp trung bình ở các nước Bắc Âu thực sự thấp hơn so với các nước không thuộc nhóm nước Bắc Âu – 2,7% so với 5,7% – nhưng tỷ lệ 5,7% này vẫn tốt hơn một chút so với tỷ lệ thất nghiệp 6,1% ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối. Xét trong giả định sự bất bình đẳng thu nhập là có liên quan đến phân tích trên thì ở đây hầu như không có sự khác biệt giữa các nước Bắc Âu và các nước không thuộc nhóm nước Bắc Âu nhưng đều theo thể chế dân chủ nghị viện và sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ – 39,0% so với 38,9% – và tỷ lệ bất bình đẳng thu nhập tương ứng của cả hai nhóm nước này đều thấp hơn con số 42,9% – tỷ lệ bất bình đẳng thu nhập trong các thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối.

Khi chúng ta so sánh chế độ quân chủ với chế độ cộng hòa, nhận định đầu tiên cần phải được đưa ra đó là nếu hình thái thể chế quân chủ lập hiến là một lợi thế, thì tất cả các nước theo thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối đều được hưởng lợi thế này, trong khi chỉ có khoảng một nửa các nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ thống đại diện tỷ lệ hưởng lợi như vậy. Nhận định thứ hai là khi chúng ta so sánh các nước quân chủ (Bỉ, Hà Lan, Thụy Điển, Na Uy và Đan Mạch) với các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ (Đức, Ý, Áo và Phần Lan), tốc độ tăng trưởng của họ hầu như giống nhau và tỷ lệ lạm phát của họ cũng giống hệt nhau. Chỉ có tỷ lệ thất nghiệp thì khác biệt đôi chút: nhóm các nước theo thể chế quân chủ có tỷ lệ thất nghiệp trung bình 4,0%, thấp hơn so với con số 4,9% ở nhóm các nước không theo thể chế quân chủ. Như vậy, một lần nữa, tỷ lệ phần trăm sau vẫn còn tốt hơn so với mức trung bình 6,1% ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối. Đối với tiêu chí về khả năng đại diện và bảo vệ quyền lợi của các nhóm thiểu số, có sự khác biệt nhỏ giữa nhóm các nước quân chủ và phi quân chủ, nhưng cả hai nhóm này đều cho thấy tình hình tốt hơn các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đa số tương đối.

Liệu gót chân Achilles trong chuỗi phân tích về ưu thế của các nước sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ có bị vạch trần khi chúng ta tập trung vào nhóm nước bầu cử đại diện tỷ lệ mang tính cực đoan (Ý, Hà Lan, Đan Mạch và Phần Lan) và đối chiếu chúng với các nước bầu cử đại diện tỷ lệ trung tính hơn (Đức, Thụy Điển, Na Uy, Bỉ và Áo)? Ở đây, các bằng chứng thực nghiệm đã bác bỏ luận điểm này. Tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp trong nhóm nước bầu cử theo đại diện tỷ lệ cực đoan quả thực cao hơn so với nhóm nước bầu cử theo đại diện tỷ lệ trung tính (7,4% và 5,5% so với 5,4% và 3,6%) nhưng vẫn thấp hơn một chút so với mức 7,5% và 6,1% trong nhóm các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối; còn tốc độ tăng trưởng của các nước này hầu như giống hệt nhau. Trên bốn tiêu chí về khả năng đại diện và chất lượng của nền dân chủ, sự khác biệt cũng tương đối nhỏ, và cả hai nhóm nước bầu cử theo đại diện tỷ lệ vẫn dẫn trước nhóm nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ thống bầu cử đa số tương đối. Sự ưu ái của tôi thì vẫn dành cho hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ trung tính, nhưng đừng phóng đại sự nguy hiểm của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ cực đoan.

