Arend Lijphart

Arend Lijphart là giáo sư danh dự về khoa học chính trị tại Đại học California, San Diego. Ông là tác giả của công trình “Những mô hình dân chủ: Hình thức và Hiệu lực của chính phủ ở 36 quốc gia” (“Patterns of Democracy: Government Forms and Performance in Thirty–Six Countries”) (1999) và nhiều công trình nghiên cứu khác về các thể chế dân chủ, việc quản lý các xã hội chịu sự chia rẽ sâu sắc, và các hệ thống bầu cử. Bài viết này xuất hiện lần đầu trong số ra mùa hè năm 1991 của Tạp chí Dân chủ (Journal of Democracy).

Trong hơn nửa thế kỷ qua, vấn đề thiết kế dân chủ đã trải qua một quá trình chuyển đổi đáng kể. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, các nước thuộc địa vừa giành được độc lập đều có xu hướng sao chép các quy tắc lập hiến cơ bản từ chính mẫu quốc của họ, mà không xem xét nghiêm túc những mô hình khác. Ngày nay, những người thiết kế hiến pháp dân chủ đã có thể lựa chọn từ một tập hợp phong phú các mô hình, với nhiều ưu điểm và khuyết điểm khác nhau. Ở bề ngoài, chuyển biến này dường như gắn liền với những tín hiệu khả quan, nhưng thực ra bất trắc luôn tiềm ẩn: Bởi vì giờ đây những nhà thiết kế hiến pháp dân chủ luôn phải đứng ở những ngã ba đường với nhiều câu đố, họ luôn bước đi giữa nguy cơ ra quyết định sai lầm. Theo quan điểm của tôi, giới học giả chính trị có thể giúp đỡ những người thiết kế hiến pháp này một cách thực chất qua việc đưa ra những khuyến nghị và hướng dẫn cụ thể, thay vì nhấn chìm họ vào một loạt các khả năng và tùy chọn.

Bài viết này trình bày một tập hợp các khuyến nghị đó, với trọng tâm là các nhu cầu về hiến pháp của các quốc gia phải đối mặt với tình trạng mâu thuẫn sắc tộc và những hiện tượng phân mảnh xã hội khác. Trong các xã hội chịu sự chia rẽ sâu sắc như vậy, lợi ích và nhu cầu của các nhóm xã hội chỉ có thể được đảm bảo bởi cơ chế chia sẻ quyền lực hợp lý, và những khuyến nghị của tôi ở đây sẽ chỉ ra, theo cách càng chính xác càng tốt, những quy tắc chia sẻ quyền lực và mô hình thể chế cụ thể nào là tối ưu và lý do tại sao (Những quy tắc và mô hình thể chế này ở dạng thức mềm mỏng hơn vẫn có thể hữu ích ở nhiều xã hội khác).

Hầu hết các chuyên gia về các xã hội chia rẽ, cũng như các chuyên gia thiết kế hiến pháp, đều đồng thuận rằng hiện tượng phân mảnh xã hội đặt ra thách thức nghiêm trọng cho sự bền vững của nền dân chủ, vậy nên các quốc gia với tình trạng này luôn khó thiết lập và duy trì một chính phủ dân chủ hơn so với các quốc gia không bị phân mảnh. Các chuyên gia cũng đồng ý rằng hiện tượng chia rẽ sắc tộc, cũng như những mâu thuẫn xã hội khác, sẽ trầm trọng hơn ở các nước chưa xây dựng được chính quyền dân chủ, hoặc chưa hoàn toàn dân chủ, so với các nền dân chủ được thành lập một cách vững chắc, và hiện tượng phân mảnh như vậy rõ ràng là một trở ngại lớn cho tiến trình dân chủ hóa của thế kỷ XXI. Đối với hai vấn đề tổng quát này, giới học giả hầu như đã tìm được tiếng nói chung.

Một vấn đề thứ ba cũng được giới học giả chính trị đồng thuận khá cao, nếu không muốn nói là tuyệt đối, đó là khả năng thiết lập thành công chính phủ dân chủ trong xã hội chia rẽ đòi hỏi hai yếu tố chính: cơ chế chia sẻ quyền lực và quyền tự chủ của các nhóm xã hội. Cơ chế chia sẻ quyền lực sẽ làm rõ sự tham gia đáng kể của các đại biểu từ tất cả các nhóm xã hội trong quá trình đưa ra các quyết sách chính trị, đặc biệt là ở cấp hành pháp; còn quyền tự chủ của các nhóm xã hội nghĩa là bất kỳ tổ chức xã hội hợp pháp nào cũng phải có quyền vận hành và quyết định công việc nội bộ của riêng họ, đặc biệt là trong các lĩnh vực giáo dục và văn hóa. Hai đặc điểm này chính là thuộc tính cơ bản của các nền dân chủ, và thường được được gọi là “dân chủ chia sẻ quyền lực” (“power–sharing democracy”), hoặc “nền dân chủ thoả hiệp đa nguyên” (“consociational democracy”)[1]. Một nhóm học giả đã phân tích vai trò trung tâm của hai đặc điểm này, và đều bằng lòng với việc áp dụng chúng trong các xã hội bị chia rẽ[2]. Nhưng sự đồng thuận thực chất còn vươn xa hơn trường phái thoả hiệp đa nguyên. Ví dụ như công trình Rủi ro của Thiểu số: Một cái nhìn Toàn cảnh về những Mâu thuẫn Sắc tộc trong Chính trị (Minorities at Risk: A Global View of Ethnopolitical Conflicts) của Ted Robert Gurr, tác giả rõ ràng đã không lấy lý thuyết thoả hiệp đa nguyên làm nền tảng cho chuỗi phân tích (thực tế là ông ta còn không thèm đề cập đến nó), mà dựa trên những phân tích thực nghiệm quy mô để đi đến kết luận rằng lợi ích và nhu cầu của các nhóm xã hội có thể được đảm bảo “bởi sự kết hợp của chính sách đúng đắn, các tổ chức tự chủ và chia sẻ quyền lực”[3].

Cái nhìn đồng thuận về tầm quan trọng của cơ chế chia sẻ quyền lực đã được minh chứng gần đây thông qua phản ứng của dư luận trước sự thành lập “Hội đồng Quản trị Iraq” (Governing Council of Iraq): Hội đồng này đã bị chỉ trích trên một loạt các căn cứ, nhưng không một ai có thể nghi ngờ về sự cấu thành có tính đại diện rộng rãi của tổ chức này.

Sức mạnh của mô hình chia sẻ quyền lực cũng đã được xác nhận bởi các bài học thực tế xuất hiện thường xuyên trong lịch sử. Trước cả khi giới học giả chính trị bắt đầu phân tích cơ chế chia sẻ quyền lực dân chủ trong những năm 1960, các chính trị gia và các nhà thiết kế hiến pháp đã phải bắt tay vào thực hành thiết lập cơ chế chia sẻ quyền lực cho các xã hội chia rẽ của họ (ví dụ như trường hợp của Áo, Canada, Colombia, Cộng hòa Cyprus, Ấn Độ, Lebanon, Malaysia, Hà Lan, và Thụy Sĩ). Giới học giả chính trị chỉ đơn giản là phát hiện ra những gì mà các nhà chính trị đã nhiều lần tự xây dựng từ nhiều năm trước đấy, đó là hành trình độc lập của họ và dĩ nhiên hoàn toàn vắng bóng những khuyến nghị mang tính học thuật.

