Quentin L. Quade

Quentin L. Quade (năm sinh không rõ – mất năm 1999) từng là giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Marquette ở Milwaukee, Wisconsin, nơi ông từng là Viện trưởng Viện đào tạo sau đại học (từ 1968 đến 1972) và làm phó hiệu trưởng (từ năm 1974 đến năm 1990). Tác phẩm của ông bao gồm hơn 60 bài tiểu luận đã đăng trên các tạp chí như Phê bình Chính trị (Review of Politics), Tạp chí Freedom at Issue (Freedom at Issue), Những điều Tiên quyết (First Things), Tư tưởng (Thought), và Những vấn đề Nghị viện (Parliamentary Affairs).

Bài viết này xuất hiện lần đầu trong ấn bản mùa hè năm 1991 của Tạp chí Dân chủ (Journal of Democracy).

***

Trong bài viết “Lựa chọn Hiến pháp cho những nền dân chủ mới”, Arend Lijphart đã mô tả và đánh giá một số lựa chọn tổ chức chính yếu sẵn có cho các nền dân chủ mới. Lijphart cho biết việc lựa chọn hệ thống bầu cử nào có vai trò đặc biệt quan trọng, vì điều này quyết định số lượng đảng phái tham gia bầu cử và kết quả tranh cử sẽ là nhà nước độc đảng hoặc nhà nước liên minh các đảng cầm quyền. Ông cũng biết rằng một khi đã chọn một hệ thống bầu cử thì không dễ dàng để có thể thay đổi nó sau này. Lijphart ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ, hoan nghênh đa đảng, và coi trọng liên minh. Tôi đã công khai bảo vệ quan điểm ngược lại. Tôi ủng hộ việc bầu cử đa số tương đối với đơn vị bầu cử một đại biểu, và hi vọng giải pháp này sẽ khuyến khích việc hình thành một nền chính trị lưỡng đảng, và tán dương chính phủ một đảng cầm quyền sau mỗi mùa bầu cử[1].

Làm thế nào mà hai nhà dân chủ với xuất phát điểm tương tự nhau như Lijphart và tôi lại có thể đưa ra giải pháp hoàn toàn tương phản nhau như vậy cho trường hợp của các nền dân chủ mới nổi? Giống như trong bất động sản vậy, điểm mấu chốt là phải khảo sát toàn bộ cơ ngơi. Thậm chí ngay cả một khảo sát ngắn gọn và có chọn lọc, như bài viết này chẳng hạn, cũng có thể chỉ ra lý do chúng tôi đưa ra khuyến nghị rất khác nhau, và cả lí do tại sao tôi nghĩ rằng căn cứ cho kết luận của Lijphart không những còn nhiều nghi vấn mà còn không tưởng.

Những người ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ thường mô tả lựa chọn này như một hệ thống “công bằng” và “công tâm” hơn. Bài viết của Lijphart khẳng định rằng hình thức PR sẽ tạo nên sự “đồng thuận” chính trị, thúc đẩy con đường “hòa giải và thỏa hiệp”, cũng như kết quả sẽ mang tính “đại diện” hơn so với hệ thống đa số tương đối. Tuy nhiên, các tính chất “công bằng”, “công tâm”, “mang tính đại diện” hay các tính chất tốt đẹp khác được gán cho hệ thống đại diện tỷ lệ cần phải được định nghĩa hay giải thích rõ ràng dựa trên lập luận triết học vững chắc. Nhưng chưa hề có bất kỳ một lập luận vững chắc nào như vậy được trình bày hoặc chỉ cần được tóm tắt trong bài viết của Lijphart. Điều duy nhất chắc chắn về PR là nó thúc đẩy xu hướng tái thiết các bộ phận hợp thành xã hội và xác lập vị trí chúng trong cơ quan lập pháp. Đó cũng là mục đích, nguyên lí và kết quả của hệ thống PR[2].

