Benjamin Reilly

Benjamin Reilly là giám đốc của Trung tâm Nghiên cứu Dân chủ tại Đại học Quốc gia Úc. Ông là tác giả của một vài cuốn sách, bao gồm “Dân chủ trong những Xã hội bị chia rẽ: Thiết kế Bầu cử để Quản trị Xung đột (2001), đề cập rất chi tiết những vấn đề được tranh luận trong tiểu luận này. Ông còn làm cố vấn cho nhiều vấn đề cải cách bầu cử. Quỹ tài trợ từ Viện nghiên cứu Hoa Kỳ về Hòa bình hỗ trợ cho nghiên cứu được trình bày trong tiểu luận này. Bài tiểu luận này ban đầu được đăng trong ấn phẩm tháng Tư năm 2002 của Tạp chí Dân chủ (Hoa Kỳ).

***

Những loại hệ thống bầu cử nào có thể giúp thể chế dân chủ sống sót được ở các quốc gia bị chia rẽ sâu sắc bởi chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc các nhóm dân tộc thiểu số? Như ta thường thấy, chính trị gia trong các “xã hội bị phân hóa” như vậy thường có động cơ mạnh mẽ để “chơi con bài sắc dân” trong thời gian diễn ra bầu cử, với những lời kêu gọi cộng đồng (tức là dùng những lời lẽ tập trung vào tâm lý của một cộng đồng nhất định – ND) để vận động cử tri. “Hứa hẹn nhiều hơn” – hùng biện đầy thuyết phục và kích thích nhu cầu – có thể mang lại sự tưởng thưởng lớn hơn rất nhiều so với những lời kêu gọi trung dung. Trong những tình huống đó, các chính trị gia có thể nhanh chóng chuyển hướng thành cực đoan và tất cả quyền lực sẽ rơi vào tay người chiến thắng. Hậu quả thường là sự thất bại của dân chủ.1

Bất kỳ một chiến lược xây dựng nền dân chủ bền vững trong các xã hội bị chia rẽ nào cũng phải đặt tiêu chí hàng đầu vào việc tránh những nguyên nhân quen thuộc đến chán nản này, thay vào đó phải tìm cách khuyến khích hòa giải sắc tộc, các đảng phái chính trị đa sắc tộc, và nền chính trị trung dung. Bởi vì các cuộc bầu cử giúp định hình những quy tắc rộng hơn của hành vi chính trị, các học giả và chuyên gia đầu ngành đều đồng thuận rằng các hệ thống bầu cử có thể đóng một vai trò mạnh mẽ trong việc khuyến khích cả dân chủ lẫn quản lý xung đột thành công. Ví dụ, với việc thay đổi động cơ và lợi ích cho các chính trị gia khi họ đang tìm cách thắng cử, những quy tắc bầu cử khôn khéo có thể khiến một vài kiểu hành vi trở nên thành công về mặt chính trị hơn các kiểu hành vi khác. Khoảng hai thập kỷ trước, việc “thiết kế bầu cử” đã trở nên hấp dẫn hơn với những ai cố gắng xây dựng dân chủ ở những xã hội bị phân hóa.2

Trong khi các nhà chính trị học đa phần nhất trí rằng các hệ thống bầu cử góp phần nhiều trong việc định hình một chính trường rộng hơn, thì họ bất đồng một cách sâu sắc về loại hình hệ thống bầu cử nào sẽ phù hợp nhất cho các xã hội bị chia rẽ.

Có hai luồng quan điểm vượt trội hơn hẳn. Giới học thuật chính thống đã tranh luận rằng một vài dạng đại diện tỷ lệ (PR) là cần thiết trong những trường hợp bị chia rẽ sâu sắc về sắc tộc. PR là nhân tố then chốt của các hướng tiếp cận thỏa hiệp đa nguyên, mà các hướng tiếp cận này nhấn mạnh vào sự cần thiết phải phát triển một cơ chế chia sẻ quyền lực cho giai cấp tinh hoa, nếu nền dân chủ sống sót được qua sự xung đột sắc tộc hoặc các loại xung đột khác. Arend Lijphart, một học giả có quan điểm gần gũi với mô hình thỏa hiệp đa nguyên nhất, đã phát triển hệ giải pháp này từ một điều tra chi tiết về các đặc điểm của dân chủ chia sẻ quyền lực tại một vài quốc gia trong lục địa châu Âu (Hà Lan, Bỉ, và Thụy Sĩ), và giới học thuật bất đồng với nhau về mức độ hiệu quả mà những thước đo này có thể thực hiện được (nếu có thể) khi được áp dụng đối với xung đột sắc tộc tại các quốc gia đang phát triển.3 Thế nhưng vẫn còn một mức độ hoài nghi nhỏ, trong giới học thuật, về việc chủ thuyết thỏa hiệp đa nguyên xứng đáng làm đại diện cho mô hình dân chủ chiếm ưu thế đối với các xã hội bị chia rẽ. Về mặt hệ thống bầu cử, những người theo chủ thuyết thỏa hiệp đa nguyên tranh luận rằng hệ thống PR danh sách đảng là sự lựa chọn tốt nhất, đồng thời nó cho phép tất cả các nhóm sắc tộc quan trọng, bao gồm cả các nhóm thiểu số, được phép “tự định nghĩa bản thân” thành các đảng phái có cơ sở là sắc tộc và theo cách ấy giành được đại diện trong nghị viện theo đúng tỷ lệ với tỷ lệ dân số của họ trong toàn bộ cộng đồng.4

 

S LA CHN “ƯU TIÊN”

Tương phản với quan điểm chính thống này, một vài nhà phê bình tranh luận rằng cách tốt nhất để làm dịu bớt sự hủy hoại của những khuôn mẫu trong các xã hội bị phân hóa là đừng khuyến khích hình thành các đảng phái sắc tộc, bởi chúng sẽ tái tạo những phần chia rẽ sắc tộc ngay trong nghị viện, mà thay vào đó hãy tận dụng những hệ thống bầu cử khuyến khích sự cộng tác và thỏa hiệp giữa các nhóm đối thủ, và do đó giảm thiểu sự nổi trội của tính sắc tộc. Một chiến thuật cốt lõi, được ủng hộ bởi Donald Horowitz, là xây dựng những luật bầu cử thúc đẩy sự hùn phiếu (vote-pooling) qua lại, mặc cả và thỏa hiệp giữa các nhóm.5 Ví dụ, các cuộc bầu cử tổng thống ở Nigeria yêu cầu các ứng viên thắng cử phải giành được sự ủng hộ của những vùng khác, nhờ đó hạn chế hệ quả của chủ nghĩa địa phương và khu vực hẹp hòi. Hệ thống bầu cử của Li-Băng (Lebanon) cố gắng xoa dịu tầm quan trọng của tính sắc tộc bằng việc gán trước tỷ lệ tương ứng với các sắc tộc trong mỗi đơn vị bầu cử, do đó yêu cầu các đảng phải đề cử danh sách cử tri hỗn hợp các sắc tộc và cử tri sẽ lựa chọn dựa trên các vấn đề hơn là theo sắc tộc.

Thế nhưng các hệ thống bầu cử mạnh mẽ nhất trong khả năng khuyến khích sự thỏa hiệp lại chính là các hệ thống khiến cho các chính trị gia phụ thuộc vào lá phiếu cử tri từ các nhóm khác hơn là từ chính nhóm của mình. Bài tiểu luận này xem xét những bản ghi chép có tính kinh nghiệm của một sự đổi mới bầu cử giống như vậy, với vai trò như một công cụ cho quản trị xung đột: cách sử dụng những hệ thống bầu cử “ưu tiên” cho phép cử tri xếp hạng các lựa chọn của họ giữa nhiều đảng phái hoặc nhiều ứng viên trên phiếu bầu. Tất cả các hệ thống bầu cử ưu tiên đều có một đặc trưng: chúng cho phép cử tri biểu lộ họ muốn bầu như thế nào, nếu ứng viên ưa thích của họ bị thất bại thì họ phải lựa chọn ứng viên khác trong số còn lại. Những hệ thống đó bao gồm Hệ thống lá phiếu thay thế (AV) và Hệ thống lá phiếu khả nhượng đơn (STV – single tranferable vote).