Phê bình cơ chế chia sẻ quyền lực

Mô hình chia sẻ quyền lực đã nhận được rất nhiều ý kiến phê bình từ khi trở thành một chủ đề tranh luận hàn lâm ba thập kỷ trước. Một số nhà phê bình lập luận rằng dân chủ chia sẻ quyền lực không phải là dân chủ lý tưởng, cũng như không có hiệu quả; những người khác thì tập trung vào vấn đề phương pháp luận và phép đo[4]. Nhưng điều đáng chú ý là có rất ít học giả trình bày được mô hình thay thế nghiêm túc cho mô hình chia sẻ quyền lực. Một ngoại lệ có thể được tìm thấy trong các bài phê bình của Brian Barry, đối với trường hợp của Bắc Ireland, ông đã đề nghị nguyên tắc “hợp tác mà không cần sát nhập” (cooperation without cooptation) – một nguyên tắc đa số quyết định thuần tuý mà trong đó cả những nhóm đa số và thiểu số đều cam kết hành xử một cách trung dung[5]. Khuyến nghị của Barry có thể có nghĩa là đa số cộng đồng Tin lành của Bắc Ireland dù cho trung dung đến mức nào, sẽ có thể nắm quyền lực mãi mãi, và thiểu số có thể mãi mãi đóng vai trò phe đối lập “trung thành”. Áp dụng cho trường hợp của Hội đồng Quản trị Iraq, giải pháp thay thế của Barry cho vấn đề chia sẻ quyền lực có thể sẽ mang tới một Hội đồng được cấu thành chủ yếu hoặc chỉ riêng các thành viên trung dung của đa số người Shiite, còn các nhóm bị loại trừ như người Sunni và người Kurd sẽ ở vị thế đối lập. Đây là một giải pháp sơ lược đối với vấn đề căng thẳng sắc tộc và chủ nghĩa cực đoan, và thật ngây thơ khi kì vọng rằng nhóm thiểu số ở vị trí đối lập mãi mãi duy trì lòng trung thành, tính trung dung và tinh thần xây dựng của họ. Do đó, khuyến nghị của Barry không thể – trong thực tế chưa từng là – một lựa chọn thay thế nghiêm túc cho cơ chế chia sẻ quyền lực.

Chỉ duy nhất một hướng tiếp cận khác thu hút được sự chú ý đáng kể là khuyến nghị của Donald L. Horowitz nhằm xây dựng nhiều cơ chế bầu cử khác nhau (đặc biệt là hệ thống lá phiếu thay thế – alternative vote/instant runoff) với khả năng khuyến khích sự đắc cử của các ứng viên trung dung[6]. Khuyến nghị này giống như của Barry ở chỗ nó hướng đến trạng thái tiết chế, trung dung nhiều hơn là khả năng đại diện rộng khắp mang tính bao trùm trong cả khối lập pháp và khối hành pháp, với điểm khác biệt căn bản ở đây là Horowitz đã cố gắng tạo ra một phương pháp khuyến khích sự trung dung, trong khi của Barry chỉ dừng lại ở hy vọng. Nếu áp dụng cho Hội đồng Quản trị Iraq, mô hình của Horowitz có thể sẽ tạo ra một cơ quan với đại đa số thành viên là người Shiite, với điều kiện là đa số các đại biểu này sẽ được lựa chọn dựa trênsự thông cảm với quyền lợi của người Sunni và người Kurd. Về lâu dài, thật khó có thể tưởng tượng rằng hai nhóm thiểu số này có thể hài lòng chấp nhận người Shiite trung dung đại diện cho họ hay không, thay vì người đại diện là chính những thành viên trong cộng đồng của họ. Và cũng thật khó tưởng tượng rằng các thành viên người Kurd và Sunni trong một quốc hội với tính đại diện rộng rãi sẽ đồng ý một bản hiến pháp có khả năng tạo ra một hệ thống như vậy.

Khuyến nghị sử dụng lá phiếu thay thế của Horowitz còn chứa đựng một vài nhược điểm khác, nhưng chúng ta có thể dừng ở đây và không cần đi sâu hơn trong bài viết này[7]. Điểm chính liên quan ở đây đó là hệ thống này gần như không tìm được bất kỳ sự ủng hộ nào từ những học giả hay những nhà thiết kế hiến pháp. Áp dụng thực tiễn duy nhất vào bầu cử hệ thống lập pháp tại một xã hội chia rẽ sắc tộc là hệ thống hiến pháp ngắn ngủi và xấu số của quốc đảo Fiji, với nỗ lực kết hợp cơ chế lá phiếu thay thế với chia sẻ quyền lực; hệ thống này được thông qua năm 1999 và hoàn toàn sụp đổ trong năm 2.000[8]. Với tất cả sự tôn trọng dành cho tính độc đáo trong ý tưởng và sự nhiệt tình trong việc bảo vệ quan điểm, lập luận của Horowitz không có vẻ khơi mào lên được đáng kể sự đồng thuận hay cạnh tranh.[9]

“Một mô hình vạn năng?”

Tóm lại, chia sẻ quyền lực đã được chứng minh là một mô hình dân chủ duy nhất có vẻ có nhiều khả năng được áp dụng nhiều nhất tại các xã hội bị chia rẽ, và một khi được áp dụng thì các nhà thiết kế hiến pháp khó tìm được phương án thay thế cho nó. Chúng ta đã có quá đủ trường hợp gây nhầm lẫn và lệch trọng tâm không cần thiết trong chuỗi tranh luận về những mô hình hòng làm thay vai trò của cơ chế chia sẻ quyền lực. Trái ngược với tuyên bố của Horowitz cho rằng dân chủ chia sẻ quyền lực đơn thuần là một “một mô hình vạn năng”[10], các hệ thống chia sẻ quyền lực được áp dụng trước thập niên 1960 (được trích dẫn ở trước), cũng như trong nhiều trường hợp gần đây (ở Bỉ, Bosnia, Tiệp Khắc, Bắc Ireland, và Nam Phi), đã cho thấy một sự thay đổi rất lớn. Ví dụ, Bỉ đã đạt được tính đại diện rộng khắp trong hệ thống hành pháp bởi một yêu cầu bắt buộc trong hiến pháp đó là hệ thống hành pháp phải được cấu thành bởi một số lượng bằng nhau của hai nhóm ngôn ngữ chính; ở Nam Phi (1994 – 1999), tính đại diện rộng khắp đã đạt được bằng cách cung cấp 5% số ghế lập pháp cho tất cả các đảng phái, để họ đạt được quyền đại diện trong nội các; ở Colombia, hai đảng chính chia nhau số thành viên đại diện trong nội các và thay đổi quyền cầm trịch luân phiên thông qua nhiệm kỳ tổng thống (1958–1964); và ở Lebanon, người ta thường xuyên bổ nhiệm chức tổng thống cho một nhóm và chức thủ tướng cho một nhóm khác.

Tuy nhiên, mỗi dạng tùy chỉnh này không phát huy hiệu quả tương đương nhau, và không làm việc tốt như nhau trong thực tế, vì khả năng thành công tương đối của một hệ thống chia sẻ quyền lực phụ thuộc vào các cơ chế cụ thể được thiết lập để tạo nên quyền đại diện rộng khắp cho những thành phần tạo nên cốt lõi của hệ thống. Trong thực tế, thất bại lớn nhất của những hệ thống chia sẻ quyền lực, như ở Cộng hòa Cyprus năm 1963 và Lebanon năm 1975, không phải do quyền lực được chia sẻ không đều, mà do những nhà thiết kế hiến pháp đã lựa chọn quy tắc và cấu trúc không đạt yêu cầu.

Những thất bại này làm rõ cách thức mà giới học giả chính trị có thể giúp đỡ các nhà thiết kế hiến pháp bằng cách phát triển những đề xuất về các nguyên tắc và các cơ chế chia sẻ quyền lực. Trong ý nghĩa này, khái niệm “mô hình vạn năng” của Horowitz nên được hiểu như một nguồn cảm hứng để chúng ta xác định hình thức tối ưu của cơ chế chia sẻ quyền lực. Quả thực mô hình chia sẻ quyền lực nên được tùy biến theo những điều kiện cụ thể của từng quốc gia, nhưng điều đó không có nghĩa là tất thảy đều phụ thuộc vào những đặc tính riêng biệt này. Trong những đoạn sau đây, tôi sẽ phác thảo chín luận điểm lớn về chín khu vực xung quanh sự lựa chọn hiến pháp và cung cấp khuyến nghị của tôi cho từng khu vực. Các khu vực này cấu thành một mô hình chia sẻ quyền lực phù hợp nhất đối với các xã hội bị chia rẽ bất kể hoàn cảnh và nét đặc thù riêng rẽ của chúng.

1) Hệ thống bầu cử lập pháp: Sự lựa chọn quan trọng nhất mà các nhà thiết kế hiến pháp phải đối mặt là hệ thống bầu cử lập pháp với ba nhóm chính là nhóm quy tắc bầu cử đại diện tỷ lệ (proportional representation – PR), nhóm quy tắc bầu cử đa số quyết định, và các dạng trung gian giữa hai nhóm này. Đối với các xã hội bị chia rẽ, việc đảm bảo quá trình bầu cử cho hệ thống cơ quan lập pháp đạt được quyền đại diện rộng khắp nên được cân nhắc như là yếu tố quan trọng nhất, và quy tắc bầu cử PR chắc chắn là giải pháp tối ưu ở đây.

