Andrew Reynolds

Andrew Reynolds là giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Bắc Carolina, Chapel Hill. Ông đã từng làm cố vấn cho nhiều quốc gia về các vấn đề bầu cử cũng như thế kế hiến pháp. Cuốn sách mới nhất của ông là cuốn Kiến trúc Dân chủ: Thiết kế Hiến pháp, Quản lý mâu thuẫn, và Dân chủ (2002). Bài tiểu luận này lần đầu xuất hiện vào tháng 4 năm 2006 trên Tạp chí Dân chủ.

 

***

 

Vào 18 tháng 9 năm 2005, gần sáu triệu rưỡi người dân Afghanistan đã bỏ phiếu trong một không khí bầu cử tự do nhất và cạnh tranh nhất từ trước tới nay. Gần một nửa số cử tri là phụ nữ, những người có ảnh hưởng đáng kể đối với bộ máy lập pháp mới của Afghanistan. Cuộc bầu cử được tổ chức nhằm tìm ra 249 ghế cho Wolesi Jirga (Hội đồng Nhân dân) và 102 ghế Meshrano Jirga (Hội đồng Bô lão) – được bầu chọn một cách gián tiếp, cũng như đối với các hội đồng địa phương. Với sự thành lập Quốc hội mới vào ngày 18 tháng 12 năm 2005, cộng đồng quốc tế đã tuyên bố rằng một phần đáng kể trong Hiệp ước Bonn 2001 với nội dung “xây dựng một chính phủ nền tảng rộng, bình đẳng giới, đa sắc tộc và đầy đủ tính đại diện thông qua bầu cử” đã được thực thi.”1

Cuộc bầu cử này, cũng như kỳ bỏ phiếu tổng thống vào tháng 10 năm 2004 của Afghanistan, minh hoạ rõ ràng rằng những bầu cử có ý nghĩa có thể được tổ chức ngay cả khi phải đối mặt với các điều kiện tồi tệ nhất. Ngoài ra, những cuộc thăm dò ý kiến năm 2004 và 2005 cho thấy nếu được trao cơ hội, phụ nữ có thể thúc đẩy chính trị đáng kể trong những xã hội phụ hệ và bảo thủ. Bỏ qua cách thức quốc gia này có thể chuyển đổi từ độc tài sang dân chủ, hai cuộc bầu cử của nó đã cho thấy sự mong mỏi tìm kiếm nhà lãnh đạo một cách tự do và gắn họ với trách nhiệm chính là điều kiện về con người. Thật vậy, những “công dân thông thường” – ông lái xe bus ở Kabul, bà thủ thư ở thư viện Herat, anh chàng chăn cừu trên núi – sẽ bỏ phiếu một cách tự tin khi họ được trao cơ hội.

Nhưng cuộc bầu cử lập pháp của Afghanistan cũng đồng thời loại bỏ một số hành động nghĩa hiệp ít được tán dương về sự chuyển đổi dân chủ. Đầu tiên, thiết kế thể chế hợp lý phù hợp với nhu cầu của một xã hội dân chủ đang trỗi dậy vẫn là một thách thức lớn nhất. Thứ hai, hệ thống bầu cử là quan trọng nhất trong số các nền tảng dân chủ này; một hệ thống bầu cử không hợp lý hoặc chứa đầy lỗi có thể cản trở tiến trình dân chủ không kém những quân phiệt, những kẻ tin vào chủ nghĩa cơ yếu (fundamentalism), và những doanh nhân đồi bại cùng gộp lại. Thứ ba, nếu lựa chọn hệ thống bầu cử dựa trên một lý thuyết sai lầm hoặc hiểu thức hạn hẹp về cơ chế bầu cử và đảng phái thì kết cục sẽ thực sự tồi tệ cho toàn xã hội. Thực vậy, nếu một hệ thống bầu cử chỉ đơn giản được lựa chọn một cách ngẫu nhiên từ sự thụ độc và tai nạn, kết quả sẽ là một hệ thống lập pháp thiếu hiệu quả. Cuối cùng, Afghanistan đơn giản hoá sự khó khăn trong việc khuyến khích chính trị đa đảng trong một nền dân chủ còn non nớt, nơi lãnh đạo bị lái hướng một cách nặng nề bởi nhu cầu tích hợp và xoa dịu những nhóm lợi ích thiếu dân chủ nặng nề và tham nhũng.

Cuối cùng, hệ thống bầu cử được sử dụng vào tháng 9 năm 2005 nhằm tìm ra Wolesi Jirga (Hội đồng Nhân dân) chính là hệ thống lá phiếu bất khả nhượng đơn (SNTV), một hệ thống ít được sử dụng xuất hiện tại Nhật Bản từ năm 1948 tới năm 1993 và hiện nay chỉ còn được sử dụng duy nhất tại Jordan, Vanuatu, Quần đảo Pitcairn, và một phần Đài Loan (tuy nhiên đang có những thay đổi). Dưới hệ thống SNTV, cử tri Afghanistan bỏ phiếu cho từng ứng viên riêng lẻ thay vì các đảng phái chính trị. Mỗi tỉnh lại chọn ra một số thành viên, một số họ bắt buộc phải là phụ nữ, tuy nhiên mỗi cử tri chỉ được bỏ phiếu cho một và chỉ một ứng viên. Các ứng viện được bầu chọn đơn giản bằng cách có số phiếu nhiều nhất: Nếu một khu vực bỏ phiếu có chỉ tiêu là bốn ghế, vậy thì bốn ứng viên có số phiếu cao nhất sẽ là những người được lựa chọn. Do đó, nếu tính cộng dồn một đảng có thể giành được đa số phiếu, nhưng chưa chắc đảng đó đã giành được đa số ghế – số ghế giành được phụ thuộc vào việc các ứng viên trong một đảng có tranh cử hiệu quả như nhau hay không. Ứng viện “hiệu quả” không nhất thiết phải nổi tiếng đặc biệt, tuy nhiên ở trong một khu vực bầu cử 4 ghế, một ứng viên có thể được bình chọn với 90% số phiếu trong khi 3 ứng viên còn lại có thể được bầu chỉ với 3% số phiếu cho mỗi người.

Lợi thế của hệ thống lá phiếu bất khả nhượng đơn (SNTV) đó là nó đơn giản, cho cả cử tri cũng như cho các quan sát viên của quá trình bầu cử; nó khuyến khích sự hiện diện của các ứng viện độc lập của hệ thống đảng phái non trẻ; và nó tăng cường sự đại diễn cũng như tính trách nhiệm bằng việc trao cho cử tri cái cảm nhận được “đầu tư” vào những ứng viên rõ ràng thay vì những danh sách đảng viên không ai biết đó là ai. Nhưng hệ thống này được cho rằng sẽ mất sự hiệu quả của nó khi khu vực bầu cử quá rộng, bởi khi đó số phiếu sẽ bị phân mảnh nặng nề. Vì lý do đó, khu vực bầu cử trung bình tại Nhật Bản, Jordan, và Vanuatu chỉ có bốn ghế. Tại Afghanistan, tuy nhiên, khu vực bầu cử lại được quyết định bởi biên giới tỉnh lị và do đó số ghế mỗi khu vực trải dài từ 2 cho tới 33 ghế – một phần ba số khu vực bầu cử có tới hơn 9 ghế.

