Jih-wen Lin

Jih-wen Lin là nghiên cứu sinh của học viện khoa học chính trị tại Academia Sinica, giáo sư tại Đại học Quốc gia Chengchi và Đại học quốc gia Sun Yat-sen ở Đài Loan. Những bài báo của ông đã xuất hiện trong hai cuốn Electoral Studies, China Quarterly, Journal of East Asian Studies,Issue and Studies. Bài viết này lần đầu được xuất bản vào tháng 4 năm 2006, Tạp chí Dân chủ.

***

Một trong những điểm tương đồng giữa chính trị Nhật Bản và Đài Loan đó là sử dụng phương pháp bầu cử lá phiếu đơn bất khả nhượng (SNTV) để bầu cử đại diện cơ quan lập pháp. Bên cạnh đó, nhiều năm qua, cả hai đất nước này đã trải qua những cải cách bầu cử quan trọng, điều đó dẫn đến việc hệ thống bầu cử đang chuyển sang phương pháp đại diện tỉ lệ hỗn hợp. Những biện pháp cải cách ở cả hai đất nước này đã được thảo luận rất lâu trước khi được thực hiện (Nhật Bản năm 1994 và Đài Loan năm 2005). Điều này buộc chúng ta phải đặt ra câu hỏi: Liệu có điều gì ẩn đằng sau những thay đổi gần đây?

Nhật Bản và Đài Loan được coi như là những hình mẫu cho các nước mới phát triển. Nhật Bản cho dù bị thiệt hại nặng nề sau chiến tranh Thế giới thứ 2, nhưng kể từ những năm 1960 tốc độ phát triển kinh tế của Nhật ở mức cao nhất trên thế giới. Đến năm 1990, tốc độ phát triển mới có dấu hiệu chậm lại do hậu quả của thị trường chứng khoán bị sụp đổ. Đài Loan cũng bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, nhưng cũng đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt bậc cho dù vẫn phải chịu sự cô lập trong các quan hệ ngoại giao.  Rất nhiều nhà lý luận phát triển đã khái quát hóa hiện tượng phát triển của Nhật Bản và Đài Loan thành hướng dẫn cho chủ nghĩa phát triển. Tuy nhiên, Nhật Bản và Đài Loan lại khác với những định kiến về các nước phát triển, bởi họ có một hệ thống bầu cử dân chủ cạnh tranh từ lâu, và đây là một điều kiện quan trọng của dân chủ.1

Bầu cử đã trở thành một phần không thể thiếu trong việc xây dựng nhà nước hiện đại của Nhật Bản và Đài Loan. Cạnh tranh bầu cử tồn tại ngay cả trong thời kỳ hoàng kim của chế độ độc tài. Vậy làm thế nào mà chủ nghĩa phát triển có thể cùng tồn tại với cạnh tranh bầu cử ở cả hai nước này? Nói cách khác, việc gì đã khiến cho các nhà hoạch định kinh tế không bị can thiệp bởi các chính trị gia? Câu trả lời sẽ rất hữu ích cho những đất nước đang cố gắng theo đuổi hai mục tiêu: phát triển kinh tế và cải cách chính trị.

Đầu mối quan trọng nằm ở cách tiến hành bầu cử như thế nào. Để đạt được lợi ích kinh tế, người lãnh đạo của nhà nước thuộc chủ nghĩa phát triển sẽ thường xuyên tìm cách định hình vai trò của các chính trị gia để nhóm này ủng hộ các kế hoạch chứ không phải để tranh luận về chính sách. Cuối cùng, bầu cử tập trung chủ yếu vào lợi ích cá nhân mà ít quan tâm đến những vấn đề chính trị. Liên minh cầm quyền ổn định cần phải chèo lái để tránh sự bất mãn của những người theo chủ nghĩa phát triển tự do điều hành kinh tế. Hệ thống bầu cử SNTV đáp ứng được những nhu cầu này, đó là lí do vì sao trong nhiều thập niên tại Nhật Bản và Đài Loan đều đặc biệt áp dụng hệ thống bầu cử này. Hệ thống này rất ít được áp dụng, ngày nay chỉ còn ở Jordan, Afghanistan, Vanuatu và đảo Pitcairn sử dụng để chọn ra những cơ quan lập pháp quốc gia. Tại Nhật Bản và Đài Loan, SNTV được sử dụng từ khi bắt đầu có cạnh tranh bầu cử đến cải cách bầu cử gần đây (năm 1994 và năm 2005), Nhật Bản và Đài Loan mới sử dụng hệ thống bầu cử hỗn hợp. Khi xem xét về kinh nghiệm của Hàn Quốc với cùng một hệ thống, SNTV là một đặc trưng mang tính định hình của mô hình dân chủ ở Đông Á.2