Trong các hình thái của quy tắc bầu cử đa số quyết định, có một trường hợp khá hiệu nghiệm và khá tích cực là quy tắc bầu cử sử dụng lá phiếu thay thế của Horowitz, theo tôi, nó vượt trội hơn so với cả phương pháp đa số tương đối (plurality method) và hai vòng đa số tuyệt đối chung cuộc (two-ballot majority runoff)[11]. Tuy nhiên, vẫn có một sự đồng thuận trong giới học giả chống lại việc áp dụng hệ thống đa số quyết định trong những xã hội chia rẽ. Như Larry Diamond đã giải thích: 

“Nếu chúng ta có thể đưa ra bất kỳ luận điểm khái quát nào về mô hình cấu trúc thể chế bền vững… thì ý lớn ấy phải khẳng định rằng mọi con đường xây dựng quy tắc bầu cử đa số quyết định trong các nước phải đối mặt với tình trạng mâu thuẫn trầm trọng về sắc tộc, lãnh thổ, tôn giáo, hoặc những vấn đề khác, đều rất thiếu khôn ngoan. Khi các nhóm thiểu số xác định rõ ràng ranh giới của họ, kèm theo đó là bản sắc nhóm (cùng với nỗi bất an và nghi ngờ giữa các nhóm) trở thành động lực, điều quan trọng nhất là phòng tránh mọi nỗ lực không minh bạch nhằm ngăn ngừa những cộng đồng với đầy động lực như vậy đạt được quyền lực”[12].

Nhóm các quy tắc bầu cử trung gian có thể được phân loại thành nhóm quy tắc bầu cử bán đại diện tỷ lệ (semiproportional), nhóm quy tắc “hỗn hợp”, và nhóm quy tắc bầu cử đa số quyết định đảm bảo cho cả những phe thiểu số vẫn được sở hữu quyền đại diện rộng khắp. Nhóm quy tắc bầu cử bán đại diện tỷ lệ – tương tự như phương thức lá phiếu dồn tích (culmulative vote) hoặc phương thức lá phiếu hạn chế (limited vote) (được sử dụng chủ yếu ở cấp bang và địa phương tại Hoa Kỳ) và hình thức lá phiếu bất khả nhượng đơn – SNTV (được sử dụng ở Nhật Bản cho đến năm 1993)[13] – có thể tạo ra quyền được đại diện cho các nhóm thiểu số, nhưng không bao giờ có thể đạt đến trạng thái chính xác và nhất quán như nhóm quy tắc bầu cử PR. Không giống như các hệ thống bán đại diện tỷ lệ hiếm khi xuất hiện, nhóm quy tắc bầu cử hỗn hợp đã trở nên khá phổ biến từ đầu thập niên 1990[14]. Trong một số hệ thống bầu cử hỗn hợp (chẳng hạn như của Đức và New Zealand), tính chất PR hoàn toàn vượt trội so với tính chất đa số tương đối,vì vậy nên về bản chất không hẳn là hỗn hợp mà là một dạng của quy tắc bầu cử PR. Còn trong trường hợp mà tính chất PR hầu như không hiện diện, hoặc chỉ hiện diện cục bộ, mang tính bù trừ (như ở Nhật Bản, Hungary, và Ý), kết quả bầu cử chắc chắn sẽ thiếu tính tỉ lệ đầy đủ, kéo theo mức độ đại diện cho các nhóm thiểu số trở nên ít chính xác và không đảm bảo. Còn trong trường hợp tính đa số kết hợp với tính đại diện được đảm bảo cho các nhóm thiểu số cụ thể (như ở Ấn Độ và Lebanon), rốt cuộc hệ thống này vẫn tiềm ẩn khả năng nảy sinh sự bất mãn giữa các nhóm chắc chắn luôn được đảm bảo và các nhóm không được đảm bảo quyền đại diện. Ngược lại, nét ưu việt của PR không chỉ thể hiện trong khả năng đảm bảo tính tỉ lệ trong kết quả bầu cử, cũng như quyền được đại diện rộng khắp của các nhóm thiểu số, mà còn được minh chứng trong khả năng đối xử với tất cả các nhóm thiểu số về sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo, hoặc thậm chí cả các nhóm phi xã hội một cách hoàn toàn công bằng và vô tư. Vậy tại sao chúng ta phải từ chối quy tắc bầu cử PR?

2) Chỉ dẫn riêng cho hệ thống bầu cử PR: Sau khi biên độ lựa chọn đã được thu hẹp vào nhóm quy tắc bầu cử PR, nhà thiết kế hiến pháp vẫn phải tiếp tục xét đến những tùy chỉnh cụ thể trong hệ thống này. Nhóm quy tắc bầu cử PR vẫn sở hữu khả năng biến thiên rất rộng, với đầy những khả năng chuyển đổi và thay thế phức tạp. Làm thế nào chúng ta có thể thu hẹp các tùy chọn hơn nữa? Ở đây, tôi đề nghị rằng ưu tiên hàng đầu dành cho một hệ thống PR đó là phải dễ hiểu và dễ vận hành – một tiêu chí đặc biệt quan trọng đối với các nước dân chủ mới. Từ tiêu chuẩn trọng tâm hướng đến tính đơn giản mà hiệu quả, chúng ta có thể vạch ra nhiều yếu tố khác của mô hình: tính tương xứng trong bầu cử, cũng như trong quá trình chuyển đổi phiếu sang ghế, không cần hoàn hảo nhưng chắc chắn phải được đảm bảo; đơn vị bầu cử là đơn vị bầu cử nhiều đại biểu (multimember districts), nhưng không quá lớn, để tránh tạo ra quá nhiều khoảng cách giữa cử tri và đại diện của họ; hệ thống PR danh sách mà ở đó các đảng phái đưa ra danh sách của ứng viên với cử tri, thay vì sử dụng lá phiếu khả nhượng đơn hiếm khi được dùng, ở đó cử tri phải xếp hạng các ứng viên; và danh sách đóng hoặc hầu như đóng, trong đó cử tri chủ yếu chọn các đảng phái thay vì ứng cử viên riêng lẻ trong danh sách. Hệ thống PR theo danh sách với các danh sách đóng có thể khuyến khích sự hình thành và duy trì các Đảng phái chính trị mạnh mẽ và thống nhất.

Một mô hình hấp dẫn trong nhóm này là quy tắc bầu cử đại diện tỷ lệ kiểu danh sách được dùng ở Đan Mạch, trong đó 17 đơn vị bầu cử sẽ chọn ra trung bình tám ứng viên từ mỗi danh sách mở không hoàn toàn của các đơn vị tham gia ứng cử. Các đơn vị bầu cử này có quy mô đủ nhỏ để các đảng nhỏ với hơn 8% số phiếu vẫn có hội được chọn[15]. Bên cạnh 135 vị đại biểu được bầu ở các đơn vị bầu cử này, còn có 40 ghế lập pháp bổ sung được phân bổ cho các các đảng phái (với điều kiện tối thiểu là 2 phần trăm số phiếu quốc gia) theo một cơ chế để tối đa hóa tính tỷ lệ trên toàn quốc.[16] Mô hình bầu cử của Đan Mạch sẽ rất hiệu nghiệm với các xã hội bị chia rẽ, vì các ghế bổ sung cộng với ngưỡng 2% rất thấp có thể đảm bảo chắc chắn các lực lượng thiểu số, vốn ít khả năng huy động lực lượng dựa trên yếu tố địa lý, vẫn sở hữu cơ hội hợp lý để được đại diện trong cơ quan lập pháp quốc gia. Tuy nhiên, dù tôi ủng hộ ý tưởng tối đa hóa tính tỉ lệ trong bầu cử, trong một mức độ nhất định, hệ thống bầu cử này vẫn làm giảm động lực hướng đến mục tiêu duy trì hệ thống bầu cử đơn giản và minh bạch. Thêm nữa, các ghế bổ sung ở cấp quốc gia rõ ràng có ý nghĩa rất ít tại những xã hội bị chia rẽ, nơi các đảng phái vẫn chưa phát triển.