Bằng Cách Nào Afghanistan Lại Lựa Chọn SNTV

Quá trình thiết kế một hiến pháp mới cho Afghanistan được đưa ra vào tháng 12 năm 2001 trong Hiệp ước Bonn. Đó là một quá trình hiệu quả nhưng đóng kín, và sản phẩm của nó rốt cục dựa trên lợi ích của mỗi chính phủ đang chuyển đổi và được tuyên bố trước người dân một cách rộng khắp là nhiệm vụ đã hoàn thành. Một ủy ban gồm 9 người được chỉ định bởi Tổng thống lâm thời Hamiz Karzai đã đi đến một dự thảo đầu tiên vào giữa tháng 10 năm 2002 và tháng 3 năm 2003. Một trong những vấn đề hiến pháp quan trọng mà bản dự thảo này phải vật lộn đó là lựa chọn hệ thống bầu cử cho bộ máy lập pháp mới: Có nên quay lại với hệ thống ai-nhiều-phiếu-nhất-thì-thắng (FPTP) thừa kế từ chế độ thuộc địa Anh và được sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn ngủi ở thập niên 1960 với hệ thống đa đảng cạnh tranh? Hay họ nên đi theo xu hướng sử dụng hệ thống đại diện tỉ lệ kiểu danh sách (list-PR), một hệ thống được lựa chọn rộng khắp tại các quốc gia trong bối cảnh hậu giao tranh từ 1989? Hay đâu đó còn có một hệ thống khác phù hợp hơn với điều kiện của Afghanistan?

Hội đồng dự thảo đã nhận được các lời khuyên chuyên gia từ nhiều tổ chức trong đó phải kể tới Quỹ Hệ thống Bầu cử Quốc tế, Viện Liechtenstein của Đại học Princeton về Tự Định đoạt (LISD), và từ các chuyên gia hiến pháp, tác giả của báo cáo “Phát triển Hiến pháp và Chính trị Afghanistan: Tổng quan và Kiến nghị Chính yếu”2 Tất cả những cố vấn này đều tìm cách lái những người soạn thảo Hiến pháp ra khỏi hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ cũ kỹ và hướng tới một hình thức đại diện tỉ lệ với một vài nền tảng địa lý và cho phép không gian cho các ứng viên độc lập. Theo báo cáo đã được đề cập ở trên:

Hệ thống bầu cử cần cho phép sự đại diện của một Afghanistan đa dạng, và cung cấp cho các thành phần tham gia quyền lực đủ gắn lợi ích vào hệ thống để họ vẫn tuân thủ nền chính trị dân chủ. Bởi tính phân mảnh của chính trị Afghanistan, mục tiêu chính nên là tạo ra một tỉ lệ hợp lý. Thêm vào đó, phần đông những người Afghanistan muốn có cơ hội bỏ phiếu cho các ứng viên từ chính khu vực của họ, và việc mất lòng tin vào các đảng chính trị thì có nghĩa rằng cử tri nên được trao cho cơ hội bỏ phiếu cho các cá nhân, thay vì chỉ có mỗi các đảng phái. Quy trình bỏ phiếu cũng sẽ cần phải đơn giản và minh bạch; mất khả năng đọc hoặc đếm giới hạn tính phức tạp của các hệ thống bỏ phiếu, và sự thiếu kinh nghiệm trong việc bầu cử cũng có nghĩa là kế quả cần phải được giải thích một cách dễ dàng.3

Giữa tháng 4 và tháng 11 năm 2003, một hội đồng uỷ ban hiến pháp 35 thành viên người Afghanistan được lựa chọn bởi Karzai đã chỉnh sửa lại dự thảo của uỷ ban trước đó, và đưa ra tài liệu cuối cùng để Loya Jirga xem xét và thông qua vào tháng 12 năm 2003.4 Bản hiến pháp mới, mặc dù gây ra nhiều phẫn nộ và chỉ được thông qua bởi sức ép chính trị mạnh5, đã không hề đề cập một cách rõ ràng về một hệ thống bầu cử được sử dụng để bầu ra bộ máy lập pháp. Tuy nhiên, một quyết định đã được đưa ra, đó là một dạng hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ kiểu danh sách sẽ được sử dụng: điều này được chỉ ra trong phần phụ lục của bản hiến pháp. Chính phủ Quá độ dự trù công việc vạch ra cụ thể hệ thống với sự tham gia của Cơ quan Quản lý Bầu cử (Joint Election Management Body-JEMB) và Phái đoàn Hỗ trợ Afghanistan của Liên hợp quốc (UN Assistance Mission in Afghanistan-UNAMA).

Tính tới đầu năm 2004, họ đã thiết kế ra một cái họ cho là phương án lựa chọn tốt nhất: hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ kiểu danh sách đóng sử dụng khu vực bầu cử nhiều đại biểu dựa trên 34 tỉnh đã tồn tại từ lâu của Afghanistan. Ít phức tạp hơn so với hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ kiểu danh sách mở, một hệ thống như vậy có thể cho phép các lãnh đạo đảng phái quyết định ứng viên nào xuất hiện trên lá phiếu và thứ tự như thế nào, điều đó có nghĩa rằng cử tri có thể bầu cho một đảng, chứ không phải cho một cá nhân cụ thể. Enayat Qasimi, một luật người Afghanistan đã xuất ngoại gần đây trở về để đóng vai trò cố vấn pháp lý cho Tổng thống Karzai, đã được chọn lựa để đệ trình hệ thống này lên nội các của chính phủ quá độ. Theo lời một số người có mặt – bao gồm cả các bộ trưởng cũng như đại diện của UNAMA và JEMB — Qasimi đã thực sự thất bại trong việc trình bày hệ thống, thể hiện rằng ngay chính anh ta cũng ngờ vực về tính khả thi của nó.6 Điều này đã mở của cho các nhà phê bình nhảy vào: Nếu tư vấn pháp lý của chính tổng thống còn không thể khiến cho nội các chính phủ hiểu được cái hệ thống này, thì làm sao mà những thường dân Afghanistan có thể hiểu được?

Trong một môi trường mong manh và mất lòng tin như vậy – nội các là cửa sau của các quý tộc kỹ trị, kiều bào, lãnh đạo thánh chiến, và các nhà quân phiệt phá hoại — sự giới thiệu dớ dẫn của Qasimi về hệ thống đã mở cửa cho một số bộ trưởng than phiền rằng hệ thống này có thể tệ hại đối Afghanistan. Mối lo ngại này được vun đắp từ sự mất lòng tin vào các đảng phái chính trị phổ biến trong xã hội Afghanistan bởi bản chất hỗn loạn của hệ thống chính trị đa đảng trong những năm 1960 và tiếp đó là thời kỳ Đảng Cộng Sản lãnh đạo và Liên Xô chiếm đóng (1978-89). Lãnh đạo phe chống lại hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ là Bộ trưởng Bộ Phát triển Nông nghiệp Mohammad Haneef Atmar, với sự hậu thuẫn của một số bộ trưởng khác từ vùng Đông Nam Pushtun.