Liệu một hệ thống khuyến khích đa đảng có đạt được những ưu điểm mà những người ủng hộ nó tung hô là công bằng hơn, công tâm hơn hay có tính đại diện cao hơn đều dựa trên học thuyết về nghệ thuật quản lí nhà nước và mô hình dân chủ. Mục đích của nhà nước là gì? Liệu việc áp dụng dân chủ có loại bỏ hoặc thậm chí chỉ làm giảm bớt các đòi hỏi mang tính truyền thống áp đặt lên hành động của nhà nước hay không? Cụ thể là, có phải quản lí nhà nước theo hình thức dân chủ làm giảm trách nhiệm của nhà nước trong việc tổng hợp các thành phần xã hội, thống nhất và bảo vệ người dân, hoặc xác định và theo đuổi lợi ích chung – là những giá trị mà không có thành phần xã hội nào chiếm hữu nhưng lại ảnh hưởng đến toàn xã hội. Hay nền chính trị dân chủ tồn tại cũng để thực hiện những nhiệm vụ đã làm nên ý nghĩa tồn tại của mọi nhà nước khác trong lịch sử, nhưng thực hiện chúng theo một cách mới, một cách có trách nhiệm và thỏa đáng hơn? Nếu đúng như vậy, thì phép thử đầu tiên cho sự công bằng, hay tính đại diện xã hội của nền chính trị dân chủ cũng chính là phép thử về tính ưu việt của hoạt động nhà nước. Phép thử thứ hai cũng không kém phần quan trọng so với phép thử thứ nhất là phép thử về tính trách nhiệm. Nhưng thay vì các phép thử như vậy thì Lijphart và những người ủng hộ lí thuyết PR cùng với ông, lại tập trung vào câu hỏi đầu tiên là việc tái thiết các thành phần tự nhiên trong xã hội cũng như tái xác định vị trí của các thành phần đó trong cơ quan lập pháp có tốt không? Ví dụ, khi tương quan số lượng phụ nữ trong cơ quan lập pháp với tính đại diện cho lợi ích của giới nữ, Lijphart đã sử dụng thuật ngữ “tính đại diện” mang ý nghĩa của “tái thiết”. Với niềm tin về “lí thuyết hình ảnh” của yếu tố đại diện pháp lí, Lijphart đã phủ nhận hoàn toàn tư tưởng của Edmund Burk.

Để chứng minh rằng xu hướng tái thiết quá trình phân chia thành phần xã hội và làm sinh sôi các đảng phái của PR thực sự là một điều tốt, thì cần bổ sung lập luận. Nó phải giải thích được một hệ thống chính trị sẽ “công bằng” như thế nào nếu nó không chống lại được sức hút tập trung của lợi ích, làm thế nào nó có thể thúc đẩy phúc lợi chung nếu nó chỉ “đại diện” cho những thành phần xã hội nhỏ và rời rạc, và làm thế nào một chính phủ được hợp thành từ đại diện của các đảng phái sau quá trình trao đổi kín giữa các đảng lại có thể được xem như là có trách nhiệm và đáng tin cậy. Chỉ khi lí giải được như vậy thì những người ủng hộ giải pháp PR mới có thể chấm dứt được những mối hoài nghi.

Những trường hợp đơn giản và những suy đoán vô căn cứ

Tôi đã chỉ ra rằng những người ủng hộ PR nói chung, và Lijphart nói riêng, có xu hướng đơn giản hóa chu trình của họ bằng cách đi tắt từ xu hướng tái tạo các bộ phận của xã hội của hệ thống PR đến một tư tưởng mặc định cho rằng việc tái tạo như vậy là tốt. Một cách tiếp cận tốn ít công sức khác, mà thường xuất hiện trong bài viết của Lijphart, là xây dựng luận cứ cho mô hình PR bằng cách chọn những trường hợp dễ dàng, thường được phát triển dựa trên những hoàn cảnh tốt đẹp ít khi xảy ra.

Hiển nhiên là sự khó khăn trong việc kiểm nghiệm một hệ thống chính trị sẽ tương ứng với độ nghiêm trọng của các vấn đề tiền chính trị mà hệ thống đó phải đối mặt. Tôi muốn nói tới các tham biến rõ ràng như sự khỏe mạnh hoặc bệnh tật của nền kinh tế, tình trạng căng thẳng hoặc hòa hợp sắc tộc, sự mâu thuẫn hoặc thống nhất tôn giáo, sự sụp đổ hoặc an toàn của địa chính trị. Đồng thời, ta có thể nhận thấy rõ ràng một cơ cấu chính trị tương đối yếu vẫn có thể trụ vững trong một điều kiện tiền chính trị thuận lợi, trong khi một hệ thống mạnh hơn vẫn có thể suy tàn nếu phải trải qua những yếu tố tiền chính trị khắc nghiệt. Do đó, nếu có một nước X được tồn tại giữa những hoàn cảnh bình yên nhất, sức mạnh của cấu trúc chính trị của quốc gia này không đáng để quan tâm. Một môi trường lí tưởng như vậy có thể sẽ dẫn đến nhiều sai sót; thậm chí kể cả khi mô hình của thể chế ấy yếu đến mức rất dễ sụp đổ, thì sức chống chịu tự nhiên của xã hội cũng sẽ giữ cho nhà nước ấy trụ vững.