3) Chế độ cộng hòa nghị viện hoặc chế độ cộng hòa tổng thống: Quyết định quan trọng kế tiếp mà nhà thiết kế hiến pháp dân chủ phải đối mặt là lựa chọn giữa chế độ cộng hòa nghị viện (parliamentary government), chế độ cộng hòa tổng thống (presidential government), hoặc hình thức trung gian là chế độ cộng hòa bán tổng thống (semipresidential government). Ở các nước phải đối mặt với tình trạng xung đột sắc tộc và những dạng mâu thuẫn nội bộ khác, lựa chọn ở bước này phải dựa trên tiềm năng tương đối về chia sẻ quyền lực trong bộ máy hành pháp của các hệ thống khác nhau. Bởi nội các của chế độ nghị viện là một tập thể cùng hoạch định và ra quyết định – nghĩa là ngược lại với nội các của chế độ tổng thống chỉ hoạt động như ban tư vấn cho vị giám đốc tối cao là tổng thống – nghĩa là kiểu thể chế này sẽ đem lại những điều kiện tối ưu cho khả năng hình thành cơ chế chia sẻ quyền lực toàn diện. Lợi thế thứ hai của chế độ nghị viện là rõ ràng kiểu thể chế này không có nhu cầu bầu cử tổng thống, mà quá trình bầu cử này chắc chắn luôn viện đến quyền lực của đám đông. Như Juan Linz đã phát biểu trong bài phê bình nổi tiếng về chế độ cộng hoà tổng thống: “Có lẽ hàm ý quan trọng nhất của chế độ cộng hòa tổng thống là nó đưa một trò chơi có tổng bằng không (zero-sum game)[17] vào trong chính trường dân chủ với các quy tắc có xu hướng cho ra kết quả “kẻ-chiến-thắng-có-tất-cả”[18]. Chiến dịch bầu cử tổng thống cũng sẽ khuyến khích kiểu chính trị có tính cá nhân và làm lu mờ chính cuộc cạnh tranh về chính sách giữa các đảng phái, cũng như chương trình của họ. Trong chế độ dân chủ đại diện, các đảng phái cung cấp mối dây liên kết trọng yếu giữa cử tri và chính phủ, và trong xã hội càng phân hoá chúng lại càng quan trọng trong việc đưa lên tiếng nói đòi quyền lợi cho các nhóm cộng đồng. Gần đây, Seymour Martin Lipset đã nhấn mạnh điểm này bằng cách gọi các đảng chính trị là “không thể loại bỏ được trong nền dân chủ”, cũng như bằng cách nhắc lại tuyên bố nổi tiếng E.E. Schattschneider: “Nền dân chủ hiện đại là không thể cứu vãn được khi xét trên phương diện đảng phái”[19].

Hai vấn đề khác của chế độ cộng hòa tổng thống được Linz nhấn mạnh là quan hệ thường đi vào bế tắc giữa khối hành pháp và khối lập pháp, và tính cứng nhắc của nhiệm kì tổng thống. Thứ nhất, thế bế tắc hành pháp-lập pháp này rất dễ xảy ra vì tổng thống và cơ quan lập pháp đều sở hữu tính hợp pháp dân chủ do đều được bầu ra bởi phổ thông đầu phiếu, nhưng vấn đề ở đây là tổng thống và phần lớn thành viên trong hệ thống cơ quan lập pháp có thể thuộc về các đảng phái khác nhau, hoặc thậm chí theo đuổi những chủ trương khác nhau ngay cả khi cùng một đảng. Thứ hai, tính cứng nhắc luôn hiện diện trong chế độ cộng hòa tổng thống được xác lập bởi nhiệm kì cố định của chức tổng thống mà không thể được gia hạn hoặc được rút ngắn một cách linh hoạt bởi giới hạn của nhiệm kỳ, ngay cả khi người ta chứng minh được vị tổng thống không có năng lực, trở nên bất thường, hoặc chìm vào những bê bối, thì nhiệm kỳ tổng thống vẫn không hề bị rút ngắn. Còn chế độ nghị viện, với quy định về bỏ phiếu tín nhiệm, về bầu cử đột xuất, và những quy định tương tự, không bị giới hạn trong vấn đề này.

Chế độ bán tổng thống có phần trội hơn nhưng không đáng kể so với chế độ cộng hòa tổng thống thuần túy. Mặc dù kiểu thể chế này có ưu điểm là chia sẻ quyền lực giữa tổng thống, thủ tướng, và nội các, bản chất “trò chơi có tổng bằng không” của cuộc bầu cử tổng thống vẫn còn. Thậm chí, chế độ bán tổng thống còn làm cho tổng thống có nhiều quyền lực hơn cả chế độ thống tổng thống thuần túy. Ví dụ, tại Pháp, trường hợp điển hình nhất của chế độ cộng hòa bán tổng thống, tổng thống thường thể hiện khả năng vượt quyền; giai đoạn 1962-1974 và giai đoạn 1981-1986 còn được gọi là thời kỳ “siêu tổng thống”[20]. Tình thế bế tắc hành pháp-lập pháp có thể được giải quyết một phần trong chế độ bán tổng thống bằng cách chuyển cấu trúc từ nghiêng về tổng thống sang nghiêng về nghị viện nếu vị tổng thống đánh mất sự ủng hộ của chính đảng của ông ta hoặc liên minh cầm quyền trong cơ quan lập pháp. Trong các nền dân chủ thiên về chế độ tổng thống của khu vực Mỹ Latin, các nhà cải cách hiến pháp đã thường xuyên ủng hộ chính phủ bán tổng thống thay vì chính phủ nghị viện, nhưng lý do ở đây chỉ là tính tiện lợi của tình thế: Một quá trình chuyển đổi hướng đến chế độ nghị viện vẫn là bước ngoặt quá lớn trong một khu vực với truyền thống xây dựng chế độ tổng thống. Nhưng dẫu cho quán tính của truyền thống và cảm xúc vẫn có sức nặng trong quá trình đàm phán hiến pháp, mô hình xây dựng chính phủ nghị viện vẫn nên là mô hình chuẩn mực cho các nhà thiết kế bản hiến pháp dân chủ trong các xã hội chia rẽ.

Tựu trung, có một sự đồng thuận mạnh mẽ dành cho chế độ cộng hòa nghị viện trong giới học giả chính trị. Trong những chuỗi tranh luận mở rộng về chủ đề này, chỉ có rất ít các nhà phê bình đặt dấu hỏi chấm về khuynh hướng ủng hộ có phần cực đoan dành cho chế độ nghị viện. Ví dụ, đối với trường hợp chế độ tổng thống của Hoa Kỳ, họ đã lưu ý rằng thế bế tắc hành pháp-lập pháp ở đây không nghiêm trọng như Linz và những người khác đã chỉ ra – tuy nhiên, những lưu ý này cũng không hề thách thức được tính hợp lệ của nhóm luận điểm chỉ trích khác hướng đến chế độ tổng thống[21].

4) Cơ chế chia sẻ quyền lực trong khối hành pháp: Nội các hoạt động như một tập thể tranh luận vì sự đồng thuận trong chế độ cộng hòa nghị viện sẽ hỗ trợ cho sự hình thành của cơ chế chia sẻ quyền lực trong hệ thống cơ quan hành pháp, nhưng như vậy vẫn không đảm bảo rằng cơ chế chia sẻ quyền lực sẽ được thiết lập. Bỉ và Nam Phi chính là hình mẫu của quá trình thành lập cơ chế chia sẻ quyền lực. Tại Bỉ, hiến pháp quy định rằng những thành viên nói tiếng Pháp và những thành viên nói tiếng Hà Lan trong nội các phải có số lượng bằng nhau. Bất lợi của phương pháp này là nó đòi hỏi xác định cụ thể các nhóm có quyền chia sẻ quyền lực, và do đó xảy ra việc lựa chọn có tính phân biệt đối xử kế thừa từ hệ thống bầu cử với đảm bảo đại diện cho các nhóm thiểu số. Ở Nam Phi, có rất nhiều bất đồng và tranh luận về các cách phân loại chủng tộc và sắc tộc, dẫn đến việc chúng không thể được sử dụng như nền tảng để cơ cấu quyền lực trong khối hành pháp, vào giai đoạn của bản hiến pháp tạm thời năm 1994. Thay vào đó, cơ chế chia sẻ quyền lực được quy định trong các điều khoản của các đảng chính trị: Bất kỳ các đảng phái nào, dù có duy sắc tộc hay không, chỉ cần đạt tối thiểu 5% số ghế trong quốc hội là có quyền tham gia nội các dựa trên nền tảng tỷ lệ[22]. Đối với những quốc gia khác cũng gặp tình huống tương tự, giải pháp của Nam Phi đem lại một mô hình hấp dẫn. Nhưng khi không có những mâu thuẫn căn bản về cơ chế xác định các nhóm sắc tộc nào được hưởng một phần quyền lực trong nội các, chính mô hình của Bỉ lại mang đến hai điểm tích cực quan trọng. Đầu tiên, cơ chế này cho phép chia sẻ quyền lực mà không cần đến sự thành lập một liên minh lớn của tất cả các các đảng phái quan trọng, và vì vậy không loại bỏ tính cạnh tranh đảng phái trong quốc hội. Thứ hai, cơ chế này cho phép tồn tại một độ lệch nhỏ trong tỷ lệ chia sẻ quyền lực, bằng cách phân phối sự đại diện nhiều hơn cho các nhóm nhỏ hơn, một hướng đi rất thích hợp cho những quốc gia có một nhóm sắc tộc chiếm đa số phải đổi mặt với một hoặc nhiều nhóm sắc tộc thiểu số.