Phải đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ như vậy, Tổng thống Karzai đã quyết định tìm kiếm các phương án thay thế cho hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ kiểu danh sách đóng. Ông ta yêu cầu thành viên quốc tế của JEMB soạn thảo một biên bản ghi nhớ, mô tả chi tiết các hệ thống bầu cử cho phép người dân Afghanistan bỏ phiếu cho các ứng viên độc lập thay vì các đảng phái, trong khi đó vẫn phải sử dụng tỉnh lỵ làm cơ sở bầu cử (ông ta hiểu rằng vì lý do chính trị cũng như triển khai thực tế, cơ sở bầu cử kiểu một đại diện không phải là lựa chọn thích hợp). Hệ thống bầu cử lá phiếu bất khả nhượng đơn (SNTV) rốt cuộc đã được chọn bởi vì nó là phương án “ít tệ nhất” trong số các phương án thay thế phù hợp với những tiêu chí ở trên. Do đó, việc Afghanistan lựa chọn SNTV không phải là kết quả của một quá trình cân nhắc kỹ lưỡng về ưu và nhược điểm, mà bởi một quá trình loại trừ khá ngẫu nhiên. SNTV đơn giản là tốt hơn các hệ thống khác bởi sự kết hợp của một lá phiếu đơn cho một ứng viên với cơ sở bầu cử cấp tỉnh nhiều đại biểu. Một điều quan trọng cần lưu ý đó là ông Karzai không hề lựa chọn SNTV với bất kỳ một sự hiểu biết nào về hậu quả cũng như lịch sử của nó.

Thế thực thi nó bằng cách nào?

Kiến thức về SNTV— dựa trên 40 năm kinh nghiệm của Nhật Bản và một thập kỷ tại Jordan – đó là hệ thống này có thể xoay sở được dưới những điều kiện cụ thể, nhưng thường thì nó không phải là một hệ thống tốt trong việc chuyển đổi từ phiếu bầu sang ghế trong một nền dân chủ. Trong trường hợp của Nhật Bản, hệ thống này là một phần của thể chế “được ban tặng” cho quốc gia này sau Thế chiến II, và với Jordan thì nó là sản phẩm của việc thao túng hệ thống bầu cử lá phiếu khối (bloc voting) của vua Hussein năm 1993.7 Nhược điểm chủ yếu của SNTV là sự khó khăn trong hợp tác chiến lược mà nó tạo ra cho các đảng phái: Một đảng nên tung ra bao nhiêu ứng viên trong một khu vực bầu cử cho trước, và bằng cách nào một đảng phái có thể dẫn dắt cử tri bỏ phiếu quân bình giữa các ứng viên của nó? Hệ quả không mong muốn nhất của hệ thống này phải kể tới đó là một tính bất đối xứng cao giữa phiếu và ghế giành được, một xu hướng loại bỏ đảng thiểu số, khuyến khích sự mua phiếu bầu và tham nhũng giữa những người được bầu, và cuối cùng là sự phân mảnh trong đảng cầm quyền.

Vào tháng 9 năm 2004, tôi tham gia cùng Andrew Wilder, giám đốc Trung tâm Thẩm định và Nghiên cứu Afghanistan tại Kabul (AREU), trong việc phán đoán cách thức SNTV sẽ hoạt động ra sao dưới điều kiện của Afghanistan.8 Chúng tôi thấy trước năm hệ luỵ tiêu có thể có 1)chuyển đổi lá phiếu sang ghế; 2) hệ thống đảng; 3) bản thân lá phiếu; 4) khả năng điều hành của bộ máy được chọn; và 5) tỉ lệ đại diện là phụ nữ.

       1) Mối quan hệ giữa lá phiếu và số ghế giành được. Bầu cử nền tảng tại các nền dân chủ hậu giao tranh còn chập chững cần phải làm thật tốt công việc chuyển đổi từ số phiếu bầu sang số ghế cho đa số, thiểu số và thành phần độc lập. Kết quả bầu cử thường phải đối mặt với thử thách là các ứng viên thua trận cảm thấy hệ thống bầu cử đã phân biệt đối xử với họ và nhóm cử tri của họ. Các ứng viên cũng cần có được một giả định rằng nếu họ có được một số phiếu tương đối ổn thì họ sẽ được bầu chọn. Chúng tôi lo lắng rằng tại Afghanistan hệ thống SNTV có thể không đáp ứng được những kỳ vọng này. Bởi lẽ nó tạo ra một mối quan hệ đỏng đảnh giữa phiếu bầu và số ghế. Phân chia số ghế theo lẽ thường phải phụ thuộc vào số ứng viên trong một tỉnh và cách thức cử tri phân phối số phiếu bầu giữa các ứng viên này. Chúng tôi phỏng đoán rằng tại các khu vực bầu cử rộng hệ thống SNTV có thể tạo ra hiệu ứng sổ xố: ứng viên được chọn sẽ hoàn toàn ngẫu nhiên trong các ứng viên độc lập và thiểu số.

      2) Sự thiết lập một hệ thống đảng ổn định. Kinh nghiệm cho thấy rằng trong những môi trường hậu giao tranh, dân chủ và sự ổn định cần có một hệ thống đảng phái vững chắc. Ngay cả khi trong các hệ thống không khuyến khích hoặc không thừa nhận đảng phái, những mối quan tâm tương đồng hấp dẫn nhau để tạo thành những phong trào, khối chính trị, danh sách và liên minh kiểu đảng phái. Thao túng hệ thống bầu cử trong nổ lực loại bỏ đảng phái chỉ làm cho những khối chính trị này bất tín nhiệm, thiếu dân chủ, và kém khả năng đáp ứng lại lợi ích và quan tâm của cử tri.  

Hệ thống bầu cử SNTV làm yếu đi vai trò của các đảng phái, do đó kìm hãm sự trỗi dậy của một hệ thống đảng phái có trách nhiệm, năng động và ổn định. Trong khi luật pháp bầu cử của Afghanistan không giới hạn các đảng phái khỏi việc tung ra sân ứng viên, việc ghi rõ ứng viên thuộc đảng phái nào vào lá phiếu thì không được phép. Chúng tôi dự đoán rằng điều này có thể dẫn tới một hệ thống lập pháp phân mảnh bao gồm một tập hợp các bè phái chính trị độc lập và nhỏ – làm cho hình thái chính phủ và chính trị lập pháp khó quản lý – và bất kể bè phái hoặc liên minh nghị viện nào cũng có thể bị rời rạc hoá và bị lái hướng bởi cá tính, giới hạn trong lợi ích của các khu vực hoặc của các nhà độc tài thay vì lợi ích của quốc gia.