Phần lớn những điểm khác biệt giữa tôi với Lijphart đến từ việc ông ta luôn có xu hướng kiểm nghiệm hệ thống PR trong các trường hợp quá tầm thường. Hầu hết các ví dụ cho sự “thành công” của hệ thống PR được rút ra từ các xã hội có quy mô rất nhỏ. Như là trường hợp các nước Bắc Âu, những xã hội gần như đồng nhất, với mức độ phân biệt chủng tộc, sắc tộc hay tôn giáo cực kì thấp. Những xã hội này cũng chẳng phải trải qua tất cả vấn đề kinh tế nghiêm trọng trong những gian đoạn mà Lijphart chọn để quan sát. Hơn nữa, tất cả các trường hợp có kết quả khả quan trong nghiên cứu của ông đều được sự bảo trợ của quân đội Hoa Kì, một tác nhân tạm thời đã giúp họ tránh được hầu hết áp lực của các âm mưu cân bằng quyền lực. Nhiều nước còn là đối tượng hưởng lợi từ Kế hoạch Marshall, chiến dịch viện trợ đã tạo nên một thời kì phục hồi kinh tế và phát triển chưa từng có ở Tây Âu.

Tựu trung, hầu hết đối tượng trong danh sách ví dụ của Lijphart đều được hưởng những điều kiện tiền chính trị thuận lợi như vậy; môi trường phòng thí nghiệm ấy khác một trời một vực với những điều kiện khắc nghiệt mà các nền dân chủ mới hiện giờ phải đối mặt. Danh sách của ông cũng bỏ qua tất cả các trường hợp cho thấy rõ rằng PR có thể tạo nên ảnh hưởng nghiêm trọng thế nào và dẫn đến cảnh suy tàn của nhà nước và sự sụp đổ của hệ thống. Nhà nước Ý cùng nhiều đảng phái nhỏ lẻ và những bế tắc chính trị ở giai đoạn trước khi Mussolini lên nắm quyền là một ví dụ. Một minh chứng khác là nền Đệ tứ Cộng hòa của nước Pháp (giai đoạn 1945-1958), với cơn tê liệt lâu dài và cuối cùng đã tự hủy diệt vì không thể giải quyết được các vấn đề thuộc địa cũng như trong nước. Cuối cùng, nền Cộng hòa Weimar[3], nơi những liên minh chính trị hoàn toàn mang tính cục bộ địa phương và yếu kém, có thể là trường hợp tốt nhất trong các thử nghiệm về PR. F. A. Hermens khẳng định dứt khoát rằng ảnh hưởng trực tiếp của PR khiến cho các thể chế chính trị còn không thể duy trì sự bền vững ở mức trung bình, thậm chí còn tạo cơ hội cho những phần tử cực hữu trong xã hội. Như Herman Finer từng nhận ra, kiểu “công lí” của PR – dung dưỡng các thành phần li khai xã hội trong cơ quan lập pháp – đã giữ cho cả Đảng Phát xít và Đảng Cộng sản (Đức) có cơ hội sống sót, và đến lượt chúng đã loại trừ thẳng tay những nền cộng hòa non trẻ và yếu đuối như nền Cộng hòa Weimar. Và do đó thiếu vắng đi tính “Hòa giải và thỏa hiệp” mà PR mang tới.

Đối với tôi, thật dị thường khi một danh mục các ví dụ về tác động của PR chỉ điểm danh những đối tượng thụ hưởng điều kiện tiền chính trị rất thuận lợi. Càng dị thường hơn là danh mục này không đề cập gì đến những trường hợp cho thấy ảnh hưởng tai hại nhất của PR.

Bên cạnh việc gán ghép thiếu căn cứ đặc tính “tốt” vào PR và việc chỉ dựa trên những trường hợp tầm thường, nỗ lực của Lijphart còn phải gánh chịu một khó khăn thứ ba.