5) Ổn định nội các: Đến đây, nhà thiết kế hiến pháp có thể phải lo lắng về một vấn đề tiềm tàng của chế độ cộng hòa nghị viện: Thực tế là nội các rất cần đến sự hỗ trợ của đa số trong quốc hội, và có thể bị giải tán bởi cơ chế bỏ phiếu bất tín nhiệm của chế độ cộng hòa nghị viện, chuyển biến này có thể dẫn đến tình trạng bất ổn trong nội các, và kết quả là tình trạng bất ổn của thể chế. Nhưng ảnh hưởng của vấn đề này cũng không cần được đánh giá quá cao; phần lớn các nền dân chủ ổn định đều thiên về chế độ cộng hòa nghị viện, so với chế độ tổng thống hoặc chế độ bán tổng thống[23]. Hơn nữa, vị thế của nội các đối với hệ thống cơ quan lập pháp có thể được tăng cường bởi những điều khoản hiến pháp được đặt ra cho ảnh hưởng này. Một trong những điều khoản như vậy là quy chế bỏ phiếu bất tín nhiệm, được áp dụng trong Hiến pháp năm 1949 của Tây Đức, quy định thủ tướng có thể bị miễn nhiệm bởi quốc hội nếu có thủ tướng mới được bầu cùng một lúc. Điều này giúp loại bỏ kịch bản một nội các bị bỏ phiếu chống bởi một lực lượng đa số “tiêu cực” trong hệ thống cơ quan lập pháp, nhưng chính lực lượng tiêu cực này lại không thể thành lập một nội các thay thế. Tây Ban Nha và Papua New Guinea cũng đã áp dụng các yêu cầu tương tự dẫn đến quy chế bỏ phiếu bất tín nhiệm mang tính xây dựng. Những bất lợi của điều khoản này là nó có thể tạo ra một khối hành pháp không thể bị loại bỏ bởi quốc hội nhưng cũng không sở hữu một lực lượng đa số ủng hộ trong quốc hội để thông qua chương trình lập pháp của họ, đó chính là sự bế tắc luôn ám ảnh trong chế độ tổng thống. Một kiến nghị để giải quyết bất ổn tiềm ẩn này đã được trình ra trong Hiến pháp năm 1958 của nền Đệ ngũ Cộng hòa Pháp, với hình thức của một điều khoản trao cho nội các quyền kiến nghị lập pháp của vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm, và những đề xuất này được áp dụng tự động, trừ phi có đa số tuyệt đối phiếu bầu của cơ quan lập pháp nhằm giải tán nội các. Chưa từng có bản hiến pháp nào cố gắng kết hợp quy tắc lập hiến của cả người Đức và người Pháp như vậy, nhưng chính sự kết hợp ấy chắc chắn có thể đem lại sự bảo vệ mạnh mẽ dành cho nội các và hiệu lực lập pháp của họ – nhưng lại không tước đi quyền căn bản của đa số trong quốc hội là phủ quyết nội các và thay thế bằng một nội các mà quốc hội tin tưởng hơn.

6) Lựa chọn người đứng đầu nhà nước: Trong chế độ nghị viện, thủ tướng thường chỉ làm việc như người đứng đầu chính phủ, trong khi một vị vua của chế độ quân chủ lập hiến hay một vị tổng thống hoàn toàn giữ vị thế của người đứng đầu nhà nước. Xét trong môi trường không tồn tại chế độ quân chủ lập hiến, các nhà thiết kế hiến pháp cần phải quyết định cách thức tổng thống được lựa chọn. Khuyến nghị của tôi gồm hai phần: thứ nhất là đảm bảo rằng chức vị tổng thống chủ yếu mang tính nghi thức và sở hữu quyền lực chính trị rất hạn chế, và không bầu tổng thống bằng quy tắc phổ thông đầu phiếu. Bầu cử phổ thông đầu phiếu cung cấp tính hợp pháp dân chủ và, đặc biệt kết hợp với nhiều hơn quyền lực tối thiểu mà hiến pháp quy định, có thể khiến các tổng thống thành các thành phần tham gia chính trị chủ động – dễ chuyển đổi chế độ nghị viện thành chế độ bán tổng thống. Lựa chọn thay thế được ưa thích ở đây là bầu cử tổng thống qua quốc hội.

Một mô hình đặc biệt hấp dẫn trong trường hợp này là quá trình sửa đổi hiến pháp được đề xuất như một phần của quá trình thay đổi chế độ nghị viện của Úc từ nền quân chủ sang nền cộng hòa, với quy định mới xác lập rằng tân tổng thống sẽ được bổ nhiệm dựa trên đề cử chung của thủ tướng và lãnh đạo phe đối lập, và phải được chấp thuận bởi hai phần ba trong tổng số thành viên của một phiên họp chung của lưỡng nghị viện trong quốc hội. Ở đây, tỷ lệ hai phần ba ủng hộ được đặt ra nhằm khuyến khích quá trình lựa chọn tổng thống phải mang tính phi đảng phái và phi chính trị (Tuy nhiên, cử tri Úc đã từ chối toàn bộ các đề xuất trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1999, chủ yếu là bởi một lực lượng đa số của phe cộng hòa đã dứt khoát thiên về giải pháp bầu cử tổng thống trực tiếp bằng phổ thông đầu phiếu). Theo tôi, giải pháp tốt nhất ở đây là hệ thống của Nam Phi, vốn không hề xác lập vị thế lãnh đạo riêng biệt của nhà nước: chức vị tổng thống thực tế là thủ tướng, và chỉ có thể hành động dựa trên sự hỗ trợ của quốc hội, chính cơ quan này đồng thời đóng vai trò đứng đầu nhà nước.

7) Liên bang và giải tập trung hoá: Đối với những xã hội bị chia rẽ trong đó tồn tại các nhóm xã hội phân bổ tập trung theo địa lý, thể chế liên bang rõ ràng là giải pháp tối ưu để mang lại quyền tự chủ cho các nhóm này. Khuyến nghị cụ thể của tôi liên quan tới thượng viện thường được sử dụng trong hệ thống liên bang. Thượng viện thường rất mạnh về chính trị, mà ở đó các địa phương có dân số ít của liên bang thường được đại diện quá mức (ví dụ như Thượng viện Hoa Kỳ, dành cho bang Wyoming “bé nhỏ” hai ghế và cũng dành cho gã khổng lồ California hai ghế). Đối với chế độ nghị viện, cơ chế thiết lập lưỡng viện với quyền lực ngang nhau hoặc quyền lực thực chất ngang nhau, trong khi được kết tập từ những thành phần khác nhau, không phải là một mô hình hoàn toàn khả thi: Rất khó thành lập nội các đạt được niềm tin từ cả hai viện, như trường hợp cuộc khủng hoảng Hiến pháp năm 1975 của Úc: Thượng viện vốn do phe đối lập kiểm soát đã từ chối thông qua vấn đề ngân sách, nhằm buộc nội các từ chức, mặc dù nội các luôn nhận được sự ủng hộ vững chắc của Hạ viện. Hơn nữa, chính sự hiện diện của những địa phương nhỏ nhưng được đại diện quá quy mô ở Thượng viện đã vi phạm nguyên tắc dân chủ “một người một phiếu”. Ở khía cạnh này, các mô hình thể chế liên bang của Đức và Ấn Độ đã tỏ ra ưu việt hơn so với Mỹ, Thụy Sĩ, và Úc.