     3)Bảo đảm một lá phiếu rõ ràng và hiệu quả. Chúng tôi cho rằng việc bỏ phiếu đơn giản dễ dàng là điều cực kỳ quan trọng, cho phép người dân Afghanistan có thể sử dụng những lá phiếu của họ để những lựa chọn chính trị của họ được tiếp nhận một cách “to và rõ”. Nếu bản thân lá phiếu quá phức tạp, cử tri sẽ cảm thấy bị ngoài cuộc và khó mà nhìn thấy được sợi dây liên kết dữa lá phiếu của họ với chính phủ mới sẽ được thành lập. Chúng tôi phỏng đoán rằng SNTV, đặc biệt là tại các khu vực bầu cử rộng lớn, sẽ khuyến khích một số lượng nhiều ứng viên tham gia, khiến cho lá phiếu dài và khó hiểu, đặc biệt những cử tri không biết đọc sẽ khổ sở nhất. Có thể có tới hàng trăm cái tên và biểu tượng trên một lá phiếu (mỗi cái tên/biểu tượng tương ứng với một ứng viên không kể thành phần đảng tham gia là gì), khiến cho việc xây dựng thương hiệu đặc biệt của mỗi ứng viên trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Thêm vào đó, tính bất thường của mối liên hệ phiếu-ghế của hệ thống SNTV có thể dẫn tới một nghị viện bị phân mảnh và thiếu minh bạch trong việc hình thành chính phủ, để lại nhiều cử tri thắc mắc không biết lá phiếu của họ đã làm gì trong toàn bộ quá trình rối rắm này.

     4)Cho phép bộ máy lập pháp và hành pháp lãnh đạo. Trong các nền dân chủ đang nổi lên nơi sức mạnh được cân bằng giữa bộ máy lập pháp và bộ máy hành pháp được bầu chọn trực tiếp, cần đặc biệt chú ý rằng bộ máy hành pháp được thiết kế nhằm làm việc nhuần nhuyễn với tổng thống và không kìm hãm ông ta hoặc bà ta trong bất cứ một bước đi nào. Xem xét sự cấp thiết cần có một hệ thống lập pháp và quá trình hoạch định chính sách hiệu quả tại các quốc gia đang dân chủ hoá, ngõ cụt trong chính phủ thực sự rất nguy hiểm. Chúng tôi lập luận rằng nếu các cuộc bầu cử lập pháp được tổ chức đồng thời với cuộc bầu cử tổng thống tháng 10 năm 2004, hệ thống SNTV có thể đã tạo ra một khối chính trị vững chắc trong Wolesi Jirga ủng hộ Karzai. Thay vào đó, khoảng trống dài một năm giữa hai cuộc bầu cử đã làm yếu đi nền tảng lập pháp. Trong một biên bản ghi nhớ tôi viết cho Tổng thống Karzai vào tháng 1 năm 2005, tôi có tranh luận:

Hệ thống [SNTV] sẽ thúc đẩy những phong trào/đảng phái có khả năng huy động và khống chế phiếu bầu. Trong khi Tổng thống có hỗ trợ đa sắc tộc rộng rãi, ông ta không có được mức độ “bộ máy” đảng phái mà những người nắm giữ quyền lực địa phương và các tướng soái có ở miền Bắc, Đông và Tây. Do đó, nếu lực lượng chống đối Karzai đồng lòng với chiến lược giành chiến thắng của SNTV, họ rất có thể sẽ giành được nhiều số ghế hơn so với số ghế mà đáng lẽ ra họ nhận được tương ứng với số phiếu bầu cho họ.9

      5)Khuyến khích phụ nữ năng động trong nghị viện. Cơ chế chính sách ưu tiên, hay chỉ tiêu lá phiếu, thường thúc đẩy quan tâm của phụ nữ khi a) cử tri không xem họ bị khống chế một cách trắng trợn; b) phụ nữ, những người ít phụ thuộc vào hệ thống quyền lực truyền thống hơn, có nhiều cơ hội được bầu; c) những phụ nữ được bầu có một nhóm cử tri ủng hộ và sở hữu một cấp độ hợp pháp nào đó; và d) các đảng phái do đàn ông chiếm ưu thế nhận thấy quyền lợi của họ khi tung ra các ứng viên nữ cấp tiến nhằm thu hút ủng hộ của cử tri cả hai giới tính.

Luật pháp bầu cử của Afghanistan dành trung bình 2 ghế cho ứng viên là phụ nữ của mỗi tỉnh – cả nước 34 tỉnh là 68 ghế. Chúng tôi phỏng đoán rằng, kết hợp với hệ thống SNTV, chỉ tiêu này gia tăng khả năng chiến thắng của phụ nữ với tỉ lệ phiếu bầu ít hơn rất nhiều so với những ứng viên nam bị thất bại trên khắp cả nước. Trong một môi trường không cởi mở nhiều đối với sự lãnh đạo của phụ nữ, hay thậm chí cả việc phụ nữ nắm giữ những vị trí xã hội hay chuyên môn quan trọng, chúng tôi sợ rằng điều này sẽ mang tới sự phản đối tập trung đối với các nghị sĩ là phụ nữ.

Nhiều tổ chức quốc tế, nhà ngoại giao nước ngoài, UNAMA, và những phong trào xã hội dân sự và chính trị đang trỗi dậy ở Kabul chia sẻ một vài hoặc tất cả các mối quan tâm của chúng tôi về hậu quả khó lường và nguy hiểm của SNTV. Tuy nhiên Karzai đã ký bộ luật bầu cử SNTV vào ngày 25 tháng 5 năm 2004, những nổ lực to lớn nhằm thuyết phục ông ta và những người thân cận nhất của ông ta nhằm chuyển ngược lại với hệ thống PR danh sách tiếp túc cho tới tận đầu năm 2005. Đặc phái viên Liên hợp quốc Jean Arnault và đặc phái viên Liên minh châu Âu Francisco Vendrell dẫn đầu một nổ lực vận động hành lang, mà đáng chú ý là họ không hề có được sự ủng hộ của Đại sứ Hoa Zalmay Khalilizad— một người rất thân cận với tổng thống Karzai nhưng lại nghi ngờ tầm quan trọng của vấn đề hệ thống bầu cử. Tổ chức AREU và Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group) cùng chuẩn bị báo cáo về các vấn đề tiềm tàng của SNTV trong một nền dân chủ đang lên, trong khi đó các thành viên quốc tế kỳ cựu của JEMB đã viết các đề xuất bí mật mô tả về làm cách nào mà hệ thống SNTV có thể phá huỷ nền dân chủ non nớt của Afghanistan. 10

Vào ngày 17 tháng 1 năm 2005, 35 thành viên của nhóm Afghanistan 40 mà đã đăng ký đảng chính trị đã ra một tuyên bố chung nói rằng họ ủng hộ hệ thống PR danh sách và muốn một bộ luật bầu cử được chỉnh sửa cùng với những đề xuất trong bản luật dự thảo mà UNAMA đã trình lên. Để vượt qua định kiến chung về đảng chính trị, bản luật dự thảo của UNAMA đã nói về việc các ghế được dành cho “danh sách” thay vì dành cho đảng phái. Vào tháng 1 năm 2005, ba đối thủ chính của Karzai cho chiếc ghế tổng thống trong năm 2004 – các lãnh đạo phe đối Abdul Rashid Dostum (một nhà quân phiệt Uzbek), Yunous Qanooni (một Tajik từ Liên minh phương Bắc), và Haji Mohammad Mohaqiq (một Hazara)—đã tuyên bố ủng hộ PR danh sách thay vì SNTV.