Như Quade đã chỉ ra rất chính xác, các nước theo thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ đã có được lợi thế phát triển dưới “sự bảo trợ quân sự của Hoa Kì”, nhưng nếu vậy đừng quên rằng có bốn quốc gia theo thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối cũng đứng dưới bóng chiếc ô ấy. Thực tế là chỉ có một số trường hợp ngoại lệ nhỏ trong nhóm các nước này theo hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ, bao gồm: Thuỵ Điển với quan điểm trung lập nhưng vẫn đầu tư vào vũ trang mạnh mẽ dẫn tới chi phí quân sự nặng nề, và Phần Lan thì phải sống trong sự phụ thuộc nguy hiểm dưới sự kiềm chế của Liên bang Soviet. Tuy nhiên, về tổng thể, chính sách bảo hộ quân sự của Hoa Kì đã đem lại lợi ích tương đương nhau cho cả 13 nước theo thể chế dân chủ nghị viện, và do đó không thể giải thích sự khác biệt nào trong tương quan hồ sơ của các nước này.

Những tiêu chuẩn và cách phân loại khác

Một phần nhằm bổ sung cho lí thuyết, và một phần nhằm thay thế nhóm biện pháp tôi sử dụng để đánh giá hiệu suất đối với các mô hình dân chủ khác nhau, Lardeyret và Quade cho rằng các mô hình dân chủ cần phải được đánh giá bởi các tiêu chí như trách nhiệm giải trình, sự ổn định của chính phủ, khả năng ra quyết định, và khả năng tránh “hiện tượng bầu cử lặp lại”. Thực ra, có một số bất trắc trong các đề xuất này. Đầu tiên, quả thực trách nhiệm chắc chắn là một phẩm chất quan trọng của một chính phủ dân chủ, nhưng phẩm chất này lại không thể được đo lường một cách khách quan.

Thứ hai, thực tế cho thấy hình thái chính phủ liên minh không hề tỏ ra thiếu trách nhiệm hay thiếu minh bạch hơn hình thái chính phủ một đảng cầm quyền. Cách Quade mô tả liên minh cầm quyền như một chính phủ “được hợp thành từ những mảnh vụn sau một quá trình bầu cử mờ ám hợp thời được tiến hành bởi những cuộc thương lượng ngầm” có thể đúng cho một số rất ít trường hợp ngoại lệ như Israel (không chỉ thuộc nhóm nước theo mô hình đại diện tỷ lệ cực đoan mà còn sở hữu những cử tri chia rẽ và phân cực), nhưng đối với hầu hết các nước sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ thì nhận định này là một sự phóng đại đến nực cười. Trong thực tế, một khi chính phủ liên minh được hình thành, cỗ máy này có xu hướng hoạt động ổn định, và thậm chí còn ít bí mật và tỏ ra cởi mở hơn so với hình thái một đảng cầm quyền.

Thứ ba, sự ổn định của chính phủ có thể được đo bằng thời gian hoạt động trung bình của nội các. Trên cơ sở các số liệu thu thập được trước đó, chuỗi tính toán của tôi cho thấy quãng thời gian hoạt động trung bình ở các nước theo mô hình dân chủ nghị viện sử dụng bầu cử đa số tương đối thực tế còn nhiều hơn gấp đôi quãng thời gian tương ứng ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ[1]. Theo như Lardeyret giả định, thời gian tại vị dài hơn có nghĩa quyết định của chính phủ sẽ có trọng lượng hơn vì thời gian hoạt động lâu dài của nội các. Nhưng khi một nội các của chính phủ liên minh thay đổi thì họ thường không thay đổi kịch liệt như nội các tại các quốc gia theo dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ. Chính Lardeyret đã thừa nhận điều này khi ông than phiền về “nhiệm kì dài một cách bất thường của các một nhóm cố định chính trị gia quan trọng” ở những quốc gia bầu cử theo đại diện tỷ lệ.