Tựu trung, mọi thể chế liên bang nên xây dựng mô hình giải tập trung, và các đơn vị thành phần của nó (các bang hoặc tỉnh) nên giữ quy mô tương đối nhỏ – để tăng cường triển vọng đạt được trạng thái đồng nhất giữa các đơn vị, cũng như để tránh sự thống trị của các bang lớn xét trên tương tác cấp liên bang. Bên cạnh đó, những nhà thiết kế hiến pháp còn phải quyết định rất nhiều vấn đề vĩ mô liên quan đến những chi tiết luôn biến thiên giữa các quốc gia (điển hình là cách xác định ranh giới giữa các bang của một quốc gia). Đến đây, giới học giả không còn có thể đưa ra khuyến nghị thống nhất về cơ chế giải tập trung trong cấu trúc liên bang, cũng như không thể đạt được sự đồng thuận rằng cấu trúc thể chế theo kiểu của Hoa Kỳ, Canada, Ấn Độ, Úc, Đức, Thụy Sĩ, hay Áo mới là cấu trúc xứng đáng để người ta học tập nhất.

8) Quyền tự chủ không mang tính lãnh thổ: Trong các xã hội chia rẽ với các nhóm cộng đồng không phân bố tập trung theo địa lý, quyền tự chủ cũng có thể được xác lập dựa trên trên cơ sở phi lãnh thổ. Ví dụ, trong trường hợp có mâu thuẫn trầm trọng về tôn giáo, các nhóm tôn giáo khác nhau thường có ý định duy trì quyền kiểm soát trên các hệ thống trường lớp của riêng họ. Một giải pháp đã phát huy hiệu quả ở Ấn Độ, Bỉ và Hà Lan, đó là cung cấp quyền tự chủ giáo dục thông qua chính sách hỗ trợ tài chính bình đẳng của nhà nước dành cho tất cả các trường học, cả trường công và trường tư, miễn là đáp ứng được tiêu chuẩn giáo dục cơ bản. Dẫu giải pháp này đi ngược lại nguyên tắc tách tôn giáo khỏi nhà nước, ở đây nhà nước đã có thể hoàn toàn trung lập trong vấn đề giáo dục.

9) Chia sẻ quyền lực bên ngoài nội các và quốc hội: Trong các xã hội chia rẽ, quyền đại diện rộng khắp của tất cả các nhóm cộng đồng không chỉ giữ vai trò trọng yếu trong nội các và quốc hội, mà còn trong cả lĩnh vực dịch vụ dân sự, tư pháp, cảnh sát và quân đội. Mục tiêu này có thể đạt được bằng cách thiết lập hạn ngạch sắc tộc hay tôn giáo, nhưng không nhất thiết phải cứng nhắc. Ví dụ, thay vì xác lập giới hạn cụ thể để một nhóm nào đó có lực lượng đại diện chiếm 20%, người ta có thể thiết lập một quy tắc linh hoạt hơn với mục tiêu trong khoảng từ 15% đến 25%. Tuy nhiên, tôi nhận thấy một hạn ngạch như vậy cũng không cần thiết lắm; nhân dân một quốc gia chỉ cần một bản hiến pháp chuẩn mực xác lập những quy định rõ ràng đảm bảo được quyền đại diện rộng khắp, và quá trình hiện thực hóa mục tiêu quyền đại diện bình đẳng ấy phải dựa trên nền tảng là cơ chế chia sẻ quyền lực trong nội các và quốc hội.

Một số vấn đề khác

Trong giới hạn những vấn đề gây tranh cãi khác có liên quan đến chủ đề này mà tôi biết, khuyến nghị của tôi là ta nên bắt đầu với các khuôn mẫu có tính phương pháp hiện diện ở các nền dân chủ đã có nền tảng vững chắc trên thế giới, chẳng hạn như giới hạn hai phần ba đồng thuận trong tổng số để đạt được quyền sửa đổi hiến pháp (có thể cần đến ngưỡng cao hơn để sửa đổi quyền thiểu số và quyền tự chủ), hoặc lý thuyết cho rằng số thành viên trong hạ nghị viện của một hội đồng lập pháp nên ở mức xấp xỉ căn bậc ba của dân số trong quốc gia hoặc vùng lãnh thổ ấy[24] (có nghĩa là một đất nước với khoảng 25 triệu dân, như Iraq, “phải” có khoảng 140 đại biểu trong hạ nghị viện), cùng với nhiệm kỳ bốn năm.

Trong khi hoạt động trưng cầu dân ý công khai và minh bạch luôn có thể xác lập tính chính danh, tính hợp pháp dân chủ cho bản dự thảo của hiến pháp mới, tôi đề nghị một điều khoản trong hiến pháp để hạn chế số lần trưng cầu dân ý. Chỉ cần một hình thức trưng cầu dân ý chính để đòi hỏi quyền soạn thảo luật pháp và sửa đổi hiến pháp xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân, và để ép quá trình phổ thông đầu phiếu trực tiếp về các đề  xuất như vậy. Đây cũng là một công cụ khá thẳng thừng của số đông có thể được sử dụng nhằm chống lại thiểu số. Nhưng mặt khác, trường hợp của Thụy Sĩ đã chỉ ra rằng một cuộc trưng cầu dân ý được kêu gọi bởi một nhóm cử tri thiểu số nhằm phản đối một đạo luật được thông qua bởi đa số các đại biểu dân cử có thể tạo nên sức nặng đáng kể nhằm thúc đẩy quá trình chia sẻ quyền lực. Thậm chí kể cả khi nỗ lực này thất bại, nhóm thiểu số vẫn buộc được nhóm đa số phải trả phí cho chiến dịch trưng cầu dân ý; vậy nên trưng cầu dân ý vẫn là công cụ kích thích hiệu quả của thiểu số nhằm buộc lực lượng đa số phải chú ý đến nguyện vọng của thiểu số. Tuy nhiên, tôi thấy rằng chúng ta vẫn phải hết sức thận trọng khi sử dụng chiến dịch trưng cầu dân ý, thực tế là hoạt động trưng cầu ý dân cũng chỉ diễn ra thường xuyên trong ba nền dân chủ là Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, và đặc biệt là ở Ý kể từ khoảng thập niên 1980, điều này củng cố cho toàn bộ lập luận này.

Những nhà thiết kế hiến pháp sẽ còn phải giải quyết nhiều vấn đề khác mà tôi không đề cập, cũng như không đưa ra khuyến nghị cụ thể ở đây, ví dụ như trách nhiệm bảo vệ các quyền dân sự, cho dù phải thiết lập một tòa án hiến pháp đặc biệt, và làm cách nào để đưa một tòa án hiến pháp hoặc một tòa án tối cao trở thành công cụ bảo vệ mạnh mẽ cho hiến pháp và các quyền dân sự nhưng đồng thời không làm cho công cụ này trở thành con dao hai lưỡi có tính can thiệp và lạm quyền. Và đến khi những người kỹ sư của bản hiến pháp dân chủ phải đối mặt với những khó khăn rất thực tế và dành thời gian giải quyết mọi trở ngại này, thì chính những học giả chính trị cũng có trách nhiệm không tạo ra gánh nặng hoặc đánh lạc hướng những nhà thiết kế này bằng những chuỗi thảo luận dài dòng về lợi thế tương đối và nhược điểm của các giải pháp thay thế không hoàn thiện như chế độ cộng hòa tổng thống hay những quy tắc bầu cử không mang tính đại diện tỉ lệ.

Tôi cũng không cho rằng tất cả những người thiết kế của bản hiến pháp dân chủ phải răm rắp thực hành theo đúng như mọi khuyến nghị của tôi, mà không dành thời gian kiểm tra bất kỳ các lựa chọn thay thế nào khác. Tôi hiểu rằng lợi ích và chương trình nghị sự của các đảng phái đặc thù, cũng như của các chính trị gia, đều tạo ra cho họ những lý do rất thực tế để xem xét đến nhiều lựa chọn thay thế, căn bản là lịch sử và truyền thống của một quốc gia sẽ luôn ảnh hưởng đến những người phải soạn thảo hiến pháp cho quốc gia ấy, và những lời khuyên chuyên nghiệp hầu như chắc chắn luôn đến từ không chỉ một chuyên gia lập hiến. Mặc dù vậy, tôi dám chắc rằng tất cả những khuyến nghị tôi đã trình bày trong bài viết này không chỉ đơn thuần dựa trên sở thích cá nhân của tôi, mà phải dựa rất nhiều trên sự đồng thuận mạnh mẽ của giới học giả chính trị và những bằng chứng thực nghiệm vững chắc, và rằng ít nhất những luận điểm ấy sẽ tạo thành một điểm khởi đầu trong các thoả thuận lập hiến.