Quán tính thay đổi dường như tràn ngập khắp nơi, và các thành viên của JEMB tin rằng Karzai đã quyết định chuyển ngược lại về hệ thống PR danh sách đóng với tỉnh lị làm đơn vị bầu cử như đượ vạch ra lúc đầu.11 Tuy nhiên, tới đầu tháng 2 năm 2005, một phản đối mới đối với hệ thống danh sách đóng đã trỗi dậy trong các thành viên nội các người Pushtun thân cận với Karzai, một người Pushtun. Họ sợ rằng hệ thống danh sách có thể có lợi cho những ứng viên không phải là người Pushtun mà có sức hấp dẫn như Dostum, Qanooni, và Mohaqiq, cũng như các ứng viên đối lập có thế lực hậu thuẫn. Điều này có thể làm chấn thương chiến thuật của Karai và những người thân cận của ông ta, những người đã vạch ra một bộ máy lập pháp được phân chia giữa những nghị sĩ người Pushtun mà phần đông họ, khi có sức ép, sẽ ủng hộ tổng thống Karzai – và một phe đối lập bi chia rẽ gồm những nghị sĩ không phải người Pushtun. Do đó, không cần nhiều nền tảng lý thuyết, tổng thống Karzai và các cố vấn của ông ta đã quyết định SNTV là hệ thống tốt nhất phục vụ lợi ích của họ.

Phản hồi lại quyết định này, tôi đã phác thảo một đề xuất gợi ý một phiên bản PR danh sách mở cho phép cử tri bỏ phiếu ủng hộ những ứng viên độc lập trong danh sách đảng. Được thuyết khách bởi cố vấn an ninh quốc gia của Karzai, Zalmay Rassoul – người sau này trình bày nó cho Karzai, đề xuất này đã được trình bày trước nội các bởi Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ali Jalali cùng với sự hỗ trợ từ một vài bộ trưởng không phải là người Pushtun. Nhưng trước khi tranh luận có thể được thực hiện, vào ngày 15 tháng 2 nội các tổng thống đã tuyên bố việc sử dụng hệ thống SNTV – mà chỉ có ba thành viên nội các bỏ phiếu chống.

Điều gì đã thực sự xảy ra

Kết quả cuối cùng của cuộc bầu cử lập pháp vào tháng 9 năm 2005, bị trì hoãn bởi tuyên cáo gian lận, cuối cùng cùng tuyên bố vào tháng ngày 12 tháng 11, và hệ thống lập pháp mới đã họp vào ngày 18 tháng 12. Xem xét những tranh cãi xung quanh lựa chọn của Afghanistan về một hệ thống bầu cử, hệ thống SNTV cuối cùng đã mang tới kiểu hệ thống lập pháp gì?

1) Mối quan hệ giữa lá phiếu với số ghế giành được: Liệu SNTV có mang tới một hệ thống lập pháp được đại diện rộng rãi bởi nhiều thang bậc chính trị trong xã hội Afghanistan thì khó mà đoán được. Hệ thống đảng thực sự rất sơ khai tới nỗi không ai có thể đơn giản so sánh phần chia số phiếu của các phong trào chính trị với số ghề mà họ giành được trong quốc hội. Có khoảng 33 đảng phái, phân nhóm và liên minh được định danh trong Wolesi Jirga, nhưng chỉ một số ít trong đó vận động trên một kiểu nền tảng lý tưởng mạch lạc. Phần đông còn lại, các nhóm này chỉ đơn giản tập hợp các nghị sĩ độc lập liên minh với các nhà độc tài dân tộc và khu vực.

Một thang đo sự cân bằng đó là cấp độ đa dạng sắc tộc trong hệ thống lập pháp mới. Thực vậy, đã có những nghi ngại rằng chính trị cực đoan (partisan politics) có thể tạo ra một khối đối lập Tajik-Uzbek-Hazara thách thức một tập hợp những nghị sĩ người Pushtun được cho là ủng hộ tổng thống Karzai. Phân tích gần đây của Andrew chỉ ra rằng tỉ lệ sắc tộc trong quốc hội mới của Afghanistan khá tương xứng với tỉ lệ sắc tộc phỏng đoán trên cả nước (tuy rằng những con số thống kê này thường gây tranh cãi, bởi chẳng có một điều tra toàn quốc nào được thực hiện trong suốt hơn ba thập kỷ).12

Tuy rằng hệ thống lập pháp mới bị chia rẽ bởi những ngăn cản sắc tộc, sắc tộc không hề là chia rẽ duy nhất được nhìn thấy. Chỉ 40% nghị sĩ Pushtun ủng hộ Karzai, trong khi 14% đứng về phe đối lập, và gần một nửa không đứng về phe nào – bao gồm nhiều nghị sĩ là phụ nữ. Tajiks bị chia cắt gần như bằng nhau giữa phe ủng hộ Karzai, phe đối lập, và những người trung lập; chỉ những nghị sĩ Hazara và Uzbek ngồi cùng nhau một cách đông đảo trên hàng ghế đối lập.

 

 

 

 

 

 

BẢNG 1—SẮC TỘC VÀ ĐẠI BIỂU

 

 

 

SỐ GHẾ NGHỊ VIỆN

 

PHẦN TRĂM SỐ GHẾ NGHỊ VIỆN

TỈ LỆ DÂN SỐ ƯỚC CHỪNG

 

SẮC TỘC

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Pushn

 

118

 

47

40–45

 

Tajik

 

53

 

21

20–25

 

Hazaa

 

30

 

12

10–13

 

Uzbk

 

20

 

8

8–10

 

Othes

 

28

 

12

n/a

 

Total

 

249

 

100

 

               

Nguồn: Andrew Wilder, “A House Divided? Analysing the 2005 Afghan Elections,” Afghanistan Research and Evaluation Unit, December 2005.

Cả phe ủng hộ Karzai và đối lập đều có xu hướng đẩy tới một hệ thống lập pháp được đặt trên nền tảng thủ cựu Hồi giáo. Gần 65 nghị sĩ là người Hồi giáo cực đoan, gồm cả khối ủng hộ Karzai như Abd al-Rabb al-Rasul Sayyaf và Burhanuddin và phe đối lập Qanooni đều là những nhóm tiên phong.  Các nhóm này có thể có được ủng hộ từ khoảng 47 nghị sĩ trong khối truyền thống trung dung hơn được lãnh đạo bởi những người Hazara Shi’ites. Nhóm nhỏ nhất trong quốc hội Wolesi Jirga bao gồm 43 nghị sĩ cấp tiến, bao gồm 13 nhà dân chủ tự do và cánh tả cũng như 20 nghị sĩ liên kết với Phong trào Hồi giáo quốc gia theo trào lưu chính thống của Dostum.

