(Khuyến nghị: để xem bảng biểu tốt cần đọc trên máy tính để bàn hoặc tablet màn hình rộng)

Richard W. Soudriette và Andrew Ellis

Richard W. Soudriette là Chủ tịch của IFES (được thành lập với tên gọi Quỹ Quốc tế hỗ trợ Hệ thống bầu cử) từ năm 1988. Là tác giả của rất nhiều bài báo, ông hiện đang là đồng tác giả của một tác phẩm đề cập tới tầm quan trọng của hoạt động quản lý bầu cử trong việc thúc đẩy dân chủ. Andrew Ellis là người đứng đầu nhóm Quy trình bầu cử cho IDEA Quốc tế tại Stockholm, là đồng tác giả của cuốn Xây dựng Hệ thống Bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế mới. Ông từng làm việc cho Viện Dân chủ Quốc gia và Ủy ban châu Âu. Bài tiểu luận này xuất hiện lần đầu tiên trong ấn bản tháng Tư năm 2006 của Tạp chí Dân chủ, Hoa Kỳ.

***

Ngày nay, phòng bỏ phiếu đã trở thành công cụ được chấp nhận toàn cầu và góp phần vào quá trình thay đổi hệ thống chính trị. Năm 1974, bầu cử chỉ được thông qua trong 39 nền dân chủ – tức là ở các nước này thường xuyên diễn ra các cuộc bầu cử quốc gia đa đảng. Đến năm 2006, đã có ít nhất 120 quốc gia được coi là có nền dân chủ bầu cử với các mô hình khác nhau.

Thiết kế hệ thống bầu cử là bước dễ xác định và là nền tảng trong quy trình xây dựng một nền dân chủ bền vững. Khi xem xét việc thiết kế một hệ thống bầu cử, chúng ta bắt buộc phải xem xét đến truyền thống và đặc điểm về lịch sử, văn hóa, và xã hội của quốc gia đó. Một hệ thống hoạt động tốt trong nước này ở thời điểm nào đó chưa chắc đã hoạt động hiệu quả ở nước khác hoặc thậm chí ở nước ấy nhưng tại thời điểm khác. Những nước đang phát triển thừa hưởng mô hình bầu cử của mẫu quốc thời thực dân có thể không có được hệ thống bầu cử đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của họ sau giải phóng.

Bầu cử không phải là yếu tố có thể được xem xét độc lập trong quá trình dân chủ (democratic process). Hiệu quả của hệ thống bầu cử có liên quan tới những hệ thống đảng chính trị, việc phát triển hiến pháp, các cơ chế quản trị hệ thống lập pháp, và những vấn đề về nền tảng thể chế khác. Sự thành công của bất kỳ hệ thống bầu cử nào đều đòi hỏi sự chấp nhận nó một cách hợp pháp của chính người dân quốc gia đó. Thực tế, trên thế giới các hệ thống chính trị được áp dụng vô cùng đa dạng, và việc phân loại các hệ thống này thông qua những lợi thế và bất lợi của từng hệ thống không phải là công việc dễ dàng. Một cuốn sổ tay hướng dẫn rất hữu ích để tìm hiểu về các hệ thống bầu cử trên thế giới có tên là “Xây dựng hệ thống bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế mới” (Electoral System Design: The New Interna- tional IDEA Handbook) 1 và các trang sách dưới dây được đúc rút ra từ chính cuốn sổ tay này.

Thế giới được vận hành bởi những Hệ thống Bầu cử

Theo Bảng 1 ở ngay trang sau, các hệ thống bầu cử được sử dụng để lựa chọn ra các nhà lập pháp cho mỗi quốc gia hết sức đa dạng. Trong hơn nửa thế kỷ qua, các học giả nổi tiếng như Maurice Duverger, Giovanni Sartori, Arend Lijphart, Donald Horowitz, Andrew Reynolds, và Benjamin Reilly đã dốc sức nghiên cứu chủ đề hệ thống bầu cử và tác động của chúng tới nền dân chủ. Dựa trên thành quả nghiên cứu của họ và của các học giả khác, những hệ thống bầu cử có thể được phân ra thành bốn nhóm chính.

Đa số tương đối/đa số tuyệt đối (Plurality/Majority). Các ứng cử viên thắng cử trên cơ sở đa số tương đối, thường xuất hiện ở những khu vực bầu cử một đại biểu (các khu vực này chỉ bầu ra duy nhất một đại diện cho cơ quan lập pháp). Có năm kiểu hình bầu cử chủ yếu trong nhóm này: Hệ thống bầu cử “người dẫn đầu giành ghế” (First Past the Post – FPTP), Hệ thống Hai vòng (Two-Round System – TRS), Lá phiếu thay thế (AV – Alternative Vote), Lá phiếu khối (Block Vote BV), và Lá phiếu khối kiểu Đảng (Party-Block Vote PBV). Hệ thống bầu cử FPTP được sử dụng rộng rãi nhất, tiếp theo là TRS. Hầu hết tất cả các nước lựa chọn tổng thống thông qua bầu cử công khai trực tiếp đều sử dụng hệ thống bầu cử FPTP hoặc TRS. Tuy nhiên, có sự khác biệt rất lớn trong cách thức sử dụng hệ thống bầu cử để bầu ra các nhà lập pháp của từng quốc gia.