Thứ tư, nếu luận điểm của Lardeyret đúng về ưu thế trong khả năng ra quyết định của chính phủ các nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ thống bầu cử đa số tương đối, thì bằng chứng thuyết phục duy nhất cho ý tưởng này là quyết định của chính phủ các nước này thường dẫn đến chính sách hiệu quả hơn. Ở đây, chính vấn đề này đưa chúng ta trở lại với tiêu chí đánh giá hiệu suất của chính phủ dựa trên khả năng xây dựng thành công các chính sách kinh tế vĩ mô và khả năng duy trì được trật tự công. Như những gì chúng ta có thể thấy, bằng chứng vững chắc nhất này lại không có ở bất kì quốc gia nào theo thể chế dân chủ nghị viện và sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối.

Cách Lardeyret phê phán về mức độ bầu cử lặp lại không cần thiết xảy ra thường xuyên trong nhóm các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ còn đề ra một biện pháp bổ sung hữu dụng nữa để xác định hiệu lực của nền dân chủ – đáng mừng thay là phương pháp này có thể được đo lường và thử nghiệm dễ dàng. Trong giai đoạn kéo dài 29 năm, từ năm 1960 đến năm 1988, cùng thời gian mà hai trong số ba chỉ số kinh tế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được xác lập, các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối đã tổ chức trung bình 10,0 lần bầu cử hợp lệ ở cấp quốc gia, so với mức trung bình 8,8 lần bầu cử ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ[2]. Rõ ràng, tần số các cuộc bầu cử ở các nước theo hệ thống đại diện tỷ lệ thấp hơn các nước sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối, một sự thực trái với khẳng định Lardeyret, mặc dù sự khác biệt ở đây cũng không đáng kể. Tuy nhiên, về căn bản, giả thuyết của Lardeyret đã bị bác bỏ hoàn toàn bởi thử nghiệm đơn giản này.

Lardeyret và Quade chỉ có một vài bất đồng về phép đo của tôi. Một nghi vấn mà Lardeyret đã đề xuất hướng đến lượng cử tri đi bầu: lượng cử tri tham dự bỏ phiếu ở Hoa Kì sẽ cao hơn đáng kể nếu tính theo tỷ lệ cử tri đã đăng ký. Ông đã hoàn toàn đúng về điểm này, nhưng tất cả các con số về lượng cử tri tôi sử dụng là số tỷ lệ phần trăm của người bỏ phiếu – nghĩa là tất cả các nước đều được đối chiếu một cách bình đẳng. Hơn nữa, nếu con số cử tri đi bầu được sử dụng như một thước đo cho chất lượng của nền dân chủ, thì chính số liệu thấp ở Hoa Kì không chỉ phản ánh mức độ cao bất thường về sự thờ ơ chính trị, mà cả “thực tế” là chính phủ đã cố tình hạn chế người dân sử dụng quyền biểu quyết bằng cách tạo ra thủ tục đăng ký phiền hà.

Còn Quade thì hoài nghi biểu thức của tôi về “số lượng phụ nữ làm việc trong cơ quan lập pháp và khả năng đại diện cho nguyện vọng của nữ giới”. Nhưng tôi không hề đánh đồng hai khái niệm này: Tôi đã sử dụng một phép đo riêng (tính đổi mới và tính bao quát trong chính sách gia đình, vốn là những mối quan tâm đặc biệt của người phụ nữ) để kiểm tra xem phải chăng lợi ích của nữ giới đã được đảm bảo tốt hơn trong nhóm các nước bầu cử theo mô hình đại diện tỷ lệ, và thực nghiệm cho thấy đúng là như vậy.

Cuối cùng, Lardeyret đặt câu hỏi về việc tôi đã sử dụng bảng xếp hạng chất lượng nền dân chủ của Robert Dahl, bởi tính chất thiên vị hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ của công cụ này. Tôi đã thừa nhận lí thuyết này có phần thiên vị ngay trong bài viết ban đầu của mình, nhưng tôi vẫn quyết định sử dụng bảng xếp hạng Dahl vì đây vẫn là công cụ xếp hạng tổng thể được xây dựng cẩn thận nhất mà chúng ta có sẵn. Tuy nhiên, cũng vì hệ quy chiếu này rõ ràng thiếu khách quan hơn so với các tiêu chí khác của tôi, tôi sẽ không nhấn mạnh vào việc sử dụng công cụ này làm bằng chứng.