AV là một hệ thống đa số quyết định, được sử dụng ở những khu vực bầu cử một đại biểu, và yêu cầu ứng viên thắng cử phải giành được không chỉ số phiếu cao nhất mà còn phải là đa số tuyệt đối (trên 50% tổng số phiếu). Nếu không ứng viên nào đạt được mức tuyệt đại đa số trong vòng bầu đầu tiên, thì ứng viên có số phiếu thấp nhất trong vòng đầu sẽ bị loại và số phiếu của ứng viên đó sẽ được tái phân phối cho các ứng viên còn lại theo thứ tự ưu tiên được thể hiện trên lá phiếu. Quy trình loại bỏ liên tiếp và chuyển giao lá phiếu này tiếp diễn cho đến khi một người đạt được đa số tuyệt đối phiếu bầu xuất hiện.

Trái lại, STV là một hệ thống kiểu tỷ lệ được sử dụng ở các khu vực bầu cử nhiều đại biểu. Hệ thống này phụ thuộc vào số lượng các ứng viên được bầu trong mỗi khu vực bầu cử, cho phép các nhóm thiểu số rất nhỏ cũng có thể có đại diện. Cử tri xếp hạng các ứng viên theo thứ tự ưu tiên trên phiếu bầu tương tự như AV. Việc kiểm phiếu bắt đầu với việc xác định “hạn ngạch” phiếu bầu để một ứng viên trúng cử.6 Những ứng viên nào nhận được nhiều ưu tiên hàng đầu hơn so với hạn ngạch thì ngay lập tức trúng cử. Nếu không ai đạt được mức hạn ngạch, ứng viên nào có ít ưu tiên hàng đầu thấp nhất sẽ bị loại, và những ưu tiên hạng hai và tiếp theo của ứng viên ấy sẽ được tái phân phối cho các ứng viên còn lại trong cuộc đua. Cùng lúc đó, các lá phiếu “thặng dư” của các ứng viên được bầu (nghĩa là, số phiếu của họ vượt trên hạn ngạch) sẽ được tái phân phối với giá trị giảm bớt tương ứng với những ưu tiên thấp hơn trên phiếu bầu, cho đến khi tìm đủ các ứng viên đắc cử.

Vì chúng cho phép cử tri xếp hạng các ứng viên theo thứ tự ưu tiên nên những hệ thống đó có thể khuyến khích các chính trị gia trong các xã hội bị chia rẽ tham gia chiến dịch vận động tranh cử không chỉ để giành được những lá phiếu ưu tiên hàng đầu từ cộng đồng của họ, mà còn để giành lấy những lá phiếu ưu tiên thứ hai từ những nhóm khác nữa – do đó khuyến khích các đảng và các ứng viên hùn phiếu để vượt qua rào cản sắc tộc. Để thu hút ủng hộ ưu tiên hạng hai, các ứng viên có thể cần phải tạo dựng hình ảnh mang tính đa sắc tộc và chứng minh họ có khả năng đại diện cho các nhóm khác nữa thay vì chỉ cho nhóm của chính họ. Hoặc, ở những nơi có nhóm cử tri trung dung ôn hòa hay không mang tính sắc tộc, các ứng viên có thể tập trung vào các vấn đề chính sách để thu hút nhóm cử tri này.

Dù cách này hay cách khác, đàm phán để chuyển đổi phiếu qua lại giữa các ứng viên cạnh tranh nhau và cử tri ủng hộ của họ có thể tăng nhiều khả năng các lá phiếu sẽ chuyển từ các đảng có tính sắc tộc sang các đảng không có tính sắc tộc – do đó, khuyến khích sự hình thành và củng cố thành phần chủ chốt của khối cử tri trung dung, thậm chí ngay tại các xã hội bị chia rẽ một cách sâu sắc. Những đàm phán như vậy cũng có thể kích thích sự phát triển các liên minh đảng và hỗ trợ sự phát triển của các đảng phái đa sắc tộc, hoặc liên hiệp đảng. Các học giả càng ngày càng nhận thấy hệ thống liên hiệp đảng có thể giúp các nền dân chủ đang quá độ đạt được sự bền vững.

Cách tiếp cận quản trị xung đột rộng này được gọi tên là “chủ trương hướng tâm” (centripetalism) vì “mục đích rõ ràng là nhằm xây dựng vòng quay hướng tâm cho hệ thống chính trị – tức là lôi kéo các đảng phái hướng tới các chính sách thỏa hiệp, trung dung, và nhằm phát hiện cũng như củng cố trung tâm của một đấu trường chính trị bị chia rẽ một cách sâu sắc.”7 Một hệ thống chính trị hoặc một chiến lược hướng tâm được thiết kế nhằm tập trung cạnh tranh vào việc nắm được lực lượng cử tri trung tâm trung dung thay vì các lực lượng cực đoan, bằng cách khiến các chính trị gia có các hoạt động thực tiễn nhiều hơn là đơn thuần mua phiếu bầu trong cộng đồng của họ.

Cho nên, tôi dùng khái niệm “chủ trương hướng tâm” như một cách nói ngắn gọn cho ba hiện tượng đơn lẻ liên quan đến nhau: 1) sự cung cấp những khuyến khích bầu cử cho các ứng viên vận động tranh cử vươn ra và thu hút lá phiếu từ các nhóm sắc tộc khác, do đó khích lệ các ứng viên này có những diễn ngôn mang tính trung dung về các vấn đề có tiềm ẩn gây chia rẽ và khiến họ mở rộng lập trường chính sách của mình; 2) sự hiện diện của một không gian để mặc cả, ở đó các nhân tố chính trị từ các nhóm khác nhau có động cơ để đồng hành với nhau và đưa ra các thoả hiệp bầu cử, và sau đó có thể đi đến những vấn đề lớn hơn nữa; 3) sự phát triển của những đảng chính trị hoặc liên hiệp đảng đa sắc tộc có tính trung dung với khả năng tạo ra những hình ảnh đa sắc tộc và đưa ra những lựa chọn chính sách phức tạp và đa dạng đối với với cử tri.

NĂM TRƯỜNG HỢP

Một phê bình dành cho chủ nghĩa trương tâm khá thường thấy là nó không có đủ ví dụ thực tế để hỗ trợ cho trường hợp sử dụng bỏ phiếu ưu tiên như một cách thức quản trị xung đột trong các xã hội bị phân hóa sắc tộc8. Tuy nhiên, những năm gần đây đã chứng kiến nhiều thử nghiệm đáng chú ý trong cách sử dụng những nguyên tắc bầu cử hướng tâm để khuyến khích sự thích nghi liên sắc tộc trong các xã hội bị phân hóa đa dạng như Bắc Ireland, Estonia, Fiji, và Papua New Guinea. Những nơi khác, các nền dân chủ mới như Indonesia và Bosnia đang tích cực suy xét các hệ thống đó; và cả các nền dân chủ đã được thiết lập khá vững như Úc, Vương quốc Anh, và Hoa Kỳ, đang cho thấy sự quan tâm nhiều hơn đến tính thiết thực của bầu cử ưu tiên như một phương pháp tập hợp các lợi ích giống nhau và chống lại sự “chia rẽ bầu cử” cũng như những tác động cực đoan quá khích9. Một chủ đề hay gặp đó là thiết lập các hành vi chính trị bằng cách thay đổi động cơ mà các chính trị gia vận động tranh cử phải phản ứng lại. Những trang tiếp theo tôi sẽ khảo sát ngắn gọn về các bằng chứng đã được tổng hợp lại về vấn đề này.