Trong hệ thống bầu cử FPTP được áp dụng cho các khu vực một đại biểu, người chiến thắng là ứng cử viên giành được nhiều phiếu bầu nhất, dù số phiếu của ứng cử viên này chưa đạt được mức độ đa số tuyệt đối (trên 50 phần trăm số phiếu). Đúng như tên gọi của mình, hệ thống bầu cử TRS đòi hỏi phải có một vòng bỏ phiếu thứ hai nếu không có ứng cử viên nào trong vòng bỏ phiếu đầu tiên giành được tỷ lệ phần trăm chiến thắng nhất định, thường là giành được đa số tuyệt đối. Tùy thuộc vào loại hệ thống bầu cử TRS cụ thể, hai hoặc nhiều hơn hai ứng cử viên dẫn đầu ở vòng đầu tiên có thể tiếp tục tranh cử ở vòng thứ hai; nếu có nhiều hơn hai ứng cử viên được phép vào vòng thứ hai, người chiến thắng là ứng cử viên có số phiếu cao nhất, kể cả số phiếu này dưới mức đa số tuyệt đối.

Hệ thống bầu cử AV thường được áp dụng ở các khu vực một đại biểu, là một hệ thống bầu cử có tính chất “ưu tiên”, vì cử tri xếp hạng các ứng cử viên theo thứ tự ưu tiên. Một ứng cử viên giành được đa số tuyệt đối trong ưu tiên hạng 1 sẽ giành được ghế; nếu không có ứng cử viên giành được đa số tuyệt đối ưu tiên hạng 1 thì các ứng cử viên giành được ít lá phiếu ưu tiên hạng 1 nhất sẽ bị loại, và lá phiếu của họ được phân bổ cho các ứng cử viên còn lại cho đến khi xuất hiện ứng viên đạt được đa số tuyệt đối.

Trong hệ thống BV được sử dụng ở các khu vực bầu cử nhiều đại biểu (khu vực bầu ra từ hai đại diện trở lên trong cơ quan lập pháp), các cử tri được cung cấp số phiếu để bầu bằng với số ghế được bầu ở khu vực của họ, và các ứng cử viên với tổng số phiếu bầu cao nhất sẽ giành chiến thắng. Trong hệ thống bầu cử PBV, cũng được sử dụng trong các khu vực bầu cử nhiều đại biểu, cử tri bỏ phiếu cho đảng chứ không bầu cho ứng viên riêng lẻ, và đảng nào thu hút được nhiều phiếu bầu nhất sẽ chiến thắng tất cả các ghế. Hai hệ thống này có thể được coi là “siêu đa số, bởi lẽ chúng có xu hướng chuyển đổi lợi thế nhỏ về phiếu bầu thành lợi thế lớn hơn rất nhiều về ghế.

 

BẢNG 1— HỆ THỐNG BẦU CỬ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐỘC LẬP

 

 

 

 

 

 

TÊN NƯỚC

CƠ QUAN LẬP PHÁP

TỔNG THỐNG

TÊN NƯỚC

CƠ QUAN LẬP PHÁP

TỔNG THỐNG

Afghanistan

Khác (SNTV)

TRS

Equatorial Guinea

PR kiểu danh sách

FPTP

Albania

Hỗn hợp (MMP)

Eritrea

T

T

Algeria

PR kiểu danh sách

TRS

Estonia

PR kiểu danh sách

Andorra

Hỗn hợp (PS)

Ethiopia

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Angola

PR kiểu danh sách

TRS

Fiji

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (AV)

Antigua & barbuda

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Phần Lan

PR kiểu danh sách

Trs

Argentina

PR kiểu danh sách

TRS

Pháp

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

Armenia

Hỗn hợp (PS)

TRS

Gabon

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

Australia (úc)

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (AV)

The gambia

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Trs

Áo

PR kiểu danh sách

TRS

Georgia

Hỗn hợp (PS)

TRS

Azerbaijan

Hỗn hợp (PS)

TRS

Đức

Hỗn hợp (MMP)

Bahamas

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Ghana

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

TRS

Bahrain

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

Hi Lạp

PR kiểu danh sách

Bangladesh

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Grenada

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Barbados

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Guatemala

PR kiểu danh sách

TRS

Belarus

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

Guinea

Hỗn hợp (PS)

TRS

Bỉ

PR kiểu danh sách

Guinea-Bissau

PR kiểu danh sách

TRS

Belize

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Guyana

PR kiểu danh sách

FPTP

Benin

PR kiểu danh sách

TRS

Haiti

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

Bhutan

N

Honduras

PR kiểu danh sách

FPTP

Bolivia

Hỗn hợp (MMP)

TRS

Hungary

Hỗn hợp (MMP)

Bosnia-herzegovina

Pr kiểu danh sách

Fptp

Iceland

Pr kiểu danh sách

Fptp

Botswana

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

India

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Brazil

PR kiểu danh sách

TRS

Indonesia

PR kiểu danh sách

TRS

Brunei

N

Iran

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

Bulgaria

PR kiểu danh sách

TRS

Iraq

PR kiểu danh sách

Burkina faso

PR kiểu danh sách

TRS

Ireland

PR (STV)

AV

Burma

Đa số tương đối/Đa số (FPTP)

Israel

PR kiểu danh sách

Burundi

PR kiểu danh sách

Italy (Ý)

Hỗn hợp (MMP)

Campuchia

PR kiểu danh sách

Jamaica

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Cameroon

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối & PR

FPTP

Nhật Bản

Hỗn hợp (PS)

Canada

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Jordan

Khác (SNTV)

Cape verde

PR kiểu danh sách

Trs

Kazakhstan

Hỗn hợp (PS)

TRS

Cộng hòa Trung Phi

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

Kenya

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

TRS

Chad

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối & PR

TRS

Kiribati

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

FPTP

Chile

PR kiểu danh sách

TRS

Kuwait

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (BV)

Trung quốc

N

Kyrgyzstan

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

Colombia

PR kiểu danh sách

TRS

Lào

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (BV)

Comoros

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

FPTP

Latvia

PR kiểu danh sách

Congo (brazzaville)

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

FPTP

Li băng

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (BV)

Congo (kinshasa)

T

T

Lesotho

Hỗn hợp (MMP)