Một số chi tiết đáng chú ý về các thành viên của Wolesi Jirga, được xác định bởi một nhóm hoạt động vì nhân quyền có trụ sở tại Kabul, chỉ ra rằng họ không hoàn toàn đại diện cho người dân. Trong số 249 nghị sĩ, có 40 tướng quân vẫn dính líu tới quân sự, 24 người thuộc các băng đảng tội phạm, 17 người buôn lậu thuốc cấm, và 19 bị buộc tội nghiêm trọng trong chiến tranh. Thêm nữa, gần một nửa số nghị sĩ đã từng là mujahideen (hiệp sĩ thánh chiến) chống lại cuộc xâm lược của Liên xô vào những năm 1980.13

Khi nhận định mối quan hệ giữa lá phiếu và số ghế giành được trong Wolesi Jirga, điều quan trọng đó là phải nhấn mạnh rằng các ứng viên được bầu chọn không phải là những người mà phần đông người Afghanistan bỏ phiếu cho. Chỉ hơn hai triệu trong số hơn sáu triệu lá phiếu (32 phần trăm) được dành cho những ứng viên chiến thắng, và do đó bốn triệu phiếu (68 phần trăm) đã bầu cho những ứng viên thất bại. Mức độ “phiếu bầu phí hoài” thực sự là rất cao; so sánh với con số 5.3 phần trăm vào tháng 1 năm 2005 tại bầu cử của Iraq, và chỉ dưới 1 phầm trăm tại Nam Phi trong cuộc bầu cử đầu tiên năm 1994.

Lý do cho tỉ lệ phiếu bầu phí hoài cao như vậy là vì có quá nhiều đối thủ cạnh tranh, mà đây là hệ quả dễ thấy trong hệ thống SNTV. Với quá nhiều ứng viên trong mỗi tỉnh lị, lá phiếu đã bị rải rác ra một cách rất mỏng: Chiếc ghế chiến thắng đầu tiên ở mỗi khu vực giành được với tỉ lệ trung bình là 11.5 phần trăm số phiếu, và chiếc ghế cuối cùng giành được bằng 5.7 phần trăm số phiếu. Tại thủ đô Kabul, hơn 400 ứng viên tranh nhau 33 ghế, và chiếc ghế cuối cùng đã thuộc về một ứng viên chỉ với 0.5% số phiếu.

Thực vậy, hệ thống SNTV, tạo ra hiệu ứng sổ xố mà chúng tôi đã dự đoán, đặc biệt là ở các khu vực bầu cử lớn. Trung bình, chỉ có khoảng 864 phiếu bầu giữa ứng viên được bình chọn có số phiếu thấp nhất và ứng viên về nhì (đàn ông) có số phiếu cao nhất. Biên độ ngắn như vậy gây ra tranh cãi về kết quả bầu cử tại các khu vực bị làm sai bởi gian lận phiếu và lợi dụng chiến dịch tranh cử. Chúng cũng tạo ra những chao đảo hoang dã của sức mạnh lập pháp từ cuộc bầu cử này tới kỳ bầu cử kia: Cho dù là vì nhiệm kỳ – hoặc có lẽ chính bởi nó – phần lớn các nghị sĩ có thể dễ dàng bị đẩy bật ra vào kỳ tiếp theo sau đó.

      2) Sự thiết lập hệ thống đảng ổn định. Trong quá trình chạy đua tới bầu cử quốc hội, hệ thống SNTV được cho là làm chậm đi sự phát triển của một hệ thống đảng ổn định bằng việc gây ra phân mảnh chính trị, do đó làm cho công việc lập pháp quốc gia không phải là một công việc giữa các đảng phái chính trị có lý tưởng chặt chẽ mà thay vào đó là giữa các nhà quân phiệt và các nhà tôn giáo theo trào lưu chính thống. Kết quả bầu cử đã mang những niềm tin cho mỗi một mối quan tâm này. Chỉ 16 phần trăm trong số hơn 2700 ứng viên là tới từ các đảng chính trị đã đăng ký; những ứng viên này chỉ giành được ít hơn một phần ba tổng số ghế trong Wolesi Jirga.

Như đã chú ý ở trước, có khoảng 33 đảng phái, nhóm và liên minh được định danh trong tổng số 249 ghế nghị sĩ, và nhóm lớn nhất là đảng Afghanistan Mới của Qanooni với 25 ghế (10% tổng số). Các thành viên của Mặt trận Dân chủ Quốc gia, một liên minh bao gồm 14 đảng dân chủ khai phóng, chỉ giành được 7 ghế, và các ứng viên đại diện cho các đảng cánh tả cũ chỉ giành được 6 ghế. Ủng hộ Karzai là một tập hợp không thống nhất của những nhóm nhỏ được lãnh đạo bởi các cá nhân quyền lực mà quyền lợi của họ sẽ cần được đảm bảo mới có thể chắc chắn được một khối phiếu cho lịch trình lập pháp của tổng thống.

      3) Đảm bảo một lá phiếu rõ ràng và hiệu quả. Có nhiều bằng chứng mạnh mẽ về việc nhiều cử tri nhận thấy hệ thống SNTV và những lá phiếu với kích cỡ bằng tờ rơi khó hiểu. Bởi vì 49 phần trăm đàn ông Afghanistan và 79 phần trăm phu nữ Afghanistan là mù chữ, ủy ban bầu cử đã gán cho mỗi ứng viên một biểu tượng được in kèm vào trong tờ phiếu bầu bên cạnh tên và hình ảnh của ứng viên. Bởi vì không có đủ các biểu tượng khác nhau, một vài ứng viên có nhiều hơn một biểu tượng đi kèm, do đó tang thêm phần tạp hơn.14 Nhiều ứng viên, đặc biệt là những ứng viên chưa có kinh nghiệm trên chính trường, thấy thực sự khó khăn để giao tiếp với cử tri mù chữ dù cho là dung khuôn mặt của họ hay những biểu tượng được gán cho họ.

Theo một khảo sát ý kiến vào tháng 10 năm 2005 được thực hiện bởi Charney Research, lý do chính mà những người trả lời đã đưa ra cho việc không bỏ phiếu đó là họ không tìm thấy ứng viên mà họ muốn ủng hộ.15 Craig Charney cho rằng điều này là do chính lá phiếu, kết hợp với “tỉ lệ đi bỏ phiếu thấp tại Kabul với hệ thống bầu cử, mà ở đó cử tri thường mù chữ, phải chật vật với hang trang phiếu bầu.”16 Thêm nữa, sự phân mảnh cực độ của lá phiếu cũng chỉ ra rằng sự vắng mặt của đảng phái – ứng viên liên kết với đảng nào (parti affiliation) không được liệt kê trên tờ phiếu thầm chí đối với cả những ứng viên được hỗ trợ bởi đảng phái- rất khó đối với cử tri để có thể đoán được khối nào sẽ có được ảnh hưởng lên quốc hội mới.

Bằng chứng tiếp theo liên quan tới mức độ than phiền của cử tri tới từ tỉ lệ cao các lá phiếu không hợp lệ: 2.9% trong số phiếu bầu bị từ chối bởi vì chúng được đánh dấu lỗi hoặc đánh dấu vào những ứng viên không đủ tiêu chuẩn, và 2.1% bị từ chối vì phiếu trắng. Tổng số phiếu không hợp lệ là 5% so với dưới 1% tại Nam Phi trong cuộc bầu cử năm 1994, 1.1% tại cuộc bầu cử vào tháng 1 năm 2005 tại Iraq, và 2.4% trong cuộc bầu cử tháng 11 năm 2005 tại Liberia. Cử tri gặp khó khăn khi bỏ phiếu có thể là một trong những lý do chính đằng sau tỉ lệ đi bầu thấp, giảm từ 69% trong tháng 10 năm 2004 xuống 50% trong cuộc bầu cử quốc hội tháng 9 năm 2005 (thấp tới mức chỉ còn 29% ở miền Nam). Tại Iraq, đối lập lại, tỉ lệ đi bầu tăng từ 58 phần trăm trong tháng 1 năm 2005 lên 70 phần trăm vào tháng 12 năm 2005.