Bắc Ireland. Bắc Ireland gần như chắc chắn là một điển hình mới được biết đến nhiều nhất về chủ trương hướng tâm khuyến khích sự thỏa hiệp liên cộng đồng trong một xã hội phân hóa, qua cách sử dụng Hệ thống lá phiếu ưu tiên trong cuộc bầu cử quan trọng năm 1998, được tổ chức theo thỏa thuận tiến trình hòa bình Ngày thứ sáu Tốt lành. Sau 30 năm bạo lực phe phái giữa các cộng đồng Công giáo (“người theo chủ nghĩa quốc gia”) và cộng đồng Tin Lành (“người theo chủ nghĩa liên hiệp Anh”) tại Bắc Ireland, hoà ước Ngày Thứ sáu Tốt lành vào tháng tư năm 1998 đã mang tới nhiều quy chế mới nhằm quản trị xung đột – trong số đó có quy chế chia sẻ quyền lực, được tổ chức dưới các nguyên tắc của hệ thống lá phiếu khả nhượng đơn STV, trong một Quốc hội Bắc Ireland mới. Mặc dù những cuộc bầu cử trước đó được tổ chức dưới những quy tắc tương tự năm 1973 và 1982 nhưng không có được tác dụng mong đợi, tuy nhiên năm 1998 đã có kết quả trong việc thiết lập một chính phủ “vì hoà bình” mà những người theo chủ nghĩa quốc gia và những người theo chủ nghĩa liên hiệp cùng chia sẻ quyền lực.

Việc sử dụng lá phiếu ưu tiên hỗ trợ cho tiến trình hòa bình thường theo một số cách thức. Đầu tiên, nó khuyến khích trực tiếp cho các đảng đa số ôn hòa hóa lập trường của họ với hi vọng thu hút thêm những lựa chọn ưu tiên thấp hơn trên lá phiếu từ những cử tri ôn hòa. Ví dụ, kỳ vọng thu nhận được những lựa chọn ưu tiên thấp hơn đã là động lực để đưa Sinn Fein tránh xa khỏi bạo lực và hướng đến những lập trường chính sách ít cực đoan. Động thái này nhận được sự ủng hộ của các cử tri theo thiên hướng ôn hòa – cũng như gia tăng lựa chọn ưu tiên thấp hơn cho Sinn Fein từ những đảng ôn hòa theo chủ nghĩa quốc gia. Một cách tương tự, về phía những người theo chủ nghĩa liên hiệp, STV khuyến khích những người vốn đang bỏ phiếu cho các đảng liên hiệp theo xu hướng chống lại hoà ước, chuyển lựa chọn ưu tiên thấp hơn của họ sang các đảng và ứng viên liên hiệp khác, mà nhiều trong số đó có chủ trương ủng hộ hoà ước.

Những sự chuyển phiếu này có lợi cho những nhóm trung tâm, cho phép các đảng cộng đồng theo xu hướng ủng hộ hoà ước – ví dụ như Đảng Công giáo SDLP hoặc Đảng Liên hiệp Tin Lành Ulster (UUP) và Đảng Liên hiệp Cấp tiến (PUP) – đạt được các lựa chọn ưu tiên thấp hơn từ các lực lượng khác cũng theo xu hướng ủng hộ hoà ước.  

Đảng UUP rõ ràng đã được lợi từ hệ thống bầu cử này, bởi nó đã giành được 26% ghế nghị viện với chỉ 21% số phiếu ưu tiên hàng đầu. Tiến trình này còn có lợi cho những đảng “trung lập” không theo phe phái nào như khối Liên minh và Hội liên hiệp Phụ nữ, là đảng đã nhận được các lựa chọn ưu tiên thấp hơn từ cả hai phe phái chính trị và bởi vậy nó đã có tỷ lệ đại diện trong hội đồng mới lớn hơn tỷ lệ lá phiếu tương ứng.

Những xu hướng này còn mang lại tác động có lợi lên các loại liên minh chính trị có thể được hình thành cũng như cơ cấu cuối cùng của Quốc hội mới, hơn 70% thành viên trúng cử là thuộc về những đảng theo xu hướng ủng hộ hoà ước. Thực ra, các chuyển giao phiếu bầu là thiết yếu trong việc chuyển đổi đa số cử tri theo xu hướng phản đối hoà ước thành đa số đại biểu trong Quốc hội theo xu hướng ủng hộ hoà ước. Tất nhiên, bởi Bắc Ireland có một lịch sử với nhiều biến cố đáng nhớ, điều này có thể là không đủ cho tiến trình hòa bình thành công – nhưng nó làm tăng khả năng cho hòa bình.

Estonia. Một ví dụ khác về việc sử dụng STV trong một xã hội bị phân hóa là Estonia, đất nước bị chia rẽ giữa đa số (60%) cộng đồng người nói tiếng Estonia và thiểu số (35%) cộng đồng người nói tiếng Nga. Estonia đã dùng một hệ thống bầu cử STV cho cuộc bầu cử quốc gia đầu tiên thời kỳ hậu Soviet năm 1990. Tuy nhiên, trái ngược với Bắc Ireland, phân tích về cuộc bầu cử tái dân chủ hóa “một lần duy nhất” này không nói lên được nhiều về cách mà bầu cử đa sắc tộc hoặc hùn phiếu giữa hai cộng đồng xảy ra như thế nào. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hầu hết cử tri người Nga đã bầu chủ yếu cho những đảng tự do dân chủ “người Nga”, và ưu tiên thứ yếu của họ “dành cho các ứng viên đối lập theo xu hướng đế quốc Nga thay vì những ứng viên độc lập thuộc sắc tộc Estonia. Tương tự như thế, các cử tri lựa chọn ưu tiên hàng đầu cho người Estonia sẽ tiếp tục chọn những cái tên của người Estonia cho các lựa chọn ưu tiên khác.”10 Trong khi có một vài chứng cứ cho thấy chuyển đổi phiếu bầu vượt qua ranh giới sắc tộc, đặc biệt là hỗ trợ cho các ứng viên người Estonia từ các cử tri không phải là người Estonia, không rõ liệu đây có phải là phản ứng đối với các khuyến khích bầu cử hay không.

Chưa có bằng chứng nào từ Estonia cho thấy việc sớm sử dụng STV trong thời kỳ chuyển tiếp có thể khuyến khích sự phát triển của một hệ thống đảng có sức tập hợp và đa sắc tộc – chính là tác nhân cốt yếu trong quản trị xung đột ở những xã hội bị chia rẽ. Một vài phân tích chỉ ra rằng sự kết hợp của kết quả có tính tỷ lệ và sự tranh cử của các ứng viên độc lập (thay vì theo các nhóm) trong hệ thống STV đã thúc đẩy các hệ thống đảng có cơ sở rộng ở Estonia, và giới hạn động cơ của các đảng chính trị được hình thành chỉ giới hạn trong vấn đề sắc tộc.11 Các nghiên cứu so sánh khác về lựa chọn hệ thống bầu cử ở Đông Âu đã kết luận rằng những chiến thuật tối ưu để xây dựng hệ thống bầu cử trong các xã hội bị chia rẽ nên cố gắng đại diện một cách công bằng cho các nhóm trong khi thúc đẩy bầu cử trên nền tảng của ứng viên (hơn là nền tảng của nhóm đảng phái) – và vì thế mà STV có thể là “thủ thuật cơ chế” nhằm giảm thiểu các xung đột sắc tộc bị chính trị hóa trong các nền dân chủ mới.12

Nếu STV được duy trì trên cơ sở đang phát triển ở Estonia, thì dễ biến những chiến thuật bầu cử trở nên phức tạp, bởi các chính trị gia đã có thể nghiên cứu về hệ thống bầu cử này và những hiệu ứng của nó. Nhưng điều này không đồng nghĩa với việc năm 1992, nghị viện mới bỏ STV và áp dụng một biến thể của đại diện tỉ lệ theo danh sách (list-PR) sau khi một số đảng dẫn đầu tính toán rằng những thay đổi đó có thể giúp họ. Do đó, hiệu ứng chính trị của STV lên nền chính trị Estonia rất khó đánh giá, bởi điều kiện chính trị thay đổi nhanh chóng và cách mà nó được áp dụng như một thỏa hiệp chính trị và sau đó lại bị loại bỏ vì những lý do tương tự. Rein Taagepera chỉ ra hai bài học chính: Đầu tiên, ngay cả một quốc gia với kinh nghiệm còn hạn chế trong bầu cử tự do như Estonia cũng không hề gặp trục trặc với lá phiếu STV khá phức tạp, và thứ hai, “với bất cứ nguyên tắc bầu cử nào được áp dụng, hãy tiếp tục áp dụng chúng ít nhất cho hai cuộc bầu cử trước khi bước vào trò chơi chắp vá”13.