Dưới hệ thống bầu cử SNTV, mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu cho một ứng viên cụ thể trong một đơn vị bầu cử thường là đa thành viên; số phiếu bầu của một ứng viên không được phép chuyển sang cho ứng viên khác; và ghế được phân bổ theo nguyên tắc đa số tương đối cho những ứng viên có số phiếu bầu cao nhất. Hệ thống này độc đáo ở chỗ, ngưỡng chiến thắng sẽ giảm khi số lượng ứng viên được chọn từ các đơn vị bầu cử tăng lên. Điều này làm cho hệ thống có tính tỉ lệ hơn – bởi sự phân bổ ghế của các đảng tương xứng chặt hơn với tỷ lệ phiếu bầu tương ứng – nhưng số phiếu đi tới các cá nhân hơn là các đảng. Ngược lại, trong hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ (PR) danh sách mở, phiếu bầu cho bất cứ ứng viên nào trong đảng đều là một điều tốt cho cả Đảng, đến mức mà những lá phiếu bầu cho một ứng viên nằm ở trên ngưỡng sẽ được chuyển giao sang ứng viên khác cũng trong Đảng. Theo cách này thì số ghế sẽ được phân bổ theo tỷ lệ với tổng số phiếu chung của Đảng. Khi áp dụng hệ thống bầu cử SNTV, lá phiếu mà một ứng viên giành được sẽ không thể chuyển nhượng và một người được chọn chỉ phụ thuộc vào số phiếu mà họ nhận được. Bởi vì hạn chế chỉ được bầu một ứng viên, các cử tri thường có xu hướng bầu cho người nào phục vụ được lợi ích đặc biệt của họ.

SNTV đưa tới một số kết quả sau. Đầu tiên, hệ thống bầu cử SNTV thúc đẩy ứng viên được chọn xây dựng mạng lưới bảo trợ, và đó là cách tốt nhất để đảm bảo sự hỗ trợ từ các nhóm lợi ích cụ thể. Thứ hai, nó tạo ra bè phái và chia rẽ trong các đảng phái chính trị khi các ứng cử viên phải cạnh tranh với nhau qua các lá phiếu của cử tri trung thành. Thứ ba, nó ưu ái các đảng có tổ chức, vốn có thể điều phối các ứng viên, cũng như phân bổ phiếu bầu của những người ủng hộ để tối đa hóa số lượng đắc cử ở mỗi địa phương. Thứ 4, nếu áp dụng hệ thống SNTV, những người mà sự đắc cử của họ bị phụ thuộc vào sự bảo trợ hay kết nối đặc biệt nào khác cần nhận được hỗ trợ từ một liên minh ổn định mà có thể xoay xở nhiệm vụ phân bổ nguồn lực và phối hợp ứng cử một cách hiệu quả.

Những đặc điểm của hệ thống SNTV giải thích tại sao những nhà cầm quyền ở Nhật Bản và Đài Loan lại muốn sử dụng nó. Một liên minh cầm quyền mạnh có thể được thành lập với sự tham gia của những người xây dựng nhà nước, tức là những người hoạch định phát triển kinh tế, và những đại biểu được chọn, tức những người hợp pháp hóa quá trình đó. Ngoài ra, SNTV có xu hướng gây ra mâu thuẫn và phân mảnh nội bộ giữa các đảng đối lập.3 Nhưng liên minh lãnh đạo cũng phải trả giá cho những lợi ích này. Việc tài trợ cho một nền chính trị được tạo ra bởi hệ thống bầu cử SNTV đòi hỏi rất nhiều chi phí. Điều này trở thành gánh nặng khi nền kinh tế không còn duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh nữa. Hơn thế, những công dân không thể kết nối với mạng lưới bảo trợ có thể đứng lên đòi hỏi cải cách, mà chính phủ không thể lúc nào cũng có thể đáp ứng được. Ở Nhật Bản và Đài Loan, những bất bình xã hội như vậy luôn tồn tại sau mỗi cuộc bầu cử.