Arend Lijphart

Tôi rất cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu và Hội nghị Bellagio của Quỹ Rockefeller vì đã tạo cơ hội cho tôi thực hiện dự án này trong thời gian tôi ở Trung tâm này vào tháng 5, tháng 6 năm 2003. Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến Roberto Belloni, Torbjörn Bergman, Joseph H. Brooks Florian Bieber, Jorgen Elklit, Svante Ersson, John McGarry, Brendan O’Leary, Mogens N. Pedersen, Hugh B. Price, và Timothy D. Sisk vì những lời khuyên đầy giá trị của họ. Một số ý tưởng của bài viết này xuất hiện lần đầu trong bài viết “Làn sóng của dân chủ chia sẻ quyền lực” (The Wave of Power-Sharing Democracy) của tôi trong công trình: Andrew Reynolds, Kiến trúc ca nn dân ch: Vn đ Thiết kế, Quản lý Xung đột, và nền Dân chủ (The Architecture of Democracy: Constitutional Design, Conflict Management, and Democracy) (Oxford: Oxford University Press, 2002), trang 37 đến trang 54; và bài viết “Nền dân chủ của thế kỉ XXI: Liệu chúng ta có thể lạc quan?” (Democracy in the Twenty-First Century: Can We Be Optimistic?) của tôi trên tạp chí Uhlenbeck Lecture số 18 (Wassenaar: Netherlands Institute for Advanced Study, 2000).

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Nguyễn Thế Anh và Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH: 

[1] Nhóm đặc tính thứ cấp xoay quanh vấn đề tỷ lệ tương xứng, đặc biệt trong bầu cử lập pháp (để đảm bảo nhóm cơ quan lập pháp có tính đại diện rộng khắp – cũng giống như mục đích xây dựng được nhóm cơ quan hành pháp từ đại thể) và quyền phủ quyết thiểu số trước các vấn đề quan trọng nhất ảnh hưởng đến các quyền và quyền tự chủ của các nhóm sắc tộc thiểu số.

[2] Một vài tên tuổi tiêu biểu trong nhóm học giả này là: Dirk Berg-Schlosser, William T. Bluhm, Laurence J. Boulle, Hans Daalder, Edward Dew, Robert H. Dix, Alan Dowty, Jonathan Fraenkel, Hermann Giliomee, Theodor Hanf, Jonathan Hartlyn, Martin O. Heisler, Luc Huyse, Thomas A. Koelble, Gerhard Lehmbruch, Franz Lehner, W. Arthur Lewis, Val R. Lorwin, Diane K. Mauzy, John McGarry, Kenneth D. McRae, Antoine N. Messarra, R.S. Milne, S.J.R. Noel, Eric A. Nordlinger, Brendan O’Leary, G. Bingham Powell, Jr., Andrew Reynolds, F. van Zyl Slabbert, Jürg Steiner, Albert J. Venter, Karl von Vorys, David Welsh, và Steven B. Wolinetz. Những công trình quan trọng nhất của họ viết về chủ đề này (nếu được công bố vào khoảng giữa những năm 1980) đều có thể được tìm thấy trong thư mục tài liệu tham khảo của công trình: Arend Lijphart, “Cơ chế chia sẻ quyền lực ở Nam Phi” (Power-Sharing in South Africa) (Berkeley: Institute of International Studies, Đại học California, 1985), trang 137 đến trang 171.

[3] Xem tài liệu: Ted Robert Gurr, Ri ro ca Thiu s: Mt cái nhìn Toàn cnh v nhng Mâu thun Sc tc trong Chính tr (Minorities at Risk: A Global View of Ethnopolitical Conflicts) (Washington, D.C: U.S. Institute of Peace Press, 1993), trang 292.

[4] Tôi đã trả lời rộng khắp những luận điểm phê bình này trong nhiều bài viết khác. Đặc biệt là bài viết “Làn sóng của dân chủ chia sẻ quyền lực” (The Wave of Power-Sharing Democracy) trong công trình: Andrew Reynolds, Kiến trúc ca nn dân ch: Vn đ Thiết kế Hiến pháp, Qun lý Xung đt, và nn Dân ch (The Architecture of Democracy: Constitutional Design, Conflict Management, and Democracy) (Oxford: Oxford University Press, 2002), trang 40 đến trang 47; và công trình: Arend Lijphart, Cơ chế chia s quyn lc Nam Phi (Power-Sharing in South Africa), trang 83 đến trang 117.

[5] Xem bài viết: Brian Barry, “Mô hình hiệp thương và những nguy hiểm tiềm tàng” (The Consociational Model and Its Dangers, Tp chí Nghiên cu Chính tr châu Âu (European Journal of Political Research) số 3 (tháng 12 1975): trang 406.

[6] Xem tài liệu: Donald L. Horowitz, “Một Nam Phi dân chủ? Quá trình lập hiến trong một xã hội chia rẽ” (A Democratic South Africa? Constitutional Engineering in a Divided Society) (Berkeley: University of California Press, 1991), trang 188 đến trang 203; và bài viết “Các hệ thống bầu cử: Nền tảng cho quá trình hoạch định chính sách” (Electoral Systems: A Primer for Decision Makers) Tp chí Dân ch số 14 (tháng 10 năm 2003): trang 122 đến trang 123. Trong các hệ thống bỏ phiếu sử dụng lá phiếu thay thế (alternative voting systems), cử tri được hỏi để xếp hạng thứ tự các ứng cử viên (nghĩa là người cử tri ấy vẫn chọn vị ứng cử viên mà anh ta/cô ta thích nhất, nhưng đồng thời chọn vị ứng cử viên mà anh ta/ cô ta muốn người đó đắc cử nếu người đầu tiên không được chọn, và cứ tiếp tục như vậy). Nếu một ứng cử viên nhận được một đa số tuyệt đối ngay trong lần đếm đầu tiên, anh ta hoặc cô ta sẽ đắc cử; nếu không, người ta sẽ tiến hành loại các ứng cử viên yếu nhất và đếm lại phiếu dựa trên lựa chọn thứ hai. Quá trình này được lặp đi lặp lại cho đến khi một trong những ứng cử viên nhận được đa số phiếu.

[7] Những bạn đọc cần một phê bình chi tiết hơn có thể xem bài viết: Arend Lijphart, “Quy tắc bầu cử sử dụng lá phiếu thay thế: Một mô hình khả thi khác cho Nam Phi?” (The Alternative Vote: A Realistic Alternative for South Africa?), Tp chí Politikon số 18 (tháng 6 năm 1991): trang 91 đến trang 101; và bài viết: Arend Lijphart, “Nền dân chủ đa sắc tộc”, trong công trình: Seymour Martin Lipset, Bách khoa thư v Dân ch (The Encyclopedia of Democracy) (Washington, D.C: Congressional Quarterly, 1995), trang 863 đến trang 864.

[8] Quy tắc bầu cử sử dụng lá phiếu thay thế cũng được sử dụng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1982 và năm 1988 ở Sri Lanka và cho cuộc bầu cử tổng thống năm 2000 ở Cộng hòa Bosnia. Nigeria cũng đã sử dụng một hệ thống tương tự như khuyến nghị của Horowitz (đòi hỏi người chiến thắng vừa phải giành được một đa số tương đối, vừa phải đạt được ít nhất 25% số phiếu ở ít nhất hai phần ba các tiểu bang) cho các cuộc bầu cử tổng thống. Luận điểm thứ ba và thứ sáu trong tiểu mục tiếp theo của bài viết này sẽ đề xuất mô hình xây dựng nền cộng hòa nghị viện, trong đó tổng thống không phải do dân bầu, và do đó cũng cần cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp.

[9] Ở đây, Benjamin Reilly đã thông cảm với lối bảo vệ quan điểm của Horowitz, nhưng chỉ ở một số vấn đề quan trọng; Ví dụ, Reilly đã không đồng ý với khuyến nghị áp dụng quy tắc bầu cử sử dụng lá phiếu thay thế trong trường hợp bầu cử ở Nam Phi của Horowitz. Xem tài liệu: Reilly, Nn Dân ch trong xã hội chia rẽ: Thiết lp Quy tc Bu c đ qun lý xung đt (Democracy in Divided Societies: Electoral Engineering for Conflict Management) (Cambridge: Cambridge University Press, 2001). Còn Andreas Wimmer thì đồng ý với chủ trương áp dụng quy tắc bầu cử sử dụng lá phiếu thay thế trong trường hợp Iraq, trong bài viết: “Nền Dân chủ và xung đột Tôn giáo – Sắc tộc ở Iraq” (Democracy and Ethno-Religious Conflict in Iraq), Tp chí Survival số 45 (mùa đông năm 2003-2004): trang 111 đến trang 134.