Úc. Một trong những ví dụ thú vị nhất trong việc sử dụng lá phiếu ưu tiên để đẩy lùi chủ nghĩa cực đoan trong chính trị đến từ sự sắp đặt ngoài mong đợi của Úc, một trong số những nền dân chủ vững chắc nhất thế giới. Mặc dù không bị phân hóa xã hội, Úc có một cơ cấu dân số vô cùng đa dạng, với gần 40% là người nhập cư và con cái của họ, nhiều người trong số đó đến từ những nước không nói tiếng Anh ở Nam Âu, Trung Đông, và châu Á. Các hệ thống lá phiếu ưu tiên được sử dụng để bầu ra toàn bộ bộ máy cai trị của Úc dưới dạng hệ thống AV một đại biểu đối với hạ viện và hệ thống STV tỷ lệ đối với thượng viện. Qua nhiều năm, bầu cử ưu tiên giúp thúc đẩy hệ thống chính trị Úc tránh xa chủ nghĩa cực đoan và theo hướng trung lập ôn hòa, thậm chí còn đảm bảo cho quá trình bầu cử chính phủ có được hỗ trợ từ đa số trong nhiều trường hợp. Nó còn cho phép các đảng phát triển thỏa thuận quan hệ đối tác – với thỏa thuận liên minh lâu dài giữa các đảng Tự do bảo thủ và các đảng Quốc gia – đây là ví dụ nổi bật nhất nhưng không phải là ví dụ duy nhất. Trong những năm gần đây, một đảng đa số khác, Đảng Lao động Úc, cũng được hưởng lợi từ dòng chảy của các lựa chọn ưu tiên từ những đảng thiểu số còn lại như Đảng Xanh và Đảng Dân chủ Úc14.

Trong hầu hết các trường hợp, hiệu ứng của các chuyển đổi phiếu bầu đó là tập hợp những mối quan tâm chung về phía Đảng Lao Động hoặc phía Đảng Bảo Thủ thay vì sắp xếp các mối quan tâm đó theo hướng chống lại một đối thủ chung. Tuy nhiên, một ngoại lệ sinh động cho nguyên tắc này đã xảy ra trong bầu cử liên bang năm 1998, do quyền lực gia tăng của Pauline Hanson và đảng Một Quốc gia của bà. Đảng Một Quốc gia là một phiên bản Úc rõ rệt của các đảng dân túy cánh hữu phân biệt chủng tộc đã xuất hiện ở nhiều nước châu Âu trong suốt những năm 1990. Trong cuộc bầu cử đầu tiên vào Hạ viện Úc năm 1996, Hanson tham gia chiến dịch tranh cử trên nền tảng chấm dứt sự nhập cư, loại bỏ những lợi ích và trợ cấp cho người bản địa và những nhóm người thiệt thòi khác, quyết liệt cắt giảm thuế, tăng thuế xuất nhập khẩu, cắt giảm viện trợ cho nước ngoài, và rút khỏi các cơ quan quốc tế chẳng hạn như Liên Hợp Quốc.

Theo dõi một giai đoạn kéo dài hơn bình thường của tiêu điểm truyền thông quốc gia và quốc tế, các đảng lớn của Úc hợp lực để quyết định loại bỏ những thứ họ cho là những bất thường và gây nguy hiểm trong hệ thống chính trị. Một cách hiệu quả để làm việc này là gợi nhắc cho những người ủng hộ của họ về sự sắp xếp cụ thể các thứ tự ưu tiên thấp hơn trên lá phiếu. Trong cuộc bầu cử năm 1998 tại quận Queensland của Hanson, cả các đảng đa số cũng chỉ dẫn cho những người ủng hộ của họ xếp hạng Pauline Hanson cuối cùng khi viết phiếu bầu (tương phản với chiến thuật quen thuộc hơn là gợi ý xếp hạng đối thủ đảng đa số xuống cuối cùng).

Kết quả của cuộc bầu cử này là một bài học có tính chỉ dẫn cho sự vận dụng những nguyên tắc AV để đánh bại ứng viên cực đoan, người nắm một lượng cử tri trung thành đáng kể, nhưng rốt cuộc lại đẩy cử tri đi nhiều hơn là thu hút họ. Cụ thể, trong một khu vực bầu cử có chín ứng viên, Hanson đã giành được con số ưu tiên hàng đầu cao nhất – 36% – nhưng nhận được rất ít chuyển giao ưu tiên thấp hơn. Theo kết quả kiểm phiếu, hầu như ba phần tư lựa chọn ưu tiên mà các ứng viên Đảng Lao động có được đã được chuyển sang cho Đảng Tự do, là đảng chiến thắng với 53,4% trên tổng số phiếu bầu (tức là bao gồm tất cả lựa chọn ưu tiên đã được phân phối), mặc dù họ chỉ thu được lựa chọn ưu tiên hàng đầu nhiều thứ ba mà thôi. Kết quả này đã được nhắc lại trong bối cảnh ít kịch tính hơn tại các khu vực bầu cử khác trên cả nước, cho thấy Đảng Một Quốc gia bị loại bỏ trên diện rộng khỏi chính trị liên bang (dù họ có giành được một ghế tại Thượng viện). Ngược lại, dưới Hệ thống đa số tương đối, Hanson có thể đã hầu như đánh bại một vùng bị chia rẽ với nhiều ứng viên ôn hòa và giành được một ghế ở nghị viện liên bang. Do đó, ví dụ này ở Úc đã chứng minh một hình thức quản trị xung đột: khả năng của AV trong việc khuyến khích các lợi ích trung tâm và những chiến thuật chính trị theo đường hướng ôn hòa hướng tâm trong một tình trạng xã hội tiềm ẩn nhiều bất đồng và chia rẽ.

Fiji. Một trong những nỗ lực toàn diện để xây dựng bầu cử sử dụng cách tiếp cận ôn hòa đã được Fiji thực hiện, một quốc đảo phía Bắc Thái Bình Dương với khoảng 750.000 dân, phân chia rất đều giữa người bản địa và người Fiji gốc Ấn. Dân số Fiji bản địa là sự pha trộn của các nhóm người Melanesian và Polynesian phân bố khắp các đảo Thái Bình Dương, trong khi công dân Fiji gốc Ấn chủ yếu là hậu duệ của những lao động đến từ nam Ấn Độ để làm việc cho những đồn điền mía vào thế kỷ 19 dưới thời thuộc địa Anh. Xã hội người Fiji từ lâu đã là sự chung sống không mấy dễ dàng của hai cộng đồng người này, với những người Fiji gốc Ấn chiếm ưu thế vượt trội ở những vùng kinh tế trọng yếu (đặc biệt là công nghiệp mía đường) và những người Fiji bản địa sở hữu 90% đất đai nhưng chỉ có quyền lực kinh tế rất hạn chế.