Costa rica

PR kiểu danh sách

TRS

Liberia

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

TRS

Bờ biển Ngà

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối

TRS

Libya

N

Croatia

PR kiểu danh sách

TRS

Liechtenstein

PR kiểu danh sách

Cuba

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

Lithuania

Hỗn hợp (PS)

TRS

Síp

PR kiểu danh sách

TRS

Luxembourg

PR kiểu danh sách

Cộng hòa Séc

PR kiểu danh sách

Macedonia

PR kiểu danh sách

TRS

Đan mạch

PR kiểu danh sách

Madagascar

Đa số tương đối/đa số & PR

TRS

Djibouti

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (PBV)

TRS

Malawi

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

FPTP

Dominica

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Malaysia

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Cộng hòa Dominica

PR kiểu danh sách

TRS

Maldives

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (BV)

Đông timor

Hỗn hợp (PS)

TRS

Mali

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

Ecuador

PR kiểu danh sách

TRS

Malta

PR (STV)

Ai cập

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

Đảo marshall

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối

El salvador

PR kiểu danh sách

TRS

Mauritania

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

 

 

 

 

 

 

 

TÊN NƯỚC

CƠ QUAN LẬP PHÁP

TỔNG THỐNG

TÊN NƯỚC

CƠ QUAN LẬP PHÁP

TỔNG THỐNG

 

Mauritius

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (BV)

Thụy Điển

PR kiểu danh sách

 

Mexico

Hỗn hợp (MMP)

FPTP

Thụy Si

PR kiểu danh sách

 

Micronesia

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Syria

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (BV)

 

Moldova

PR kiểu danh sách

Đài Loan

Hỗn hợp (PS)

FPTP

 

Monaco

Hỗn hợp (PS)

Tajikistan

Hỗn hợp (PS)

TRS

 

Mongolia

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

Tanzania

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

TRS

 

Morocco

PR kiểu danh sách

Thái Lan

Hỗn hợp (PS)

 

Mozambique

PR kiểu danh sách

TRS

Togo

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

 

Namibia

PR kiểu danh sách

TRS

Tonga

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (BV)

 

Nauru

Khác (MBC)

Trinidad và Tobago

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

 

Nepal

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Tunisia

Hỗn hợp (PS)

FPTP

 

Hà Lan

PR kiểu danh sách

Thổ Nhĩ Kỳ

PR kiểu danh sách

 

New Zealand

Hỗn hợp (MMP)

Turkmenistan

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

 

Nicaragua

PR kiểu danh sách

TRS

Tuvalu

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (BV)

 

Niger

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối & PR

TRS

Uganda

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

TRS

 

Nigeria

Đa số tương đối/Đa số (FPTP)

TRS

Ukraine

Hỗn hợp (PS)

TRS

 

Bắc Triều Tiên

Đa số tương đối/Đa số (TRS)

Liên bang cộng hòa Arập

N

 

Na Uy

PR kiểu danh sách

Vương quốc Anh

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

 

Oman

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

FPTP

 

Pakistan

Hỗn hợp (PS)

Uruguay

PR kiểu danh sách

TRS

 

Palau

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

TRS

Uzbekistan

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

TRS

 

Panama

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối & PR

FPTP

Vanuatu

Other (SNTV)

 

Papua New Guinea

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (AV)

Venezuela

Hỗn hợp (MMP)

FPTP

 

Paraguay

PR kiểu danh sách

FPTP

Việt Nam

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (TRS)

 

Peru

PR kiểu danh sách

TRS

Yemen

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

TRS

 

Philippines

Hỗn hợp (PS)

FPTP

Zambia

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

FPTP

 

Ba Lan

PR kiểu danh sách

TRS

Zimbabwe

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

TRS

 

Bồ Đào Nha

PR kiểu danh sách

TRS

 

 

 

 

Qatar

N

 

 

 

 

ĐA SỐ TƯƠNG ĐỐI/ĐA SỐ TUYỆT ĐỐI–Plurality/Majority

 

 

Romania

PR kiểu danh sách

TRS

 

 

Nga

Hỗn hợp (PS)

TRS

FPTP– First-past-the-post: Người có nhiều phiếu nhất giành ghế

 

 

Rwanda

PR kiểu danh sách

FPTP

TRS–Hệ thống hai vòng

 

 

St. Kitts & Nevis

Đa số tương đối/Đa số (FPTP)

AV–Lá phiếu thay thế

 

 

St. Lucia

Đa số tương đối/đa số tuyệt đối (FPTP)

BV–Lá phiếu khối

 

 

 

St. Vincent

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

PBV–Lá phiếu khối kiểu đảng

 

 

Samoa

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối

SV–Bầu bổ sung

 

 

San Marino

PR kiểu danh sách

PR–Đại diện tỷ lệ

 

São Tomé & Príncipe PR kiểu danh sách)

TRS

PR (list) – Đại diện tỷ lệ kiểu danh sách

 

Arập Saudi

N

STV–Lá phiếu khả nhượng đơn

 

Senegal

Hỗn hợp (PS)

TRS

Mixed – Hỗn hợp

 

 

 

Serbia và Montenegro

T

T

PS–Hệ thống song song

 

 

Seychelles

Hỗn hợp (PS)

TRS

MMP–Hỗn hợp tỷ lệ thành viên

 

Sierra Leone

PR kiểu danh sách

TRS

 

 

 

 

Singapore

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối

FPTP

SNTV– Lá phiếu bất khả nhượng đơn

 

Slovakia

PR kiểu danh sách

TRS

LV–Bầu giới hạn

 

 

Slovenia

PR kiểu danh sách

TRS

MBC– Lá phiếu Borda chỉnh sửa

 

 

Đảo Solomon

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

N–Không bầu cử trực tiếp

 

Somalia

T

T

T–Đất nước trong thời kỳ quá độ (hệ thống bầu cử mới chưa được quyết định tại thời điểm thiết lập)

 

Nam Phi

PR kiểu danh sách

 