[10] Xem bài viết: Donald L. Horowitz, “Thiết kế Hiến pháp: Đề xuất đối đầu Tiến trình” (“Constitutional Design: Proposals versus Processes”) trong công trình: Andrew Reynolds, Kiến trúc ca dân ch (The Architecture of Democracy) (sách đã dẫn), trang 25.

[11] Ngược lại với quy tắc bầu cử đa số tương đối (người nhiều phiếu nhất thì thắng), quy tắc bầu cử sử dụng lá phiếu thay thế (chung cuộc tức thì-instant runoff) đảm bảo rằng các ứng cử viên chiến thắng sẽ được bầu bởi đa số tuyệt đối cử tri chỉ trong một vòng, và nó thực hiện chính xác hơn so với phương pháp đa số tuyệt đối chung cuộc (majority-runoff method).

[12] Xem tài liệu: Larry Diamond, Xây dng dân ch: Hưng đến s bn vng (Developing Democracy: Toward Consolidation) (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1999), trang 104.

[13] Cả ba hệ thống quy tắc bầu cử này đều có thể áp dụng với đơn vị bầu cử nhiều đại biểu. Việc bỏ phiếu tích lũy giống với quy tắc bầu cử đa số quyết định áp dụng với đơn vị bầu cử nhiều đại biểu ở chỗ mỗi cử tri đều có số phiếu tương ứng với số ghế lập pháp dành cho đơn vị bầu cử ấy, nhưng có điểm khác biệt là cử tri được phép dồn phiếu của mình trên một hoặc một vài trong số các ứng cử viên. Trong các hệ thống giới hạn bỏ phiếu, cử tri có số phiếu ít hơn số ghế dành cho đơn vị bầu cử. Quy tắc bầu cử lá phiếu bất khả nhượng đơn – SNTV là một trường hợp đặc biệt của hình thức lá phiếu hạn chế, trong đó số phiếu bầu của mỗi cử tri được giảm xuống còn một phiếu.

[14] Xem tài liệu: Matthew Soberg Shugart, Martin P. Wattenberg, Nhng h thng bu c vi thành viên hn hp: La chn tt nht cho c hai thế gii? (Mixed-Member Electoral Systems: The Best of Both Worlds?) (Oxford: Oxford University Press, 2001).

[15] Tính toán này dựa trên công thức do Rein Taagepera đề xuất: T = 0,75*(M + 1); trong đó T là ngưỡng hiệu quả và M là số lượng đại biểu được bầu ở một đơn vị bầu cử; xem tài liệu: Arend Lijphart, “Những hệ thống bầu cử” (Electoral Systems) trong công trình: Seymour Martin Lipset, Bách khoa thư v Dân ch (Encyclopedia of Democracy) (sách đã dẫn), trang 417. Ở đây, có một số lượng đáng kể những biến thể xoay quanh con số trung bình 8 đại biểu trong mỗi đơn vị bầu cử, nhưng có đến 9 trong số 17 đơn vị bầu cử sở hữu số đại biểu rất gần với số trung bình này, với từ 6 đến 9 ghế lập pháp. Các quy tắc bầu cử với danh sách mở rất phức tạp, và theo ý kiến của tôi, chúng ta nên lập danh sách mở rất rộng. Bên cạnh 175 ghế được mô tả ở đây, Greenland và quần đảo Faeroe còn giới thiệu thêm hai đại diện tương ứng với mỗi nơi. Tôi cũng cần chỉ ra rằng đề nghị của tôi về mô hình Đan Mạch đòi hỏi một chút nghịch lý: Đây là một hệ thống rất thích hợp để áp dụng cho các nước luôn chìm trong mâu thuẫn sắc tộc và tôn giáo, nhưng chính Đan Mạch lại là một trong những quốc gia gắn kết nhất trên thế giới.

[16] Cả những đảng không qua được ngưỡng 2% số phiếu có thể vẫn được hưởng lợi từ những ghế bổ sung nếu đáp ứng được một số yêu cầu khác, chẳng hạn như chiến thắng được ít nhất một ghế trong một đơn vị bầu cử. 

[17] Trong lý thuyết trò chơi (game theory), zero-sum game là tình huống mà người này được chính cái người khác mất.

[18] Xem bài viết: Juan J. Linz, “Nền dân chủ theo chế độ tổng thống và nền dân chủ Nghị viện: Có gì khác biệt chăng?” (Presidential or Parliamentary Democracy: Does It Make a Difference?) trong công trình: Juan J. Linz, Arturo Valenzuela, Tht bi ca nn dân ch theo chế độ tổng thống (The Failure of Presidential Democracy) (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1994). 

[19] Xem bài viết: Seymour Martin Lipset, “Vai trò không thể thiếu của các đảng chính trị” (The Indispensability of Political Parties), trên Tp chí Dân ch số 11 (tháng Giêng năm 2000): trang 48 đến trang 55; và tài liệu: E.E. Schattschneider, Chính quyn ca đng phái (Party Government) (New York: Rinehart, 1942). 

[20] Xem bài viết: John T.S. Keeler và Martin A. Schain, “Cấu trúc thể chế, Kiểu chính trị Poker và quá trình chuyển đổi chế độ ở Pháp” (Institutions, Political Poker, and Regime Evolution in France) trong tài liệu: Kurt von Mettenheim, Nhng chế đ tng thng và nn chính tr dân ch: So sánh bi cnh khu vc và bi cnh quc gia (Presidential Institutions and Democratic Politics: Comparing Regional and National Contexts) (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1997 ), trang 95 đến trang 97. Ở đây, Horowitz ủng hộ chức vị tổng thống được bầu bởi lá phiếu thay thế hoặc một phương pháp tổng hợp lựa chọn tương tự, nhưng ở khía cạnh khác, chính chức vị tổng thống được bầu theo kiểu của ông cũng không khác với chức vị tổng thống trong chế độ cộng hòa tổng thống thuần túy; xem công trình: Mt nn dân ch Nam Phi? (A Democratic South Africa?) của Horowitz, trang 205 đến trang 214.

[21] Giới học giả chính trị cũng đã chỉ ra những phương pháp để hạn chế khả năng dẫn tới những thế bế tắc trong chế độ tổng thống, như đồng thời tổ chức bầu cử tổng thống và bầu cử lập pháp, sử dụng quy tắc bầu cử trội số trong quá trình bầu cử tổng thống thay vì những phương pháp đa số thông thường. Biện pháp này thực sự có thể cải thiện những nguy cơ bế tắc trên trong một mức độ nhất định, nhưng không thể giải quyết giải quyết hoàn toàn. Xem tài liệu: Matthew Soberg Shugart và John M. Carey, Nhng tng thng và nhng quc hi: Quá trình thiết kế và Đng lc hc bu c (Presidents and Assemblies: Constitutional Design and Elec-toral Dynamics) (Cambridge: Cambridge University Press, 1992); và tài liệu: Mark P. Jones, Lut bu c và s sng còn ca nn dân ch tng thng (Electoral Laws and the Survival of Presidential Democracies) (Notre Dame: Đại học Notre Dame Press, 1995). 

[22] Hiệp định Good Friday năm 1998 cũng đã cung cấp cho khối hành pháp Bắc Ireland cơ chế chia sẻ quyền lực tương tự. 

[23] Trong nghiên cứu so sánh của tôi về các nền dân chủ ổn định nhất thế giới, dựa trên dữ liệu về các nước đã trải qua nền dân chủ tồn tại ổn định từ năm 1977 đến năm 1996 (với dân số lớn hơn 250.000 người), có 30 trong số 36 nền dân chủ ổn định nhất thế giới áp dụng chế độ cộng hòa nghị viện. Xem tài liệu: Lijphart, Nhng mô hình dân ch: Hình thc ca chính ph và Hiu lc 36 quc gia (Patterns of Democracy: Government Forms and Performance in Thirty–Six Countries) (New Haven: Yale University Press, 1999). 

[24] Công thức này được xây dựng bởi Rein Taagepera; xem bài viết “Quy mô của Quốc hội liên bang” (The Size of National Assemblies) của ông ấy, đăng trên Tp chí Nghiên cu Khoa hc Xã hi (Social Science Research) số 1 (tháng 12 năm 1972): trang 385 đến trang 401.