Năm 1997, mười năm sau hai cuộc đảo chính quân sự đã lật đổ chính phủ hợp pháp, mà được xem như có quan hệ gần gũi với cộng đồng Ấn Độ –  và đối mặt với kinh tế đình trệ, gia tăng dân nhập cư gốc Ấn, và tăng cường áp lực quốc tế – thì một bản hiến pháp chia sẻ quyền lực mới được ban hành với nỗ lực thúc đẩy Fiji, “chậm nhưng chắc”, tới một nền chính trị đa sắc tộc. Fiji lựa chọn một gói cải tiến bao gồm các sắp xếp bầu cử và chia sẻ quyền lực được thiết kế nhằm khích lệ sự phát triển của cạnh tranh chính trị mở và đa sắc tộc, bao gồm hệ thống bầu cử AV. Bằng việc khiến các chính trị gia ở một nhóm phải trông chờ vào lá phiếu của các nhóm khác để trúng cử, AV có thể thúc đẩy mức độ hùn phiếu giữa (và trong) những cộng đồng người Fiji gốc Ấn và người Fiji bản địa vốn bị chia rẽ sâu sắc.15

Cuộc bầu cử nghị viện Fiji năm 1999, lần đầu tiên được tổ chức dưới nền hiến pháp mới, đã cung cấp một bài kiểm tra thực nghiệm cho hệ thống bầu cử mới. Những dấu hiệu ban đầu rất đáng khích lệ: các đảng chính trị từ cả hai phe sắc tộc đã phản ứng với động lực thay đổi bằng việc tạo lập các liên minh trước bầu cử. Điều này có nghĩa là cuộc bầu cử đã trở thành chiến trường một cách hiệu quả giữa hai liên minh đa sắc tộc lớn chứ không phải giữa những đảng một sắc tộc như trong quá khứ. Các đảng đại diện cho quyền lợi của ba nhóm cử tri sắc tộc của Fiji – những cử tri Fiji bản địa, những cử tri Fiji gốc Ấn, và những cử tri “thông thường” (người châu Âu, người Trung Quốc, và các nhóm thiểu số khác) – là nòng cốt ở cả hai liên minh này. Bởi những trao đổi lựa chọn ưu tiên giữa các sắc tộc khác nhau củng cố thêm cho cả hai liên minh các luật lệ mới, đồng thời còn mở ra sự phát triển của một chính trường mới để mặc cả, khiến các đối thủ cũ vượt qua những chia rẽ sắc tộc, khích lệ một mức độ giao tiếp đa văn hoá, vốn đã biến mất một cách rõ rệt trong các cuộc bầu cử trước đó.16

Ngay trong chính cuộc bầu cử, một sự tín nhiệm mạnh mẽ ngoài mong đợi cho Đảng Lao động Fiji, kết hợp với những tín nhiệm rời rạc của người thổ dân gốc Fiji, tạo ra một chiến thắng gây kinh ngạc cho một trong những nhóm này, Liên minh Nhân dân. Do đó, Mahendra Chaudhry, lãnh đạo Đảng Lao động, đã trở thành Thủ thướng Fiji gốc Indo đầu tiên. Đảng Lao động hoạt động rộng khắp trên nền tảng đa sắc tộc, đa tầng lớp và là đảng duy nhất giành được số phiếu lớntrải rộng từ cả vùng nông thôn đến đô thị, dù cho nó thực hiện kém trong cuộc cạnh tranh ghế tại các cộng đồng của Fiji.

Tuy nhiên, một số đảng khác có vẻ không dễ chịu gì dưới bàn tay của hệ thống mới được thành lập này, dẫn đến hình thành một Quốc hội không công bằng với sự thống trị của Đảng Lao Động và liên minh của nó. Sự không hài lòng của nhiều người thổ dân Fiji với sự hiện diện của một thủ tướng Fiji gốc Indo tiếp tục sục sôi, và sự ủng hộ các quyền của người Fiji gốc Ấn được thể hiện một cách thẳng thắn của Chaudhy, đã khoét sâu thêm sự mất lòng tin lên vấn đề quan trọng như sở hữu đất của chính phủ. Vào tháng 5 năm 2000, chính xác một năm sau cuộc bầu cử năm 1999, một nhóm có vũ trang được lãnh đạo bởi một doanh nhân thất bại người Fiji lai là Geogre Speight đã làm nổ tòa nhà nghị viện và bắt các thành viên chính phủ mới làm con tin, đòi khôi phục quyền lực tối cao cho người Fiji bản địa trong hệ thống chính trị. Ngay khi các con tin được thả ra và Speight cùng những người ủng hộ hắn bị bắt giữ, Fiji đã quay lại với thiết quân luật.

Tuy nhiên, tháng Tám năm 2001, Fiji trở lại với hình thức bầu cử theo các đơn vị bầu cử như năm 1997. Một lần nữa, chiến dịch bầu cử là cuộc cạnh tranh của hai liên minh rộng lớn – lần này là những người ôn hòa và những người bảo thủ. Cuộc bầu cử này được tổ chức dưới hệ thống bầu cử AV, có kết quả khác hoàn toàn, với chính phủ đương nhiệm của tân Thủ tướng Laisenia Qarase – người Fiji bản địa – được quân đội hỗ trợ.

Như ghi chép lịch sử không chắc chắn ở trên cho thấy, lá phiếu ưu tiên đã có một sự thành công không trọn vẹn trong việc kích thích mục tiêu cốt lõi của một nền chính trị đa sắc tộc mang tính ôn hòa ở Fiji. Ở khía cạnh tích cực, những cơ hội mới cho phép đàm phán giữa tầng lớp tinh hoa với nhau và sự hùn phiếu đa sắc tộc đã bị lợi dụng bởi những kẻ tinh hoa trong các đảng phái từ cả hai cộng đồng. Trong sự kết hợp với những kỳ vọng về chỗ trên bàn chia sẻ quyền lực, điều này xoa dịu đáng kể sự khoa trương của chiến dịch tranh cử năm 1999. Nhưng kết quả của bầu cử năm 1999 rất không tương xứng, với Đảng Lao động Fiji chiếm ưu thế lớn. Tuy nhiên, trong cuộc bầu cử năm 2001, những sự thiếu cân bằng này đã có dấu hiệu giảm đi, nhưng đồng thời cũng thiếu đi các hành vi chính trị đa sắc tộc. Tổng thể, khúc dạo đầu của lá phiếu ưu tiên đóng vai trò khiêm tốn nhưng có nhiều ý nghĩa trong việc thay đổi những thói quen cũ từ nền chính trị đơn sắc tộc ở Fiji. Có thể nó sẽ thúc đẩy nền chính trị đa sắc tộc trong tương lai để chúng ta cùng chứng kiến.

Papua New Guinea. Một quốc gia Thái Bình Dương khác, Papua New Ginea, có thể cho thấy một trường hợp thuyết phục nhất về sử dụng bầu cử ưu tiên như một phương pháp quản trị xung đột trong xã hội bị chia rẽ sắc tộc. Papua New Guinea là một quốc gia có phân hóa sắc tộc đặc biệt, với khoảng 840 ngôn ngữ được sử dụng bởi vài nghìn “xã hội thu nhỏ” cạnh tranh gay gắt với nhau, cho thấy sự phân hóa sắc tộc, văn hóa và vùng miền rất lớn. Thực ra, những ngôn ngữ được 5,1 triệu người Papua New Guinea sử dụng còn nhiều hơn tất cả số lượng ngôn ngữ các nước châu Phi sử dụng cộng lại. Bất chấp xã hội bị phân hóa đến kinh ngạc, Papua New Geinea có một lịch sử dân chủ liên tục dài nhất trong thế giới các quốc gia đang phát triển, và đã duy trì một hình thức cho phép tỉ lệ cạnh tranh và tham gia cao trong chính quyền dân chủ từ năm 1964.17

Xét về những hệ thống bầu cử, ba cuộc bầu cử đầu tiên của Papua New Guinea năm 1964, 1968 và 1972 được diễn ra theo những quy tắc lá phiếu thay thế (AV) thừa hưởng từ Úc, mẫu quốc của họ, cho đến khi giành được độc lập năm 1975. Những nguyên tắc này đã được thay thế ngay khi Papua New Guinea giành được độc lập bởi một hệ thống “đa số tương đối” – một bước đi có hiệu quả cho hệ thống chính trị mới hình thành.