 

Hàn Quốc

Hỗn hợp (PS)

FPTP

 

 

 

 

Tây Ban Nha

PR kiểu danh sách

 

 

 

 

Sri Lanka

PR kiểu danh sách

SV

Bảng này là bản sửa đổi của một bảng quy mô rộng hơn xuất hiện trong cuốn Xây dựng hệ thống bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế mới (2005)

 

Sudan

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

TRS

 

 

Suriname

PR kiểu danh sách

 

 

Swaziland

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối (FPTP)

 

 

 

 

 

Các hệ thống đa số tương đối/đa số tuyệt đối được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Cùng với Anh và nhiều thuộc địa cũ của nước này, như Ấn Độ và Canada, nước Mỹ từ lâu đã áp dụng hệ thống bầu cử FPTP. Còn hệ thống bầu cử TRS thì lại được sử dụng ở Pháp và nhiều nước có lịch sử chịu ảnh hưởng của Pháp. Hệ thống bầu cử AV được sử dụng ở cấp độ quốc gia tại Úc, Fiji và Papua New Guinea. Hệ thống bầu cử BV được sử dụng ở 11 quốc gia và vùng lãnh thổ trải rộng trên toàn thế giới, chủ yếu phân bố tại các khu vực nhỏ hơn với các đảng phái yếu. Hệ thống bầu cử PBV được sử dụng ở Cameroon, Chad, Djibouti, và Singapore.

Hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ (PR). Mục tiêu chính của hệ thống bầu cử PR là nhằm chuyển đổi tỉ lệ phiếu bầu một đảng giành được sao cho tương ứng với tỉ lệ số ghế trong cơ quan lập pháp của đảng đó. Hệ thống này chỉ được sử dụng tại các khu vực bầu cử nhiều đại biểu. Có hai kiểu hình hệ thống PR chính: Hệ thống bầu cử PR kiểu danh sách và hệ thống lá phiếu khả nhượng đơn (STV). Trong đó, hệ thống bầu cử PR kiểu danh sách trên thế giới phổ biến hơn nhiều so với STV.

Với hệ thống bầu cử PR kiểu danh sách, các ghế được phân bổ cho các đảng chính trị trên cơ sở phiếu bầu cho các danh sách đảng, với tỷ lệ phần trăm số phiếu tại các thùng phiếu được chuyển đổi gần sát với tỷ lệ số ghế trong cơ quan lập pháp. Hệ thống bầu cử PR kiểu danh sách được đưa vào thực hiện theo những cách khác nhau. Trong các hệ thống “danh sách đóng”, cử tri chỉ có thể bỏ phiếu cho các đảng nằm trong danh sách, và không thể hiện bất kỳ ưu tiên nào cho các ứng cử viên cá nhân. Trong các hệ thống “danh sách mở”, cử tri có thể thể hiện sự ưu tiên cho các ứng viên trong danh sách đảng, và trong hệ thống “danh sách tự do”, họ thậm chí có thể thể hiện sự ưu tiên cho một ứng cử viên ngoài danh sách đảng mà họ chọn.

Với hệ thống bầu cử STV, cử tri sẽ xếp hạng các ứng cử viên. Hạn ngạch số phiếu cần thiết để chiến thắng được xác định, và bất kỳ ứng cử viên nào cán mốc hạn ngạch đó ngay lập tức sẽ giành được một ghế. Ứng cử viên giành ít phiếu nhất sẽ bị loại ngay lập tức và số phiếu của họ sẽ được phân bổ lại cho các ứng viên khác. Các lá phiếu của các ứng cử viên thành công vượt trên hạn ngạch sẽ được phân bổ lại cho các ứng viên khác còn đang tranh cử. Việc phân bổ lại sẽ còn tiếp tục cho đến khi các ghế còn thiếu được lấp đầy.

Hệ thống bầu cử PR kiểu danh sách được sử dụng rộng rãi ở Tây Âu, Mĩ Latin, và châu Phi, có mặt tại hơn 1/3 tổng số các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhiều hơn tất cả các hệ thống khác. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trên thế giới, số dân sử dụng hệ thống bầu cử FPTP (43,5% tổng số dân của những nước có bầu cử trực tiếp) gần gấp đôi số dân sử dụng hệ thống bầu cử PR kiểu danh sách (23,9%), chủ yếu là do hệ thống bầu cử FPTP được sử dụng tại các nước lớn như Ấn Độ và Mỹ. Mặc dù rất phổ biến trong giới khoa học chính trị, nhưng ở cấp độ quốc gia, hệ thống bầu cử STV lại chỉ được sử dụng ở duy nhất Cộng hòa Ireland và Malta.

Hệ thống bầu cử hỗn hợp: Với hệ thống hỗn hợp, chúng ta có hai nhóm đắc cử: một nhóm được bầu theo hệ thống đa số tương đối/đa số tuyệt đối, nhóm còn lại được bầu theo hệ thống bầu cử PR. Các cuộc bầu cử cho hai nhóm này có thể được liên kết lại để cho ra một kết quả tương đối tỉ lệ (Hệ thống tỷ lệ hỗn hợp – Mixed-Member Proportional, viết tắt MMP) hoặc được tiến hành độc lập với nhau (Hệ thống song song – Parallel System, PS)

Bảng 2: Thay đổi trong Hệ thống Bầu cử (1993-2004)

  Hệ thống cũ

 

 

Hệ thống mới

 

 

 

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối

PR

Hỗn hợp

Khác

Tổng

(hệ thống cũ)

Đa số tương đối/Đa số tuyệt đối

Bermuda
Fiji
Mongolia 
Montserrat
Papua New Guinea

Iraq
Moldova
Rwanda
Sierra Leone
South Africa

Lesotho
Monaco
New Zealand
Philippines
Nga
Thái Lan
Ukraine

Afghanistan
Jordan

19

PR

Madagascar

 

Bolivia
Ý
Venezuela

 

4

Hỗn hợp

 

Croatia
Macedonia

 

 

3

Khác

 

 

Nhật Bản

 

1

Tổng

(hệ thống mới)

6

7

12

2

27

 

Hệ thống bầu cử MMP đầu tiên phát triển ở Đức trong thời kỳ hậu Thế chiến thứ II, hiện nay cũng được sử dụng ở Albania, Bolivia, Hungary, Ý, Lesotho, Mexico, New Zealand, và Venezuela. Hệ thống bầu cử song song được sử dụng ở 21 quốc gia trên toàn cầu, bao gồm cả Liên bang Nga và Nhật Bản.