Mở rộng vấn đề hơn, Lijphart còn đưa ra các điều giả định mà không có chứng cứ. Ví dụ, ông đã tưởng tượng rằng thành công tương đối về kinh tế của nước Ý trong vài thập kỷ qua, cảnh thịnh vượng của nước Đức trong cùng thời kì, và sự yếu kém của nước Anh đều có thể được xem là hệ quả của hình thái chính trị tập trung trong thể chế của mỗi quốc gia. Nếu đó là sự thật, vậy thì người ta cũng có thể suy ra rằng một nền chính trị với những phe phái phân tán và yếu đuối, những liên minh không ổn định (như ở Ý) hóa ra lại sánh bằng hoặc thậm chí tốt hơn cả những đảng phái hợp thành từ đa số và kiến tạo nền chính trị một đảng nắm quyền (như ở Anh).

Mặc dù Lijphart khẳng định rằng “bằng chứng thực nghiệm” cho thấy tất cả điều này, nhưng trên thực tế thì nó lại chẳng nói lên điều gì cả. Thay vào đó, chính các bằng chứng thực nghiệm nhắc nhở chúng ta về những biến số đa dạng và đôi khi bí ẩn mà ta chắc chắn phải suy tính cẩn trọng khi xem xét bức tranh xã hội và kinh tế phức tạp như vậy trong hiện thực. Như đã nói ở trên, tất cả những gì chũng ta biết chắc về hệ thống bầu cử là PR có xu hướng sinh sôi các đảng phái, trong khi hệ thống đa số tương đối (plurality voting system) sẽ khuyến khích hình thức hai đảng thỏa thuận. Tất cả những gì chúng ta biết chắc chắn về cơ chế liên minh đó là nó phải chịu áp lực và sự giải tán nhiều hơn so với thể chế một đảng nắm quyền (điển hình là nước ​​Ý vào mùa xuân năm 1991, khi quốc gia này từ bỏ chính phủ hậu chiến thứ 49); và để quản trị, nó phải tạo ra các nhóm hậu bầu cử một cách kín đáo (không có cử tri Ý nào bình chọn cho chính phủ thứ 50). Bằng lí thuyết kết hợp với kinh nghiệm từ các trường hợp như nền Cộng hòa Weimar của Đức và nền Đệ tứ Cộng hòa của Pháp, chúng ta thấy thể chế kiểu liên minh sẽ tạo nên những nền tảng thiếu chắc chắn cho quá trình vận hành nhà nước, so với thể chế một đảng cầm quyền. Những đảng cầm quyền như vậy rõ ràng luôn có thể hành động, ngay cả khi phải liên tục tranh luận và vận động chống lại phe đối lập đang tìm cách trở thành chính phủ tiếp theo.

Nhưng vận may kinh tế của Ý, sự thịnh vượng của Đức và những ngày mờ nhạt của nước Anh thì có ý nghĩa gì? Chúng ta chỉ có thể quy kết những điều kiện này lên mỗi hệ thống chính trị (Anh, Ý, Đức) bằng cách sử dụng lối ngụy biện kiểu nhân quả (post hoc, ergo propter hoc-  Lập luận: B xảy ra sau A -> B là kết quả của A – ND). Kiểu lập luận như vậy chỉ đơn giản là sự bỏ qua mọi biến số bất thường khác mà phân tích khách quan nào cũng đều phải chú ý. Tôi đã trình bày ở trên rằng sự can thiệp từ bên ngoài bởi trách nhiệm với đồng minh đã vực dậy cả nước Ý và nước Đức trong thời đại của Kế hoạch Marshall, cũng như mọi nước thuộc khối NATO, và tạo nên những bước nhảy vọt về nền kinh tế ở các quốc gia này. Tôi cũng lưu ý rằng những chính sách khuyến khích tăng trưởng kinh tế vẫn có thể được thông qua bởi các chính phủ yếu kém, trong khi những chính phủ mạnh không phải lúc nào cũng có thể đưa ra những chính sách đúng đắn. Ví dụ, không phải là không có cơ sở khi cho rằng sức mạnh kinh tế mà nước Đức đạt được trong giai đoạn Kế hoạch Marshall được triển khai xuất phát một phần từ chính những bài học kinh tế khủng khiếp mà người Đức trải qua trong nền chính trị bị tê liệt bởi mô hình PR ở thời Cộng hòa Weimar. Chắc chắn nỗi sợ hãi sâu xa của người Đức trước cảnh lạm phát bắt nguồn từ những kinh nghiệm lịch sử cay đắng của họ. Vậy nên, thật sai lầm khi cho rằng chính sách tiền tệ thận trọng của Đức là hệ quả của mô hình thể chế hiện tại sử dụng hệ thống PR đã được tùy chỉnh, trong khi thực ra thiên hướng thận trọng như vậy rõ ràng là hệ quả của bài học tiêu cực rút ra từ cảnh suy tàn của nước Đức trước khi Hitler lên nắm quyền, một cảnh suy tàn tạo nên bởi chính hệ thống PR.