Về bản chất, chính trị của Papua New Guinea chịu tác động mạnh mẽ bởi sự phân hóa sẵn có của xã hội theo truyền thống, bao gồm hàng nghìn “thị tộc” cạnh tranh nhau – mở rộng phạm vi gia đình – thiết lập một (và đôi khi là duy nhất) đơn vị chính yếu của lòng trung thành chính trị. Cạnh tranh bầu cử tập trung chủ yếu vào việc huy động các nhóm thị tộc bộ lạc, chứ không phải xoay quanh các vấn đề chính sách công hay học thuyết, và do đó thường có hiệu ứng củng cố tầm quan trọng trong gắn kết sắc tộc và thị tộc cơ sở. Từ khi độc lập, các cuộc bầu cử còn khuyến khích sự “quay về với bộ lạc” của các nhóm sắc tộc mà tại đó tầm quan trọng kinh tế của việc đạt được vị thế chính trị đã dẫn tới các ranh giới nhóm ngày càng cứng nhắc và xung đột vũ trang giữa các nhóm sắc tộc bắt đầu gia tăng nhanh chóng.18 Do đó bầu cử là một trong những cách chính mà thông qua đó những hận thù truyền thống được huy động và sử dụng nhằm đạt được mục đích chính trị ở Papua New Guinea đương thời.

Đây là trường hợp tồn tại trong cả hệ thống AV và “đa số tương đối”, và tình trạng này vẫn kéo dài tới ngày nay. Sự khác biệt của các cuộc bầu cử trước khi giành độc lập được tổ chức theo nguyên tắc AV đó là các hệ thống bầu cử này khuyến khích hùn phiếu, hợp tác, và thỏa hiệp giữa nhiều nhóm bộ lạc nhỏ, hơn là cạnh tranh vũ lực như nhiều thập kỷ trước. Hùn phiếu trong các cuộc bầu cử trước khi độc lập diễn ra dưới ba hình thức chính, tất cả đều được xác nhận trong giả định rằng phần lớn các cử tri lúc nào cũng dành ưu tiên hàng đầu cho ứng viên của bộ lạc hoặc “địa phương” họ. Cách thức thông thường và thành công nhất dành cho các ứng viên, mà có sự hỗ trợ hạn chế từ bộ lạc mình, đó là ra tranh cử rộng rãi nhằm giành lựa chọn ưu tiên thứ hai giữa những nhóm cạnh tranh. Để chiến thuật này thành công, các ứng viên cần phải có khả năng “quảng bá bản thân” như một sự lựa chọn thứ hai tốt nhất – có nghĩa là, về cơ bản, ứng viên đó cần quan tâm một cách công bằng tới tất cả các nhóm – và vận động tranh cử giành lựa chọn ưu tiên thứ hai nhiều không kém vận động tranh cử cho vị trí ưu tiên hàng đầu. Chiến thuật thứ hai dành cho các ứng viên với những nền tảng hỗ trợ quan trọng đang có là tham gia các liên minh để nhận được những ủng hộ hạng hai. Những mối liên hệ và lòng trung thành với thị tộc theo truyền thống có thể được tận dụng để tạo ra các ứng viên chiến thắng với đa số. Chiến thuật thứ ba, trở nên phổ biến hơn từ khi giành độc lập, là các nhóm và các ứng viên thiết lập liên minh chung, đôi khi cùng tham gia chiến dịch tranh cử và thuyết phục cử tri bỏ phiếu ưu tiên tương hỗ. Không chỉ những liên minh này là sản phẩm từ tác động khích lệ của AV cho việc vận động tranh cử trong một nền tảng chung, chúng còn có vẻ như thúc đẩy quá trình tổ chức chính trị và do đó chúng có thể được xem như là những tiền đề cho sự thành lập các đảng chính trị.

Tất cả những khuôn mẫu này biến mất năm 1975 khi bầu cử ưu tiên, được coi là một sự áp đặt từ chế độ thuộc địa của Úc, được thay thế bằng hệ thống “đa số tương đối”. Khi không có động lực hợp tác, hầu hết các cuộc bầu cử đều trở thành những cuộc thi vô nghĩa giữa các nhóm thị tộc đầy thù hận. Đa số ghế được tranh chấp bởi điểm số của các ứng viên được chống lưng bởi các thị tộc, kết quả là những người chiến thắng đều được bầu bằng rất ít phần trăm lá phiếu. Trong cuộc bầu cử mới đây nhất năm 1997, trên một nửa số ghế của quốc hội chỉ tương ứng với ít hơn 20% lá phiếu, và 15% số ghế tương ứng với ít hơn 10% lá phiếu. Những nhân tố liên quan của bạo lực bầu cử và “chia rẽ bầu cử” – những ứng viên thân thiện với hi vọng nhỏ giành được ghế để “chia rẽ” một phiếu bầu đối thủ – đã trở thành một vấn đề dưới hệ thống “đa số tương đối”. Dưới hệ thống AV, những ứng viên chiến thắng trong nhiều khu bầu cử là những người đã chuyên tâm tìm hiểu ưu tiên của các cử tri bên ngoài khu bầu cử của họ. Ngày nay, những sự mở rộng ra bên ngoài mạng lưới như thế hầu như vẫn là điều phi thường với nhiều vùng của Papua New Guinea, bởi những rủi ro về tính mạng từ việc tranh cử trong một vùng đất thù địch có khuynh hướng phủ bóng đen lên những khả năng (nhỏ nhoi) trong việc nhận được một con số đáng kể lá phiếu ở đây.19

Không ngạc nhiên khi tình trạng này đã kích thích một sức đẩy mạnh cho việc trở lại của hệ thống bầu cử AV trước thời độc lập. Tháng Một năm 2002, nối tiếp một vài nỗ lực thất bại, nghị viện Papua New Guinea đã bỏ phiếu dứt khoát để trở lại với mô hình bầu cử ưu tiên “có giới hạn” cho các cuộc bầu cử sau 2002, với ba mức ưu tiên dành cho mỗi lá phiếu của cử tri. Trong các chuyển biến nhằm củng cố quyền lực chính phủ, loại bỏ tham nhũng trong nền chính trị, và đẩy mạnh sự phát triển của các đảng chính trị, động thái này được coi là một phần của nỗ lực chấm dứt cuối cùng để thay đổi hoàn toàn nền dân chủ sôi nổi nhưng không vững chắc đã lâu năm tại Papua New Guinea. Tuy nhiên, lợi ích chính của cải cách hệ thống bầu cử là có khả năng làm thay đổi hành vi bầu cử và làm giảm xung đột cũng như bạo lực thị tộc ở cấp độ địa phương.

ĐÁNH GIÁ CÁC BẰNG CHỨNG

Tất cả những trường hợp này cho chúng ta bằng chứng thực tiễn quan trọng để đánh giá những nhận định cho rằng các hệ thống bầu cử ưu tiên có thể, dưới những hoàn cảnh nhất định, thúc đẩy hợp tác giữa các nhóm cạnh tranh trong các xã hội bị chia rẽ. Điều này tự nó là một kết luận quan trọng, với cương vị như những chỉ trích thường thấy về thuyết hướng tâm nói chung, và đặc biệt là trường hợp bầu cử ưu tiên, có quá ít ví dụ thực tế để có thể quan sát. Tuy nhiên, dường như những thiết kế thể chế tương tự còn có những ảnh hưởng khác một cách rõ ràng lên các quốc gia khác nhau. Ở Bắc Ireland chẳng hạn, rõ ràng là các chuyển giao phiếu bầu đã giúp cho tiến trình ôn hòa diễn ra thuận lợi trong cuộc bầu cử năm 1998. Nhưng bằng chứng từ các cuộc bầu cử được tổ chức theo các nguyên tắc tương tự vào năm 1973 hoặc 1982 – hoặc, cuộc bầu cử của Estonia năm 1990 – thì khá nhập nhằng. Tương tự, kinh nghiệm của Papua New Guinea với AV trong bầu cử những năm 1960 và 1970 đã thành công đáng kể hơn so với những nước láng giềng, Fiji, mới đây hơn. Tại sao?