Các hệ thống khác: Một số hệ thống khác, chẳng hạn như Hệ thống lá phiếu khả nhượng đơn (SNTV), Hệ thống lá phiếu giới hạn (LV), và Hệ thống Borda Count (BC), không thực sự nằm trong các cách phân loại trên đây. Trong việc chuyển số phiếu bầu thành số ghế, các hệ thống này có xu hướng chịu sự tác động theo một cách thức nào đó từ các Hệ thống đa số tương đối/đa số tuyệt đối và hệ thống bầu cử PR. Hệ thống SNTV đã được sử dụng tại các cuộc bầu cử quốc hội ở Afghanistan vào năm 2005, mặc dù nó hứng chịu rất nhiều chỉ trích. Hệ thống LV được sử dụng tại Tây Ban Nha để bầu ra thượng viện, trong khi đó chỉ có mình Nauru sử dụng phương pháp BC.

Những xu hướng thay đổi hệ thống bầu cử

So sánh những thay đổi giữa năm 1993 và 2004 trong tổng số 213 quốc gia và vùng lãnh thổ, cuốn Xây dựng hệ thống bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế mới đã chỉ ra 27 thay đổi trong hệ thống bầu cử (không tính Kyrgyzstan vì nước này đã thay đổi hệ thống bầu cử và sau đó lại đổi lại). Các so sánh này được tóm tắt trong Bảng 2 ở phía trên.

Những dữ liệu này cho thấy có một xu hướng chuyển từ Hệ thống đa số tương đối/đa số tuyệt đối sang hệ thống PR. Sự thay đổi phổ biến nhất là từ các Hệ thống đa số tương đối/đa số tuyệt đối sang các Hệ thống hỗn hợp (diễn ra tại 7 quốc gia).

Bảng 2 đánh giá không đầy đủ mức độ thay đổi hệ thống bầu cử trên thế giới. Ngoài 13% trên tổng số các quốc gia và vùng lãnh thổ đã tiến hành thay đổi kiểu hệ thống bầu cử, nhiều quốc gia khác đã thực hiện những thay đổi trong hệ thống hiện tại của mình, như thay đổi số lượng thành viên được bầu từ mỗi khu vực bầu cử, bằng cách đưa ra hoặc thay đổi ngưỡng mức bỏ phiếu tối thiểu mà các đảng hoặc các ứng cử viên phải đạt được để được phép có đại diện, hoặc bằng cách đưa ra hoặc hạn chế sự lựa chọn của cử tri giữa các ứng cử viên trong danh sách các đảng. Mặc dù những thay đổi trên có thể mang tính kỹ thuật về bản chất, nhưng chúng có thể tạo ra các tác động sâu sắc đến sự trúng cử của các ứng viên, và qua đó ảnh hưởng đến cách thức vận hành của hệ thống chính trị.

Trong hầu hết các trường hợp tự thay đổi của các hệ thống bầu cử, cần có một cuộc khủng hoảng lớn về tính đại diện để dẫn tới thay đổi. Tại Papua New Guinea, hơn 50% số ứng viên trúng cử trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2002 chỉ cần giành được chưa đến 20% số phiếu, do đó không thể tránh khỏi việc đặt ra câu hỏi về tính hợp pháp của những ứng viên trúng cử. Theo đó, việc chuyển đổi từ hệ thống bầu cử FPTP sang hệ thống bầu cử AV ở Papua New Guinea trong năm 2003 là điều khó gây ngạc nhiên. Các cuộc khủng hoảng cũng có thể xảy ra trong các nền dân chủ đã được thiết lập. Trong hai cuộc tổng tuyển cử liên tiếp tại New Zealand, các đảng có nhiều phiếu bầu nhất lại hứng chịu sự phản đối; cuối cùng, sau hai lần trưng cầu dân ý được tổ chức vào những năm 1990, hệ thống bầu cử ở nước này đã được thay đổi từ FPTP sang MMP. Tại Ý và Nhật Bản, sự mất niềm tin vào hệ thống chính trị gây ra bởi các vụ bê bối tham nhũng nghiêm trọng cũng dẫn đến những thay đổi trong hệ thống bầu cử; nước Ý thay đổi từ hệ thống bầu cử PR kiểu danh sách sang sử dụng hệ thống bầu cử MMP vào năm 1993, và Nhật Bản từ hệ thống bầu cử SNTV đã chuyển sang sử dụng hệ thống bầu cử song song (PS) vào năm 1994.