Tương tự, nỗ lực suy diễn cho rằng nền kinh tế sa sút của nước Anh là hệ quả của hệ thống đa số quyết định thật không thuyết phục chút nào. Quả thực, nước Anh đã có màn trình diễn nhạt nhòa nếu so với những cường quốc khác, nhưng đấy là cảnh sa sút hoàn toàn có thể hiểu được, là kết quả của những quyết định kém cỏi trong hoàn cảnh khó khăn. Nhưng thực chất, không có bất kì hệ thống chính trị nào luôn đảm bảo đưa ra quyết định đúng đắn, và chúng ta cũng không thể đánh giá thấp tác động của những hoàn cảnh ngặt nghèo. Sau cùng, nước Anh vẫn là một nước trực tiếp tham chiến đã chịu những tổn thất đáng kể sau Đệ nhị Thế chiến, và phải tìm cách trỗi dậy từ cảnh suy kiệt ấy. Quốc gia này chưa bao giờ nhận được sự hỗ trợ hùng hậu như các nước Đồng minh khác trong Kế hoạch Marshall. Nước Anh còn phải chịu đựng sự tan rã nhanh chóng của đế chế Anh ở bên ngoài lãnh thổ, vốn có mối quan hệ chặt chẽ với cơ cấu của nền kinh tế. Quá trình giải phóng thuộc địa đã buộc một cường quốc không chỉ phải tìm cách thay đổi nền kinh tế, mà còn phải trải qua những cơn địa chấn để tái cấu trúc tâm lý xã hội. Đứng trên tất cả những thách thức này là câu hỏi gai góc về sự tồn tại của Ireland trong khối Vương quốc Liên hiệp.

Tựu trung, trọng tâm của vấn đề là: trong khi màn trình diễn kinh tế của nước Anh thời hậu chiến khó có thể được xem là một thắng lợi của mô hình Westminster, thì chúng ta cũng không thể đơn giản quy kết cảnh sa sút này là một trong những thất bại của mô hình đó. Việc chỉ ra những tác động lên các quốc gia vận hành tốt hơn, mức độ độc lập khỏi chính trị của nền kinh tế, và một loạt biến động mà nước Anh đã phải trải qua đơn giản không thể khẳng định hệ thống chính trị của nước Anh là nguyên nhân chính dẫn đến nền kinh tế sa sút của quốc gia này. Sẽ khôn ngoan hơn, như là một quy luật, nếu không bao giờ suy đoán khi có thể biết chắc. Một trong số rất nhiều hệ quả của quy luật bất thành văn trên là như sau: Đừng bao giờ suy đoán sai khi bạn không thể chắc chắn, nhưng không bao giờ tưởng rằng bạn đã chắc chắn trong khi thực tế bạn chỉ suy đoán. Mối quan hệ nhân quả mà Lijphart khẳng định là kết quả hiển nhiên của những “bằng chứng thực nghiệm” do ông chọn lựa, sau khi được xem xét kỹ, đều hiện rõ là những phỏng đoán mà thôi.

Những phẩm chất của hệ thống bầu cử đa số tương đối

Những cống hiến của Lijphart dành cho hệ thống PR dựa trên giả định rằng chúng ta có thể được hưởng lợi từ tất cả những phẩm chất được gán cho hệ thống này (tính đại diện bằng việc tái thiết, mọi ý kiến đều được lắng nghe, sự đồng thuận, thỏa hiệp,…), cũng như tránh khỏi mọi tác động tiêu cực đi liền với hệ thống này (khả năng làm bùng phát chủ nghĩa cực đoan, khả năng làm chính phủ suy yếu và bất ổn, chủ nghĩa không tưởng trong chính trị, khả năng giải trình không minh bạch trước cử tri, và mọi hệ quả tương tự). Nhưng các phân tích và diễn biến lịch sử đều khẳng định mạnh mẽ rằng những nhận định trên là không hợp lí. Ngay cả khi các điều kiện thuận lợi khiến hệ thống PR có thể được chấp nhận trong một vài giai đoạn nhất định, khó xảy ra khả năng mà các nhà nước với dân số đông sẽ có được những điều kiện tốt đẹp như vậy trong tương lai xa. Áp lực ly tâm tự nhiên và áp lực tồn tại của con người, vốn đã cho phép sự ra đời của nhà nước, luôn cần đến các hệ thống dựa trên đám đông để đảm bảo khả năng hành động. Và nếu quyền lực đám đông là trung thực, người dân cần được biết ai đang làm gì và mỗi phía có thể đem lại cho họ những gì, và người dân sẽ phán xét một cách nghiêm túc trước khi đưa ra quyết định.