Quade đã chỉ trích cách tôi phán xét theo hướng có lợi cho mô hình nhà nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ bằng cách trình bày một số ví dụ cho thấy mô hình đại diện tỷ lệ đã hoạt động sai cách, đặc biệt là hai trường hợp thường được xem là thất bại kinh điển của nền dân chủ: nền Cộng hòa Weimar và nền Đệ tứ Cộng hòa của Pháp. Không ai có thể phủ nhận thất bại của nền Cộng hòa Weimar, nhưng thực chất, hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ không phải là yếu tố phải chịu trách nhiệm chính cho sự sụp đổ của nền cộng hòa này, và hệ thống đa số tương đối cũng chưa chắc là công cụ có thể cứu vãn nền Cộng hòa Weimar. Hơn nữa, bản thân Cộng hòa Weimar là một chế độ bán tổng thống chứ không phải là một chế độ nghị viện.

Còn ở Pháp, nền Đệ tứ Cộng hòa thực sự đã không làm tròn trách nhiệm, nhưng một lập luận hợp lí sẽ chỉ ra rằng chỉ cần những cải cách tương đối nhỏ trong khuôn khổ nền dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đại diện tỷ lệ đã có thể giải quyết vấn đề, và giải pháp thay đổi triệt để chế độ nghị viện sang chế độ bán tổng thống, cũng như chuyển từ hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ sang hình thức bầu cử đa số tương đối hoàn toàn không cần thiết. Vả lại, ví dụ cho những thất bại của hệ thống đại diện tỷ lệ thực chất không hề vượt trội so với những ví dụ về sự thất bại của hệ thống đa số tương đối, điển hình là thất bại của nền dân chủ ở Tây Phi. Sir Arthur Lewis, người từng là cố vấn kinh tế cho chính phủ ở đây, đã phải thừa nhận rằng “con đường chắc chắn nhất để thủ tiêu các ý tưởng dân chủ” trong những xã hội bị chia rẽ như vậy “là lựa chọn du nhập hoàn toàn hệ thống bầu cử kiểu Mỹ Ănglê, nghĩa là kiểu bầu cử kẻ-chiến-thắng-giành-tất-cả [tức là hệ thống đa số tương đối]”[3].

Lardeyret đã không đặt ra nghi vấn về cách tôi tập trung vào nhóm các nước dân chủ ổn định đương đại, nhưng thay vào đó lại lập luận cho trường hợp của các quốc gia cần được phân loại riêng. Mặc dù nền chính trị ở Pháp không hẳn là chế độ tổng thống, cũng không hoàn toàn sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối, tôi vẫn đồng ý với đề xuất của ông rằng: về cả hai phương diện, quốc gia này đã đủ tiêu chuẩn để được xếp loại cùng cấp với Hoa Kì. Tôi cũng đồng ý rằng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thuộc nhóm nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ, nhưng dữ liệu khả dĩ so sánh vẫn còn thiếu, bởi hai nước này vẫn chưa hoàn toàn dân chủ trong giai đoạn mà những bằng chứng thực nghiệm của tôi có thể khái quát hết. Nhưng tôi không đồng ý với luận điểm cho rằng nước Đức không thuộc nhóm các nước sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ, và cần được phân loại như một nước trong hệ thống sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối. Quốc gia này đã gần như hoàn toàn sử dụng hệ thống đại diện tỷ lệ, bởi các ghế trong Quốc hội Liên bang Đức (Bundestag) được phân bổ đầy đủ cho các đảng chính trị, mặc dù giới hạn 5,0% số ghế khiến nước Đức dừng lại ở mức một quốc gia theo mô hình đại diện tỷ lệ trung tính.