Những thay đổi hệ thống cũng xuất hiện trong quá trình chuyển đổi dân chủ, thỉnh thoảng quá trình chuyển đổi này được diễn ra một cách hòa bình, và được thúc đẩy từ bên trong; và gần như nếu quá trình này bị quốc tế thúc đẩy sẽ luôn đi kèm với xung đột bạo lực. Iraq là một ví dụ điển hình gần đây. Hệ thống bầu cử quốc hội hai vòng được sử dụng trong suốt thời gian diễn ra chế độ quân chủ và là khuôn khổ cho các cuộc bầu cử hình thức của thời đại Saddam Hussein, được thay thế bởi một hệ thống bầu cử PR kiểu danh sách vào năm 2004 – một sự thay đổi do Liên Hiệp Quốc đề xuất và được chính phủ lâm thời Iraq chấp nhận.2

Tại Mĩ Latin, các nước như Bolivia, Venezuela và Mexico đều đi theo xu hướng áp dụng hệ thống bầu cử MMP. Là hậu quả của cuộc sụp đổ xã hội chủ nghĩa tại Liên Xô, nhiều nước thuộc Liên Xô cũ như Estonia, Bulgaria, Ba Lan, Moldova và Romania đã chuyển sang sử dụng hệ thống PR kiểu danh sách. Các quốc gia khác, bao gồm cả Hungary, Litva, Nga và Ukraina, đã áp dụng hệ thống bầu cử hỗn hợp, trong đó ít nhất một nửa số ghế trong quốc hội của họ được bầu dưới hệ thống bầu cử FPTP và phần còn lại bởi hệ thống PR.

Điều gì có thể giải thích được xu hướng chung này? Hệ thống PR có thể đặc biệt có giá trị ở những quốc gia có sự đa dạng về dân tộc, kinh tế, xã hội, hay các quốc gia tìm kiếm sự bảo đảm rằng không chỉ các đảng nhận được sự hỗ trợ đáng kể mà cả các nhóm tương đối nhỏ cũng được đại diện trong quốc hội được bầu ra. Nhìn chung, ngày càng nhiều phụ nữ và cộng đồng dân tộc thiểu số được bầu vào cơ quan lập pháp có sử dụng hệ thống bầu cử theo tỷ lệ. Nền dân chủ mạnh mẽ đã phát triển tại nhiều nước châu Âu, những nước đã chọn sử dụng hệ thống PR kiểu danh sách, bao gồm các nước Bắc Âu và Hà Lan. Năm 1922, Cộng hòa Ireland thông qua việc sử dụng hệ thống STV, đã góp phần tạo ra một trong các nền dân chủ mạnh nhất và sôi động nhất tại châu Âu.

Có một số trường hợp ngoại lệ đáng chú ý liên quan đến xu hướng thay đổi chung này; cụ thể là Afghanistan đã đi ngược xu hướng này. Theo định nghĩa, tính tỉ lệ yêu cầu các đảng hoặc các nhóm đã được xác định phải có số đại diện theo tỷ lệ tương ứng. Ở Afghanistan, những lo ngại về sự tham gia của các nhóm chính trị liên quan đến các nhà quân phiệt, kết hợp với ý nghĩa tiêu cực của các khái niệm về đảng (di sản để lại từ những năm tháng thời Cộng Sản), đã dẫn đến cuộc bầu cử tổng thống được tiến hành trên cơ sở không đảng phái. Tất cả các ứng cử viên tổng thống đều dấn thân vào cuộc chạy đua với tư cách là các ứng cử viên độc lập trong một hệ thống bầu cử hai vòng. Trong thời gian chuẩn bị cho bầu cử quốc hội năm 2005 cho hạ viện Wolesi Jirga với 249 thành viên (hạ viện được bầu trực tiếp của cơ quan lập pháp tại Afghanistan), các cuộc thảo luận rộng rãi đã được tổ chức để quyết định hệ thống bầu cử nào được sử dụng. Cuối cùng, hệ thống bầu cử SNTV đã được lựa chọn. Tổng thống được bầu Hamid Karzai đã cam kết duy trì tình trạng phi đảng phái trong hệ thống. 68 trên tổng số 249 ghế được dành riêng cho phụ nữ. Không có đảng phái nào được phép tham gia và tất cả các ứng cử viên tranh cử độc lập.3

Rất khó để đạt được thay đổi về hệ thống bầu cử trên diện rộng. Hệ thống bầu cử của hầu hết các nước được điều chỉnh bởi các bộ luật thông thường, và do đó có thể được thay đổi trong các cơ quan lập pháp. Tuy nhiên, một số quốc gia bằng cách nào đó đã đưa các yếu tố của hệ thống bầu cử vào hiến pháp của họ, và hiến pháp thường khó thay đổi hơn so với các bộ luật thông thường. Mặc dù vậy, cho dù hệ thống bầu cử được quy định bởi hiến pháp hay luật pháp thông thường, ý chí chính trị của một phần giới tinh hoa lại đóng vai trò hết sức cần thiết trong quá trình thay đổi hệ thống bầu cử, và giới tinh hoa chính trị thường sẽ không nghiêm túc xem xét việc thay đổi trừ phi họ nhận thấy hệ thống này cho họ một số lợi ích nhất định.

Dù những người hoạt động chính trị đích thực đều nhận ra nhu cầu cải cách hệ thống bầu cử, nhưng một vấn đề khác lại nảy sinh trong việc lựa chọn hệ thống bầu cử tốt nhất thay thế hệ thống cũ. Tại Mexico, sự ra đời của hệ thống bầu cử song song năm 1944 đã tạo ra kết quả kém tương xứng tỷ lệ nhất trong lịch sử bầu cử của đất nước này so với hệ thống hỗn hợp MMP (hệ thống bầu cử tại nước này sau đó lại được đổi lại thành MMP). Bên cạnh đó, vì các hệ thống bầu cử quá phức tạp nên rất khó đánh giá những lợi ích dài hạn từ hệ thống bầu cử.

Ảnh hưởng của thay đổi hệ thống bầu cử

Triển khai một hệ thống bầu cử mới là một nhiệm vụ phức tạp. Trong việc lựa chọn một hệ thống bầu cử, cần xem xét tác động của nó đối với việc quản lý các cuộc bầu cử. Một cuộc bầu cử sẽ thực sự được thực hiện như thế nào dưới hệ thống bầu cử trong một quốc gia nhất định ở một hoàn cảnh thực tế, và những tác động có thể có là gì?