Sự xuất hiện của một nhóm chủ chốt theo xu hướng trung dung bao gồm các nhà lãnh đạo chính trị và cả các cử tri, đã mang đến điều kiện thuận lợi. Chiến thuật hướng tâm để quản trị xung đột giả định rằng việc có đủ quan điểm ôn hoà trong một cộng đồng để bầu cử đa sắc tộc là khả thi. Trong vài trường hợp, sự xuất hiện của cơ chế hùn phiếu có thể thúc đẩy sự phát triển nhóm chủ chốt trung dung này thông quan tương tác bên trong tầng lớp tinh hoa trong các cuộc thương lượng. Nhưng không thể tạo ra sự ôn hòa ở nơi nó không tồn tại. Có thể nhân tố chủ yếu của thất bại hay thành công của chủ nghĩa hướng tâm ở Bắc Ireland là sự thiếu vắng của nhân tố ôn hòa trong các cuộc bầu cử trước và sự xuất hiện rõ ràng của nó trong cuộc bầu cử năm 1998. Điều này được phản ánh một phần qua sự việc trong cuộc bầu cử năm 1998, rất nhiều phiếu bầu đã được chuyển giao từ các đảng bè phái sang các đảng “trung lập” không theo bè phái hơn là vượt qua vấn đề chia rẽ sắc tộc.

Lập luận cho rằng các nguyên tắc bầu cử theo kiểu lá phiếu ưu tiên khích lệ sự trung dung dựa trên giả định rằng các chính trị gia là những nhân tố có lý trí, tức họ sẽ làm những điều cần thiết để đạt được phiếu bầu. Tuy nhiên dưới những dạng khác nhau của các nguyên tắc bầu cử ưu tiên, “những việc cần phải làm” biến đổi thiên hình vạn trạng, tùy thuộc vào thể thức bầu cử và thành phần xã hội trong khu bầu cử. Ví dụ, nếu các ứng viên tin tưởng vào việc giành được đại đa số ủng hộ hoặc đạt được định mức hạn ngạch của những ưu tiên hàng đầu, họ chỉ cần tập trung vào việc tối đa hóa phiếu bầu nhận được từ những người ủng hộ họ, để giành được ghế. Tuy nhiên trong trường hợp mà không ứng viên nào đạt được ủng hộ của đa số, vai trò của các lựa chọn ưu tiên thứ hai hoặc sau đó, trở thành quyết định để giành được một ủng hộ đa số. Do đó vài học giả như Horowitz ưa thích những thể thức đa số quyết định của bầu cử ưu tiên như AV hơn so với biến thể tỷ lệ STV, bởi vì mức ngưỡng của AV cho việc giành được chiến thắng ngay lập tức thì cao hơn. Thêm nữa, trường hợp “hùn phiếu” của Horowitz dựa trên triển vọng của bầu cử đa sắc tộc – đó là, giả định rằng ngay cả trong những xã hội bị phân hóa sâu sắc, vài cử tri vẫn sẵn sàng bỏ phiếu, dù là chỉ những phiếu hạng thấp hơn, cho những thành viên của nhóm sắc tộc khác. Tuy nhiên, ở Bắc Ireland, trong khi các chuyển giao phiếu bầu đóng vai trò quan trọng trong đẩy mạnh các thỏa hiệp, chúng còn dịch chuyển chủ yếu từ các đảng không thỏa hiệp sang các đảng có thỏa hiệp trong cùng một phe, hoặc từ các bè phái sang các đảng “trung lập” không bè phái, hơn là vượt qua sự phân chia cộng đồng giữa những người theo chủ nghĩa liên hiệp và những người theo chủ nghĩa quốc gia.

Thứ hai, sự liên tục của kinh nghiệm có vẻ như là một biến số quan trọng. Bằng chứng chỉ ra rằng những cuộc bầu cử liên tiếp được tổ chức với cùng quy tắc đã khích lệ tiến trình học hỏi chính trị dần dần. Những khuyến khích một cách hệ thống cần được duy trì liên tục qua vài cuộc bầu cử trước khi các hiệu ứng của bất kỳ một tập hợp các nguyên tắc bầu cử nào được phán xét – đặc biệt với hệ thống lá phiếu ưu tiên, nơi mà các thói quen thoả thuận và trao đổi ưu tiên của các chính trị gia, và sự hiểu biết của các cử tri về các cách thức này, cần thời gian để thành hình. Trong hai trường hợp các nước sử dụng bầu cử ưu tiên lâu nhất như Úc và Ireland, mất nhiều năm để toàn bộ tiềm năng chiến thuật của chuyển giao lá phiếu trở nên rõ ràng với các chính trị gia và cử tri (thực tế, tỷ lệ của trao đổi ưu tiên trong các cuộc bầu cử ở Úc đã tăng đều đặn những thập kỷ gần đây), trong khi hệ thống ưu tiên của Estonia có thể đoản mệnh vì các cử tri và chính trị gia không bao giờ thích ứng được với nó.

Thứ ba, bối cảnh xã hội mà ở đó các cuộc bầu cử được tổ chức đóng vai trò rất quan trọng. Các quốc gia như Bắc Ireland và Estonia với sự phân hoá lưỡng cực giữa hai nhóm sắc tộc lớn và tương đối thống nhất, cả hai nhóm này đều được đảm bảo tính đại diện một cách hiệu quả dưới các nguyên tắc bầu cử tỉ lệ của hệ thống STV. Tuy nhiên, trong năm 1998, Bắc Ireland còn có một nhóm thứ ba: nhóm trung lập, những đảng không theo bè phái và không có ranh giới rõ ràng với các cộng đồng khác. Bằng việc thúc đẩy đại diện của nhóm này, STV nâng kết quả lên cao hơn so với AV hay những hệ thống khác, hay hệ thống đại diện tỉ lệ theo danh sách (list-PR). Tuy nhiên trong những trường hợp khác, khi có tính hỗn tạp sắc tộc lớn hơn hoặc có nhiều trung tâm phi sắc tộc nhỏ hơn, STV có thể không vận hành hiệu quả – thực ra, nó không vận hành hiệu quả trong các cuộc bầu cử trước đây của Bắc Ireland. Tất cả những điều này cho thấy rằng một thành phần chủ chốt của một phương thức thiết lập hệ thống bầu cử phải là một sự hiểu biết tường tận về các điều kiện dân số và xã hội đang thắng thế – đặc biệt là kích cỡ, số lượng và sự phân tán của các nhóm sắc tộc.

Sự quan trọng của cơ cấu nhân khẩu sắc tộc (ethnic democraphy) được nhấn mạnh trong trường hợp của Fiji và Papua New Guinea. Ở Fiji, phần lớn những khu vực bầu cử mở – vốn được thiết kế nhằm tổng hợp một tỷ lệ hợp lý các thành viên của cả hai cộng đồng chính – thì được phân định theo kiểu trở thành khu cát cứ của mỗi nhóm sắc tộc. Do đó, những cơ hội thật sự để hợp tác liên sắc tộc ở cấp độ đơn vị bầu cử là khá hiếm hoi, và phần lớn các cuộc cạnh tranh không mang lại bất cứ một cơ hội nào cho các chiến dịch vận động tranh cử, lời kêu gọi, hoặc kết quả bầu cử có tính đa sắc tộc. Thực ra, chỉ có sáu ghế là có tính cạnh tranh thực sự giữa các nhóm sắc tộc trong bầu cử năm 1999, trong khi đó phần ghế còn lại rõ ràng là những thắng thế của đa số người gốc Ấn và người Fiji bản địa.21

Hãy đối chiếu điều này với tình huống ở Papua New Guinea, nơi mà sự phân hóa cực độ truyền thống xã hội, nghĩa là phần đông các khu vực bầu cử bao gồm hàng tá các chính thể bộ lạc nhỏ. Để trúng cử dưới hệ thống ưu tiên đa số như AV, các ứng viên không có sự lựa chọn nào ngoài tích lũy phiếu bầu của cả các nhóm khác ngoài nhóm của họ. Dưới những điều kiện đó, các ứng viên có động lực mạnh mẽ để hành động thích nghi với những nhóm khác có hận thù. Không có gì phải ngạc nhiên, bạo lực bầu cử ít hơn rất nhiều dưới hệ thống AV, so với hệ thống đa số tương đối gần đây, một hệ thống thiếu những khuyến khích như vậy.