       4)Cho phép hệ thống hành pháp và lập pháp điều hành đất nước. Nghị viện mới có nhiều khả năng sẽ cản trở tiến trình cải cách của tổng thống Karzai. Quá nhiều lợi ích chồng chéo và phân mảnh chính trị cực đoan gây ra bởi hệ thống SNTV có nghĩa là Karzai sẽ phải tạo ra đa số một cách qua loa đối với mỗi điều luật bằng những lời hứa hảo và mua phiếu.

Karzai giành được 55 phần trăm số phiếu trong kỳ bầu cử 2004 – nhiều hơn ba lần số phiếu của đối thủ theo ngay sau – nhưng phe ủng hộ Karzai trong Wolesi Jirga chỉ chưa đầy một phần ba (và không hề thống nhất). Phe đối lập chiếm nhiều hơn một phần ba một chút, và còn lại là các nghị sĩ không theo nhóm nào cũng chiếm nhiều hơn một phần ba một chút. Sức mạnh của phe đối lập với Karzai trở nên rõ ràng khi, ngay khi quốc hội mới nghị họp, Qanooni giành được chức chủ tịch quốc hội được ao ước với chiến thắng 122 phiếu so với 117 phiếu của Sayyaf, đối thủ ưa thích của Karzai. Qanooni ngay sau đó từ chức khỏi vị trí quyền lực thực sự như một lãnh đạo đối lập và để lại vị trí này cho Rabbani, người được cho là thuộc phe ủng hộ Karzai.

       5)Khuyến khích phụ nữ năng động trong quốc hội. Phụ nữ được hiện diện trong quốc hội chính là hiệu ứng tích cực duy nhất của hệ thống SNTV. Cơ chế chỉ tiêu, một cách đảm bảo tổng số ứng viên phụ nữ được bầu là 68 (tức trung bình 2 phụ nữ cho mỗi tỉnh) vẫn không hề bị thay đổi. Hiệu ứng phân mảnh của hệ thống SNTV đã giúp 19 phụ nữ – 8 phần trăm trong tổng số lượng nghị sĩ – được bầu bởi chính quyền của họ mà không cần giúp đỡ của cơ chế chỉ tiêu (affirmative action mechanism).  Ví dụ, tại tỉnh Herat rộng lớn phía tây, ứng viên nữ Fauzia Gailani đã giành được số phiếu nhiều hơn tất cả các ứng viên nam, bao gồm cả những ứng viên được hỗ trợ bởi các nhà tài phiệt chiến tranh. Tại tỉnh Farah, ứng viên nữ Loya Jirga đạt được vị trí thứ hai; bà đã dũng cảm phê phán nhà tài phiệt chiến tranh tại một buổi hội nghị của Joya Jirga (lập ra để soạn thảo hiến pháp mới cho Afghanistan), và kết quả bầu cử của bà có thể là kết quả từ các phiếu chống đối do những cử tri chán ghét các ứng viên nam truyền thống, tham nhũng và hiếu chiến.17 Cần chú ý đó là vào tháng 12, quốc hội mới chọn ra phó chủ tịch quốc hội là Fawzia Kofi, một người đã được bầu mà không cần sự giúp đỡ của chỉ tiêu dành cho tỉnh phía đông Badakhshan.

 

 

 

 

 

BẢNG 2—KẾT QUẢ BẦU CỬ AFGHANISTAN

 

 

 

 

 

 

 

BẦU CỬ TỔNG THỐNG 2004

GBẦU CỬ NGHỊ VIỆN 2005

 

KHỐI

 

 

 

(% PHIẾU)

(% GHẾ)

 

Ủng hộ Karzai

55

32

 

 

 

 

 

Phản đối Karzai

45

34

 

Yunous Qanooni

16

10

 

Abdul Rashid Dostum

10

8

 

Haji Mohammad Mohaqiq

12

7

 

Khác

7

9

 

Không liên minh

34

 

Nguồn: JEMB

 

 

 

 

Tự trung lại, 68 nữ nghị sĩ tạo thành một khối phiếu cao đáng kể, mà phần đông họ không liên minh với những quan tâm truyền thống. Tuy nhiên, ảnh hưởng trong tương lai trong nghị viên vẫn còn chưa rõ ràng. Trong khi lo sợ của chúng tôi rằng nhiều phụ nữ có thể được bầu chỉ với số phiếu rất thấp so với những ứng viên nam thất bại vẫn không biến mất, 49 trong số 68 nữ nghị sĩ vẫn phải nhờ tới cơ chế chỉ tiêu trong quá trình bầu cử, vượt qua 422 ứng viên nam với số phiếu cao hơn họ (trung bình mỗi đơn vị bầu cử có 12 ứng viên nam có số phiếu cao hơn nghị sĩ nữ).

Thậm chí 19 phụ nữ được bầu mà không cần hỗ trợ của cơ chế chỉ tiêu cũng chỉ nhận được 3% số phiếu; cuộc bầu cử của họ chỉ đơn giản là kết quả của hiệu ứng xổ số của SNTV. Tự trung lại, 68 phụ nữ được bầu chỉ chiếm khoảng 2.3% số phiếu mỗi người – thấp hơn rất nhiều so với các ứng viên nam. Người phụ nữ có phần trăm phiếu bầu cao nhất cũng chỉ đạt được 9.2% số phiếu tại tỉnh Panshjir Valley – trung tâm của Liên minh phương Bắc – và số phiếu cao nhất dành cho một phụ nữ đó là 9.092 phiếu cho người về thứ ba tại tỉnh Nangarhar. Tại tỉnh Zabul, người phụ nữ với sự hỗ trợ của cơ chế chỉ tiêu số phiếu cũng chỉ đạt được 751 phiếu, trong khi người chiến thắng là một nam ứng viên với số phiếu là 1816.

Tuy nhiên, ưu điểm mà phụ nữ đạt được từ hệ thống ưu tiên, không làm giảm đi tiến triển kỳ diệu mà họ đã làm được trên chính trường Afghanistan. Sự vươn lên của họ thực sự rất đáng coi trọng khi xem xét việc họ bị đàn áp dưới thời Taliban chỉ vài năm trước đó.

Điều gì tiếp theo?

Tự trung lại, hệ thống bầu cử STNV với kích thước khu vực cử tri lớn đã dẫn tới những kết quả mà các chuyên gia đã phán đoán từ trước: Nó làm giảm số cử tri đi bầu bởi những lá phiếu khó hiểu, nó tạo ra một hệ thống lập pháp phân mảnh và thiếu tính đại diện, và nó kìm hãm sự hợp tác của hệ thống lập pháp và hành pháp. Và nó đã không giúp cho Tổng thống Karzai, như bản thân ông và các cố vấn của ông đã kỳ vọng. Karzai và nội các của ông ta đã vẽ ra một sự trỗi dậy từ khối đa số Pushtun trung thành mà dựa vào đó hệ thống hành pháp có thể phản hồi tốt với hỗ từ hệ thống lập pháp. Trong khi hệ thống SNTV ở một mức độ nào đã đã phân mảnh phe đối lập cũng như làm chậm lại sự hình thành của những đảng phái mới, nó cũng phân mảnh cơ sở người Pushtun đông đảo của tổng thống. Thực vậy, nó biến đổi cái đa số tuyệt đối mà ông ta đã giành được tại cuộc bầu cử tổng thống thành một khối tách rời bao gồm không quá một phần ba toàn bộ Wolesi Jirga.