Nhiều yếu tố cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng khi xem xét lựa chọn hệ thống bầu cử và cách thức quản lý hệ thống đó sao cho hiệu quả. Năm nhân tố quan trọng bao gồm: 1) ranh giới bầu cử; 2) trình độ cử tri; 3) hiện đại hóa thiết bị bầu cử; 4) phiếu bầu và kiểm phiếu; và 5) tính bền vững lâu dài.

  • Ranh giới bầu cử. Quá trình xác định ranh giới khu vực bầu cử là một nhiệm vụ chính trị cơ bản: Ranh giới bầu cử tạo ra người chiến thắng và kẻ thua cuộc trong chính trị. Đặc biệt trong các Hệ thống đa số tương đối/đa số tuyệt đối, việc xác định ranh giới khu bầu cử là một nhiệm vụ đầy thách thức và khó khăn. Nhiều quốc gia sử dụng hệ thống bầu cử FPTP, như Canada và Anh, bắt buộc phải phát triển phương pháp xác định ranh giới cho các khu vực một đại biểu trên nền tảng của quá trình tái xác định ranh giới thường xuyên. Nếu công việc này phải được thực hiện trước mỗi cuộc bầu cử quốc hội, thì đó sẽ là một quá trình tốn kém về mặt chi phí và thời gian. Quá trình này được thực hiện ít thường xuyên hơn có thể dẫn đến một sự mất cân đối đáng kể trong phạm vi của các khu vực cử tri. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, ranh giới các bang bầu cử ra Quốc hội được xác định bởi mỗi trong số 50 cơ quan lập pháp bang sử dụng dữ liệu được tạo ra từ các điều tra dân số quốc gia mười năm một lần. Cách phân định ranh giới luôn không ổn định và là vấn đề mang tính chính trị.
    Bất kỳ quá trình xác định ranh giới nào cũng đều đòi hỏi thời gian và quá trình tham vấn đáng kể nếu muốn được coi là công bằng trong quá trình bầu cử. Điều này có nghĩa là rất hiếm khi xảy ra việc đưa vào một khu vực bầu cử mới trong quá trình chuyển đổi dân chủ, khi mà quán tính chính trị cùng sự hung phấn cực độ của chuyển đổi tạo ra áp lực gần như không thể chống lại việc bầu cử diễn ra trong lộ trình ngắn. Hơn nữa, gần như tất cả những thành phần tham gia chính trị trong bất kỳ cuộc đàm phán về một khuôn khổ thể chế mới nào đều hiểu rằng sự nhượng bộ sẽ càng có giá trị khi được thực hiện càng muộn; do đó, gần như không thể tránh khỏi sự thâm hụt về lượng thời gian sẵn sàng cho quá trình vạch ra ranh giới và cho các khía cạnh khác của cuộc bầu cử trong tương lai.
  • Trình độ cử tri. Trong các nền dân chủ mới thành lập, các nhà lập pháp thường không nắm bắt tốt khái niệm “cử tri của mình”. Đồng thời, cử tri có thể không hoàn toàn hiểu được rằng họ đang góp phần bầu ra đại diện thi hành luật pháp cho họ và cộng đồng của chính họ. Tại những nước có mức độ mù chữ cao, chẳng hạn như Afghanistan, những khái niệm này khó có thể được truyền đạt cho cử tri nếu không có đầy đủ nỗ lực phổ cập giáo dục từ chính quyền. Việc giải thích các phương pháp bỏ phiếu ở các nước có trình độ dân trí thấp có thể là một nhiệm vụ đầy thách thức khi các hệ thống phức tạp hơn được lựa chọn.
  • Hiện đại hóa trang thiết bị bầu cử. Với xu thế toàn cầu phát triển theo hướng hiện đại của thiết bị bỏ phiếu, lựa chọn các hệ thống bầu cử là một trong những yếu tố có thể ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình bầu cử. Tại Ấn Độ, sự ra đời của máy bỏ phiếu điện tử đã góp phần làm cho cuộc bầu cử thành công. Hệ thống bầu cử FPTP hiện tại của Ấn Độ trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội đã giúp Ủy ban Bầu cử Ấn Độ có thể phát triển một hệ thống điện tử hiệu quả với chi phí thấp; nếu lựa chọn một hệ thống bầu cử khác, việc phát triển thành công một hệ thống bầu cử điện tử sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.
    Các cơ quan tổ chức bầu cử tại Cộng hòa Ireland đã chi hàng triệu đô la trong năm 2004 để giới thiệu một hệ thống bầu cử điện tử mới cho những cuộc bầu cử quốc hội. Tuy nhiên, Ireland lại sử dụng hệ thống lá phiếu khả nhượng đơn, một hệ thống yêu cầu cử tri thể hiện một loạt các ưu tiên trên phiếu bầu. Ở những phút cuối cùng, một quyết định đã được đưa ra nhằm loại bỏ hệ thống bầu cử điện tử này do lo ngại rằng nó không đủ thân thiện với cử tri. Thay vào đó, Ireland quay trở lại việc sử dụng lá phiếu bằng giấy truyền thống trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2004.
  • Phiếu bầu và kiểm phiếu. Việc cơ quan quản lý bầu cử tổ chức các cuộc bầu cử thân thiện đối với cử tri là vô cùng cần thiết, mặc dù điều quan trọng là cơ quan này chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật bầu cử. Các lá phiếu, thiết bị và các thủ tục bỏ phiếu dễ sử dụng có thể giúp tăng cường tính minh bạch của quá trình bầu cử trong con mắt của cử tri, cũng như tạo nền tảng tích cực cho tương lai. Một ví dụ về việc hệ thống bầu cử không đáp ứng được các tiêu chí này là ở Fiji. Lá phiếu bầu hệ thống lập pháp cho phép cử tri điền vào chỉ một trong hai phần trên lá phiếu: phần thứ nhất là dành cho một đảng (sau đó lựa chọn của họ được chuyển sang cho các ứng cử viên theo tiêu chí ưu tiên của đảng đó) hoặc ở phần thứ hai cử tri có thể bầu cho các ứng viên tự do. Nếu cử tri lựa chọn bỏ phiếu cho các ứng cử viên tự do, các thứ tự ưu tiên phải được thể hiện cho ít nhất 3/4 số ứng cử viên hiện diện trên phiếu bầu. Trong hai cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức cho đến nay trong hệ thống này, hơn 10% số phiếu bầu đã bị tính là không hợp lệ.
    Trong cuộc bầu cử Quốc hội Iraq vào tháng 12/2005, tổng cộng 996 đảng và các tổ chức chính trị được thể hiện trên lá phiếu, đại diện cho tổng cộng 7.655 ứng cử viên. Cử tri đã phải đối mặt với số lượng ứng cử viên quá lớn cũng như phải đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn trong việc đưa ra lựa chọn cuối cùng của họ trong việc bỏ phiếu. Do số lượng khổng lồ của các tổ chức chính trị trên lá phiếu, Ủy ban bầu cử độc lập của Iraq (IECI) đã phải thiết kế một hòm phiếu đặc biệt để phù hợp với các lá phiếu cực lớn. Kiểm phiếu là một quá trình chậm chạp và tẻ nhạt. Kết quả là, phải mất gần một tháng để kiểm đếm toàn bộ phiếu bầu và để IECI công bố kết quả chính thức. Thiết kế của hệ thống bầu cử nâng cao tính bao gồm (tính bao gồm tức là không bỏ sót nhóm thiểu số nào) nhưng phải đổi lại bằng một cái giá đắt đỏ trong trong việc bỏ phiếu và kiểm phiếu – một ví dụ cho thấy những đặc điểm mong muốn của hệ thống bầu cử đôi khi lại mâu thuẫn với nhau. Việc xây dựng hệ thống bầu cử cuối cùng liên quan đến một loạt các lựa chọn: các nhà thiết kế hệ thống bầu cử phải quyết định xem những đặc tính nào cần được ưu tiên, và những cái nào nên xếp sau.
  • Tính bền vững lâu dài. Tính bền vững lâu dài của quá trình bầu cử cần phải được xem xét, đặc biệt là khi đang xem xét một hệ thống bầu cử tương đối phức tạp. Khi một cuộc bầu cử dân chủ lần đầu tiên được tổ chức bởi sự hiện diện của các tổ chức quốc tế, hoặc với sự hỗ trợ kỹ thuật và kinh phí lớn từ quốc tế, hầu như bất kỳ điều gì cũng có thể thực hiện được. Tại cuộc bầu cử thứ hai hoặc thứ ba, khi các nguồn lực bên ngoài không còn được đưa vào một cách tự do, việc tổ chức một cuộc bầu cử bền vững phụ thuộc vào nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực của quốc gia, cả hai đều có thể bị hạn chế và phải phục vụ cho các nhu cầu cấp thiết khác. Trong khi việc hệ thống bầu cử được thiết kế quá đơn giản có thể bỏ qua các cách tiếp cận mang tính xây dựng đầy tiềm năng để kiến thiết nhà nước, việc hệ thống quá phức tạp có thể dẫn đến sự kém hiệu quả trong dài hạn.