Những trường hợp này gợi nhắc cho chúng ta rằng các xã hội bị chia rẽ, giống như những gia đình bất hạnh trong tiểu thuyết của Tolstoy, thường có xu hướng bị chia rẽ theo nhiều cách khác nhau. Thế mà, thật đáng ngạc nhiên, có rất nhiều các hệ thống quản trị xung đột “vạn năng” (“one-size-fit-all”) được đề xuất cho các xã hội bị phân hóa mà không có đủ hiểu biết về cấu trúc tự thân của xã hội. Những điểm khác nhau trong cơ cấu nhân khẩu sắc tộc cần được đáp ứng bởi những điểm khác nhau trong các thiết kế đơn vị bầu cử qua các vùng miền khác nhau. Những cộng đồng thiểu số châu Phi, chẳng hạn, tập trung trong những vùng địa lý kề giáp nhau hơn là những cộng đồng thiểu số trong những vùng khác, khiến việc tạo lập khu bầu cử thống nhất về sắc tộc rất khó22. Đối chiếu điều này với các khuôn mẫu hỗn tạp cao của sự hòa giải sắc tộc ở nhiều vùng châu Âu (vùng Baltic), châu Á (Ấn Độ, Singapore, Malaysia), và vùng Caribbean (Guyana, Suriname, Trinidad và Tobago), trong đó thành viên của nhiều nhóm sắc tộc có xu hướng có nhiều liên hệ thường nhật với các nhóm khác. Trong những bối cảnh này, các khu vực bầu cử thường có xu hướng thống nhất về sắc tộc, và những định danh sắc tộc sẽ thường được xoa dịu bởi những khác biệt ngoài sắc tộc, vậy nên những thiết kế hướng tâm khuyến khích các đảng tìm kiếm hỗ trợ của các nhóm sắc tộc đa dạng có thể đánh bại sự đối kháng sắc tộc và đẩy mạnh sự phát triển của các đảng đa sắc tộc lớn. Những chi tiết không mấy thơ mộng này có thể định đoạt sự thành công của phương pháp ôn hòa với kiểm soát xung đột sắc tộc.

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Nguyễn Thế Anh và Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

 

CHÚ THÍCH

  1. Để tìm những tranh luận có chất lượng về tương tác giữa tính cách sắc tộc và nền chính trị có bầu cử, hãy tìm đọc Donald L. Horowitz, Ethnis Groups in Conflict (Berkeley: University of California Press, 1985); Larry Diamond and Marc F. Plattner, eds., Nationalism, Ethnic Conflict, and Democracy (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1994); and Timothy D. Sisk, Power Sharing and International Mediation in Ethnic Con-flicts (Washington, D.C.: U.S. Institute of Peace Press, 1996).
  2. Ví dụ tìm trong Arend Lijphart, Democracy in Plural Societies: A Com-parative Exploration (New Haven: Yale University Press, 1977); Donald L. Horowitz, A Democratic South Africa? Constitutional Engineering in a Divided Society (Berkeley: University of California Press, 1991); Giovanni Sartori, Com-parative Constitutional Engineering: An Inquiry into Structures, Incentives and Outcomes (London: Macmillan, 1994); and Benjamin Reilly and Andrew Reynolds, Electoral Systems and Conflict in Divided Societies (Washington, D.C.: NationalResearch Council, 1999).
  3. Đọc Arend Lijphart, Democracy in Plural Societies; and Timothy D. Sisk, Power Sharing and International Mediation in Ethnic Conflicts, 27–45. Đọc cả Donald L. Horowitz, “Making Moderation Pay: The Comparative Politics of Ethnic Conflict Management”, trong Joseph V. Montville, ed., Conflict and Peacemaking in Multiethnic Societies (New York: Lexington Books, 1991), 451–76.
  4. Arend Lijphart, “Electoral Systems, Party Systems and Conflict Management in Segmented Societies”, in R.A. Schrire, ed., Critical Choices for South Africa: An Agenda for the 1990s (Cape Town: Oxford University Press, 1990), 10–13.
  5. Đọc Donald L. Horowitz, Ethnic Groups in Conflict; and Donald L. Horowitz, “Making Moderation Pay”.
  6. Thể thức được sử dụng để phân chia tất cả số phiếu kiểm đếm là một phiếu nhiều hơn số ghế để trúng cử, và sau đó thêm một vào kết quả. Ví dụ, nếu có 6.000 lá phiếu và có 5 thành viên trúng cử thì hạn ngạch trúng cử là 6.000/(5+1) + 1 hoặc 1.001 phiếu.
  7. Timothy D. Sisk, Democratization in South Africa: The Elusive Social Con-tract (Princeton: Princeton University Press, 1995), 19.
  8. Đọc Timothy D. Sisk, Power Sharing and International Mediation in Ethnic Conflicts, 44, 62; và Arend Lijphart, “The Alternative Vote: A Realistic Alterna-tive for South Africa?” Politikon 18 (June 1991): 91–101.
  9. Năm 1998, chính phủ Anh của Jenkins Commission đã công khai một đề xuất “AV cộng”: một hệ thống hỗn hợp với 80% số ghế được bầu bởi AV, và 20% còn lại được bầu từ PR list để cân đối một cách có tỷ lệ. Trong tháng Năm năm 2000, một dạng của bầu cử ưu tiên được sử dụng cho những cuộc bầu cử thị trưởng đầu tiên của London. Ở Hoa Kỳ, bầu cử ưu tiên đang trở thành một lựa chọn cải cách bầu cử hàng đầu trong số bang, bao gồm New Mexico và California. Vào ngày 5 tháng 3 năm 2002, cử tri ở San Francisco chấp nhận sáng kiến áp dụng bầu cử thay thế cho tất cả các cuộc bầu cử trong tương lai của thành phố.
  10. Rein Taagepera, “STV in Transitional Estonia”, Representation 34 (Winter 1996–97): 31.
  11. Đọc John T. Ishiyama, “Electoral Rules and Party Nomination Strategies in Ethnically Cleaved Societies: The Estonian Transitional Election of 1990”, Com-munist and Post-Communist Studies 27 (June 1994): 177–92.
  12. John T. Ishiyama, “Institutions and Ethnopolitical Conflict in Post-Commu-nist Politics”, Nationalism and Ethnic Politics 6 (Autumn 2000): 65.
  13. Rein Taagepera, “STV in Transitional Estonia”,
  14. Đọc Benjamin Reilly, “Preferential Voting and Its Political Consequences”, trong Marian Sawer, ed., Elections: Full, Free and Fair (Sydney: Federation Press, 2001).
  15. Đọc Constitution Review Commission 1996, The Fiji Islands: Towards a United Future (Suva: Parliament of Fiji, 1996.
  16. Đọc Brij V. Lal, A Time to Change: The Fiji General Elections of 1999, Department of Political and Social Change Discussion Paper 23, Australian Na-tional University, 1999, 6.
  17. Đọc Benjamin Reilly, “Democracy, Ethnic Fragmentation, and Internal Con-flict: Confused Theories, Faulty Data, and the ‘Crucial Case’ of Papua New Guinea”, International Security 25 (Winter 2000–2001): 162–85.
  18. Andrew Strathern, “Violence and Political Change in Papua New Guinea”, Pacific Studies 16 (December 1993): 41–60.
  19. Bill Standish, “Elections in Simbu: Towards Gunpoint Democracy?” in Yaw Saffu, ed., The 1992 PNG Election: Change and Continuity in Electoral Politics (Canberra: AustralianNational University, 1996).
  20. Đọc Richard Simmott, “Centrist politics makes modest but significant progress: cross-community transfers were low”, Irish Times (Dublin), 29 June 1998.
  21. Đọc Nigel Roberts, “Living up to Expectations? The New Fijian Electoral System and the 1999 General Election”, bài viết được giới thiệu với Citizens Constitutional Forum, Suva, Fiji, 18 July 1999.
  22. James R. Scarritt, “Communal Conflict and Contention for Power in Africa South of the Sahara”, trong Ted Robert Gurr, ed., Minorities at Risk: A Global View of Ethnopolitical Conflicts (Washington, D.C.: U.S. Institute of Peace Press, 1993).