Như đã dự đoán, hệ thống lập pháp mới đã cho thấy bản thân nó trở thành một nơi mặc cả mua bán chính trị, con ông cháu cha và liên minh tráo trở, nơi những người đàn ông với những quá khứ đen tối có thể ảnh hưởng đáng kể lên tương lai của nền dân chủ Afghanistan. Bởi các đảng tiến bộ và theo hướng dân chủ khai phóng gặp phải những cản trở lớn trong việc truyền đi thông điệp của họ và do đó khó có được nhiều ứng viên đắc cử, phần nhiều hi vọng vào một sự trung dung và cải cách ôn hòa giờ chỉ còn trông chờ vào 68 nữ nghị sĩ, phần lớn số họ không liên minh với bên nào và độc lập khỏi hệt thống quyền lực truyền thống. Nếu số ghế chỉ tiêu của phụ nữ bị hủy bỏ vào một lúc nào đó, viễn cảnh cải cách và tiến trình dân chủ sẽ còn mong manh và khó trở thực hiện được hơn bây giờ.

Hệ thống bầu cử SNTV xuất hiện bởi một lộ trình đầy những bước đi sai lầm, và nó là một tổn thất đối với hàng triệu người Afghanistan, những người xứng đáng có một công cụ rõ ràng và minh bạch để xây dựng một quốc hội dân chủ đầu tiên của họ. Nếu SNTV được sử dụng trong những cuộc bầu cử tiếp theo, sự phân mảnh và chủ nghĩa địa phương trong hệ thống lập pháp sẽ còn tệ hơn, và chính trị nói chung sẽ bị tách rời khỏi số đông.

Không hệ thống bầu cử nào có thể biến đổi một thể chế không tự do thành một nền dân chủ đại diện mà thiếu những chuyển đổi tổ chức, kinh tế và xã hội hỗ trợ. Nhưng một hệ thống bầu cử đại diện được dự thảo hợp lý – một hệ thống vừa có tính tỉ lệ và cho phép người Afghanistan bỏ phiếu cho những ứng viên riêng lẻ – có thể khuếch trương mạnh mẽ sự hợp tác giữa hệ thống hành pháp và lập pháp. Chỉ bằng cách áp dụng một hệ thống như vậy thì Afghanistan mới có thể tránh khỏi những sự bất thường quá rõ ràng trong cuộc bầu cử Wolesi Jirga 2005.

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH: 

  1. Lời mở đầu trong Hiệp định Bonn, tên chính thức là Hiệp định về Thiết lập Tạm thời tại Afghanistan trong lúc chờ đợi một sự tái thiết lập Thể chế Chính phủ Vĩnh viễn, ký vào ngày 5 tháng 12 năm 2001. Xem them tại un.org/news/ dh/latest/afghan/afghan-agree.htm.
  2. Chris Johnson, William Maley, Alexander Thier, và Ali Wardak, “Afghanistan’s Political and Constitutional Development,” báo cáo bởi Overseas Development Institute và UK Department vì International Development, London, January 2003. Xem them tại odi.org.uk/hpg/papers/evaluations/ afghandfid.pdf. In the interests of full disclosure, I was a consultant to this study.
  3. Chris Johnson, et al., “Afghanistan’s Political and Constitutional Develop-ment,” 7.
  4. Xem Barnett Rubin, “Crafting the Afghan Constitution,” Journal of Democ-racy 15 (July 2004): 5–19.
  5. Xem Larry Goodson, “Afghanistan’s Long Road to Reconstruction,” Journal of Democracy 14 (January 2003): 82–99.
  6. Đoạn hội thoại kín giữa tác giả với các thành viên quốc tế của JEMB, một nội các bộ trưởng Afghanistan, và những người thân cận với quá trình bầu cử.
  7. Vua Hussein tin rằng giới hạn mỗi cử tri một phiếu bầu trong một nền tảng bầu cử đa thành viên sẽ làm giảm khả năng đắc cử của tổ chức Hội anh em Hồi giáo. Các cuộc bầu cử theo sau đã chứng minh nhận định này. Xem them Andrew Reynolds và Jorgen Elklit, “Jordan: Electoral System Design in the Arab World,” tại Andrew Reynolds và Ben Reilly, eds., International IDEA Handbook of Electoral System Design (Stockholm: International IDEA, 1997), 53–54.
  8. Andrew Reynolds và Andrew Wilder, Free, Fair or Flawed: Challenges for Legitimate Elections in Afghanistan (Kabul: Afghanistan Research and Evaluation Unit, 2004).
  9. The memo was solicited by Karzai’s National Security Advisor, Zalmay Rassoul, and was discussed with Minister of Reconstruction Amin Farhang and Finance Minister Ashraf Ghani before reaching President Karzai.
  10. Xem Andrew Reynolds, Lucy Jones, và Andrew Wilder, “A Guide to Parlia-mentary Elections in Afghanistan,” Afghanistan Research and Evaluation Unit, August 2005, available at areu.org.af; and International Crisis Group, “Af-ghanistan: From Presidential to Parliamentary Elections,” Asia Report 88, 23 November 2004.
  11. Đoạn hội thoại kín giữa tác giả với các thành viên quốc tế của JEMB.
  12. Andrew Wilder, “A House Divided? Analysing the 2005 Afghan Elections” Afghanistan Research and Evaluation Unit, December 2005, 8. Available at areu.org.af.
  13. Đọc them tại “Let’s Make A Deal: A Democracy Arrives, Afghan Style,” New York Times, 4 December 2005, 14.
  14. Các ứng viên được đưa cho một lựa chọn trong ba biểu tượng vẽ một cách ngẫu nhiên. Những biểu tượng này bao gồm hình vẽ các con vật, loại hình phương tiện đi lại, điện thoại, dàn khoan dầu, và kiểu thời tiết. Ba mươi lăm nghị sĩ đắc cử với biểu tượng động vật (biểu tượng chim dẫn đầu với 16 người); 32 người giành chiến thắng với biểu tượng máy bay, tàu lửa, hay ô tô (cộng thêm bốn biểu tượng tàu biển tại đất nước chỉ có đất liền này); và có 14 nghị sĩ đắc cử với biểu tượng hoa quả.
  15. ABC News poll, “Despite Deep Challenges in Daily Life, Afghans Express a Positive Outlook,” 7 December 2005. Available at https://abcnews.go.com/images/ Politics/998a1Afghanistan.pdf.
  16. Nhận xét của Craig Charney trong “Afghanistan at a Crossroads,” một hội thảo bàn tròn do Century Foundation tổ chức, 7 tháng 12 năm 2005.
  17. Xem them Andrew Wilder, “A House Divided?”