Hệ thống đa số tương đối sẽ khuyến khích các đảng phái cạnh tranh áp dụng thái độ đa số quyết định. Các đảng phái này thường có xu hướng trung dung dựa trên quyền lợi của đám đông, tìm kiếm sự hòa giải, cải tiến triệt để – nói một cách ngắn gọn họ phải làm trước cuộc bầu cử, ngay trước mắt công chúng, chính những nhiệm vụ mà Lijphart đã hoan nghênh hệ thống PR vì thực hiện chúng sau bầu cử. Những đám đông được hình thành trong hệ thống bầu cử đa số tương đối thường có xu hướng đủ vững chắc để duy trì một chính phủ hiệu quả mà không cứng nhắc hoặc thiếu trách nhiệm, bởi vì căn tính của đám đông là hay thay đổi, dễ dàng sụp đổ, luôn luôn cần tái cấu trúc.

Hơn nữa, những chính sách được lựa chọn tốt, hàm chứa sự tôn trọng những quyết định ở cấp hành chính thấp nhất, có thể thúc đẩy một nền chính trị địa phương sôi động và xã hội dân sự, do đó khuyến khích chính sự đa dạng thường có trong tinh thần của hệ thống PR, nhưng bằng con đường của hệ thống đa số tương đối thì chúng ta không phải đối mặt với những tác hại từ sự yếu kém của chính phủ và sự thiếu minh bạch. Ngược lại với Lijphart, tôi vẫn cho rằng chúng ta có thể xây dựng một hệ thống với những phẩm chất thật của PR (thỏa hiệp giữa các khác biệt, thế giới trăm hoa khoe sắc…) mà vẫn tránh được mọi hậu quả tai hại của hệ thống này, bằng việc áp dụng hệ thống đa số tương đối. Vậy tại sao chúng ta lại phải đi theo hệ thống PR với những rủi ro rõ ràng như vậy. Những nền dân chủ mới nổi, đang phải đối mặt với những hoàn cảnh tiền chính trị rất khó khăn, cần cơ cấu chính trị tốt nhất mà họ có thể đạt được. Giải pháp tốt nhất đó là kết hợp năng lực hành động lớn với trách nhiệm rõ ràng và do đó tạo ra một kiểu quyền lực có trách nhiệm. Sự kết hợp lí tưởng như vậy hoàn toàn có thể được tạo thành trong các hệ thống bầu cử đa số tương đối vận hành bên trong cơ cấu của quốc hội. Tất nhiên, ngay cả những sắp đặt tốt nhất cũng không thể đảm bảo thành công trong thế giới không hoàn hảo này, những hệ thống yếu kém sẽ làm cho những chính sách khôn ngoan nhất thành bất khả thi. Nhưng hệ thống tốt nhất sẽ đảm bảo rằng ngay cả nguy cơ tê liệt chính phủ cũng không thành vấn đề quốc gia hệ trọng, và chính người đi bỏ phiếu sẽ thực sự làm nên hoặc hạ bệ chính phủ của họ.

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH: 

[1] So sánh bài viết của tôi “Democracies-to-Be: Getting It Right the First Time,” trong Tạp chí Freedom at –
Freedom at Issue 113 (tháng 3–tháng 4 1990): tr4–8.

[2] Bởi vì những bộ phận hợp thành xã hội có tiềm năng phân chia vô hạn, một trong số đó đôi khi nhận ra những người ủng hộ PR như Lijphart chỉ ra sự khác biệt giữa hình thức “cực đoan” và “trung tính” của PR. Về sau, khuynh hướng tự nhiên của PR sẽ lệch hướng bởi những phương tiện đem lại cho chính phủ một cơ hội tốt hơn để xây dựng và vận hành – đấy là một sự phủ nhận, nhưng không được thừa nhận, chính logic của PR.

[3] Giai đoạn nước Đức bế tắc trong những cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội, trước khi Hitler lên nắm quyền và lập ra Đệ tam Đế chế.