Nhưng kể cả khi chúng ta xem nước Đức là một quốc gia sử dụng hệ thống đa số tương đối thì lí luận của tôi vẫn đứng vững. Giả thuyết phản biện của Lardeyret cho rằng, trong “thứ tự cấp bậc xét theo tiêu chuẩn của tính hiệu lực và tính dân chủ”, hai kiểu chế độ sử dụng hệ thống bầu cử đa số tương đối (chế độ nghị viện và chế độ tổng thống) phải được xếp trên mô hình thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ. Tính xác thực của giả thuyết này có thể được nhận diện bằng cách so sánh bảy thể chế sử dụng hệ thống bầu cử đa số tương đối (các nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ thống đa số tương đối cùng với Hoa Kì, Pháp, và tạm thời là Đức) với tám thể chế sử dụng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ (nghĩa là tất cả các nền dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ, trừ Đức). Sau khi phân loại lại, kết quả nhóm các quốc gia sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ vẫn cho thấy biểu hiện tốt hơn trong tiêu chí về khả năng kiểm soát tình trạng thất nghiệp (tỷ lệ thất nghiệp trung bình: 4,6% so với 5,5%), và không chênh lệch nhau nhiều trong tiêu chí tốc độ tăng trưởng (3,5% so với 3,4%) và lạm phát (6,6% so với 6,5%). Đối với tiêu chí về khả năng đại diện cho nguyện vọng các nhóm thiểu số và khả năng bảo vệ chất lượng nền dân chủ, các quốc gia theo mô hình đại diện tỷ lệ vẫn đang dẫn trước các quốc gia sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối: 17,5% so với 4,5%, xét về tỷ lệ nữ giới trong quốc hội; 8,0% so với 4,4%, xét về tỷ lệ chính sách gia đình; 84,5% so với 73,5%, xét về về lượng cử tri đi bầu; 38,9% so với 41,9%, xét về tỷ lệ giữa thu nhập của 20% gia đình giàu có nhất đối với tổng thu nhập của tất cả các gia đình. Như vậy, các bằng chứng thực nghiệm đều bác bỏ giả thuyết phản biện của Lardeyret.

Lựa chọn và thay đổi

Ưu thế có thể nhìn thấy của chế độ đại nghị và hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ dường như đang được đánh giá cao bởi cả công dân và chính trị gia từ các nước dân chủ. Có một xu hướng bất mãn trước cách vận hành của chế độ tổng thống đang lan rộng, cũng như sự hỗ trợ khá lớn dành cho những tiến trình chuyển hướng đến hình thức chính phủ nghị viện, nếu không phải ở hầu hết thì cũng ở phần lớn các nước dân chủ theo chế độ tổng thống; còn xu hướng trái ngược thì hầu như không hiện diện ở bất kì nền dân chủ nghị viện nào. Tương tự, ở hầu hết các nước dân chủ vẫn sử dụng hệ thống bầu cử đa số tương đối, người ta cũng bất mãn về cách vận hành của hình thức bầu cử này và ấp ủ khát khao cho tiến trình chuyển đổi hướng đến hệ thống đại diện tỷ lệ, nhưng xu hướng ngược lại thì rất hiếm gặp ở các nước dân chủ đã sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ. Một lí do quan trọng dẫn đến những hình mẫu như vậy là tính chất gây chia rẽ – kẻ chiến thắng có tất cả – của hệ thống bầu cử đa số tương đối, cũng như của chế độ tổng thống đã được biết đến rộng rãi. Trong giai đoạn chuyển mình giữa hai thế kỷ, các nền dân chủ non trẻ phải đối mặt với tình trạng phân chia sắc tộc hay những mâu thuẫn sâu sắc khác đã nhiều lần tìm đến hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ để dung hoà được những khác biệt như vậy. Do đó, lời khuyên lựa chọn hình thức bầu cử đa số tương đối của Lardeyret dành cho nhà nước Nam Phi, cũng như những quốc gia và vùng lãnh thổ khác vẫn đang phải đối mặt với nhiều mâu thuẫn trầm trọng và thực sự tạo ra những nguy hiểm tiềm tàng.