Tuyên ngôn năm 1948 về Nhân quyền công nhận quyền bầu cử là một quyền cơ bản của con người. Hệ thống bầu cử cung cấp khuôn khổ nhằm đảm bảo người dân có quyền lên tiếng góp ý về cách thức mà họ bị điều chỉnh. Các quốc gia cần phải xem xét các yếu tố lịch sử, văn hóa và xã hội trong việc lựa chọn một hệ thống bầu cử và lôi kéo các thành phần liên quan tham gia vào các cuộc thảo luận, để tăng khả năng chấp nhận của các cử tri liên quan đến tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Tiêu chí lựa chọn có thể bao gồm việc xây dựng các chính phủ ổn định và có năng lực; tạo điều kiện để sự phản đối và giám sát lập pháp hiệu quả  có thể phát triển; hỗ trợ trách nhiệm giải trình của chính phủ và các cá nhân được bầu đối với các hoạt động của họ; phát triển các đảng chính trị sôi động; và khuyến khích giảm thiểu xung đột. Cùng với các mục tiêu khác như củng cố tổ chức xã hội dân sự và khuyến khích tự do báo chí, các sự lựa chọn được quyết định là nền tảng cho việc đặt nền móng của một nền văn hóa dân chủ.

Hệ thống bầu cử yếu kém có thể làm lung lay sự ủng hộ của người dân cho nền chính trị dân chủ, trong khi đó hệ thống bầu cử vững vàng có thể giúp thiết lập các hệ thống với khả năng khuyến khích sự tham gia của người dân và đảm bảo sự thành công lâu dài của nền dân chủ. Như cựu Tổng thống Philippines Fidel Ramos từng nói, “Chính phủ có thể đến và đi, nhưng người dân thì vẫn còn. Tính uy nghiêm của quyền lực nhân dân là thứ mà chúng tôi đề cao trong khi xây dựng hệ thống bầu cử tự do”.

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Nguyễn Thế Anh và Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

GHI CHÚ

  1. Andrew Reynolds, Ben Reilly, và Andrew Ellis, Electoral System Design: The New International IDEA Handbook (Xây dựng Hệ thống Bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế mới) (Stockholm: IDEA, 2005), có thể xem tại idea.ini.
  2. Để tìm hiểu them về thay đổi hệ thống bầu cử của Iraq, xem chương 19 do Adeed Dawisha và Larrry Diamond viết trong cuốn này
  3. Để tìm hiểu them về thay đổi hệ thống bầu cử SNTV của Afghanistan, xem chương 18 do Andrew Reynolds viết trong cuốn này