Một lí do quan trọng khác dẫn đến sự phổ biến của hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ là cảm giác của những người dân cho rằng kết quả của những cuộc bầu cử thiên lệch vốn đã không công bằng và phi dân chủ. Không có một đảng cầm quyền nào ở nước Anh sau Đệ nhị Thế chiến được chấp nhận bởi đa số cử tri; tất cả các đảng chính trị này đã đạt được sức mạnh để tiếp tục nắm quyền bất chấp thực tế là hầu hết các cử tri đã bỏ phiếu chống lại họ. Quan điểm của cả Lardeyret và ​​Quade khẳng định rằng tính chất thiếu cân xứng trong quá trình bầu cử vốn không quan trọng chưa bao giờ được chấp nhận rộng rãi bởi giới trí thức dân chủ. Một bài xã luận gần đây trên tờ Economist đã xác nhận rằng, “bởi vì nhận thức về sự công bằng là ngọn lửa thử vàng cho mỗi nền dân chủ – là nền tảng của mọi nền tảng đối với tính hợp pháp của thể chế dân chủ – nên những cuộc tranh luận về sự bất công đứng trên tất cả mọi lí luận khác.”

Những quá trình thay đổi tận gốc hiến pháp luôn rất khó được thực hiện và vì vậy rất hiếm khi xuất hiện, nhưng có nhiều khả năng tinh thần dân chủ lên cao đang chuyển đổi từ hình thức bầu cử đa số tương đối sang hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ chứ không phải theo chiều ngược lại. Lí do dẫn đến hiện tượng này không phải như Lardeyret đã minh họa, “khi một thể chế đã dính vào hệ thống đại diện tỷ lệ, việc thoát ra là gần như bất khả, bởi vì nỗ lực như vậy đòi hỏi các đảng độc lập phải hợp tác để giải quyết những mâu thuẫn riêng.” Ngược lại, đây mới là lí do khiến các đảng chính trị mạnh vốn được hưởng lợi từ hệ thống đa số tương đối sẽ cố gắng duy trì hệ thống này cho bằng được. Còn với hệ thống đại diện tỷ lệ, tất cả các đảng lớn thường nắm giữ đủ lá phiếu để chuyển sang một hệ thống khác nếu lựa chọn ấy phục vụ quyền lợi của họ, đặc biệt là bởi vì, như Lardeyret đã chỉ ra một cách chính xác, nguyên tắc của hệ thống bầu cử “thường bị bỏ qua trong hầu hết các hiến pháp”. Việc các đảng chính trị trong hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ hiếm khi cố gắng thay đổi cách thức bầu cử không thể được lí giải bởi quan điểm hẹp hòi về tính tư lợi; chính cảm giác cho rằng việc loại bỏ hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ sẽ dẫn tới phi dân chủ và nguy hiểm mới đóng vai trò chính. Cả bằng chứng thực nghiệm và chiều sâu của những luồng tư tưởng ​​trong các nền dân chủ hiện hành đã củng cố cho đề xuất rằng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ và chế độ dân chủ nghị viện là những lựa chọn thỏa đáng nhất cho những quốc gia dân chủ non trẻ.

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH: 

[1] Một nội các được xem như không đổi nếu cơ cấu đảng chính trị của họ không thay đổi; dựa trên cơ sở của định nghĩa này và xem xét giai đoạn 1945-1980, chúng ta sẽ thấy thời gian hoạt động trung bình của nội các ở bốn quốc gia dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối là 88 tháng, còn ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ là 44 tháng (Nguồn: Arend Lijphart, Democracies: Patterns of Majoritarian and Consensus Government in Twenty-One Countries (New Haven: Yale University Press, 1984))

[2]Ngày tháng diễn ra các cuộc bầu cử quốc hội ở 13 quốc gia này có thể được tìm thấy trong các chương tương ứng với danh sách quốc gia của công trình: Thomas T. Mackie and Richard Rose, The International Almanac of Electoral History, 3rd ed. (London: Macmillan, 1991).

[3] Nguồn: W. Arthur Lewis, Politics in West Africa (London: Allen and Unwin, 1965).