Điều thú vị là ở cả hai nước, sáng kiến thay đổi bầu cử phần lớn xuất phát từ chính bên trong đảng đang chiếm ưu thế. Vậy làm thế nào điều này lại có thể xảy ra, khi cấu trúc của đảng thống trị dựa phần lớn vào hệ thống SNTV? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần phải kiểm nghiệm những lựa chọn chiến lược mà một số chính trị gia điều hành đảng đã chọn lựa khi phải đối mặt với phản ứng từ xã hội. Khi hệ thống SNTV bắt đầu bị lên án, các chính trị gia tìm cách để đảm bảo sự sống chính trị của mình bằng việc kêu gọi cải cách. Thật vậy, các trường hợp của Nhật Bản và Đài Loan cho thấy sự thành công của cải cách bầu cử thường xoay quanh cuộc đấu tranh quyền lực giữa các bên đương nhiệm.

Sự lên án của công chúng về hiện trạng thường xuyên được coi là một nguồn lực thúc đẩy cải cách bầu cử. Ở Nhật Bản, các cuộc tranh luận về cải cách có được quán tính khi một số vụ bê bối đã thay đổi nhận thức của người dân Nhật Bản về hệ thống cũ hiện đã bị tham nhũng ăn sâu.4 Ở Đài Loan, những tranh luận cải cách được kích hoạt bởi sự bất bình của công chúng đối với bộ máy lập pháp quốc gia không hiệu quả và hỗn loạn.5 Tuy nhiên, dù rằng sự bất bình của dân chúng là thành phần không thể thiếu của mỗi cuộc cải cách, nhưng nó cũng không phải là lời giải thích đầy đủ cho thành công của cải cách ở Nhật năm 1990 và ở Đài Loan trong nửa thập niên trước. Một nhân tố quan trọng khác đó là niềm tin của một vài nhà lập pháp đương nhiệm rằng một hệ thống mới có thể nâng cao cơ hội tái cử của họ.6 Nhưng bởi vì cải cách có thể gây khó khăn cho những thành viên yếu hơn trong quốc hội trong việc tái cử, các nhà cải cách cũng gặp khó khăn trong việc tập hợp đa số cần có để thay đổi hệ thống bầu cử. Vậy làm thế nào mà họ có thể tập hợp được một liên minh được với đa số thành viên trong quốc hội ở Nhật Bản và Đài Loan?

Như đã lập luận ở trên, việc duy trì hệ thống đảng thống trị đòi hỏi chi phí rất lớn, và suy thoái kinh tế có thể gây ra những phản đối từ phía công chúng lên chính phủ. Ở cả Nhật Bản và Đài Loan, sự bất mãn của công chúng đã tác động đến sức mạnh bầu cử của chính phủ, và cuối cùng đã tước đi quyền thống trị của Đảng cầm quyền. Khi đối mặt với thách thức này, các chính trị gia cầm quyền được bầu vì hình ảnh cá nhân (chứ không phải do những kết nối đặc thù) đã bắt đầu suy tính những chiến lược quyết định sự tồn vong của hệ thống chính trị. Cả hai nước đều đưa ra những giải pháp giống nhau: thúc đẩy thay thế hệ thống bầu cử SNTV bằng hình thức bầu cử FPTP – ở hệ thống này, người giành được nhiều phiếu nhất ở mỗi khu vực bầu cử một thành viên sẽ là người trúng cử – họ đứng lên lãnh đạo đảng dựa vào nền tảng chính trị chứ không phải dựa theo phe phái. Tuy nhiên làm thế nào mà những chính trị gia này có thể vận hành quá trình cải cách, khi mà họ chỉ là thiểu số?

Cải cách hệ thống bầu cử thành công ở các quốc gia đang sử dụng hệ thống bầu cử SNTV phụ thuộc vào ba điều kiện. Đầu tiên, chính những nhà cải cách phải được hưởng lợi từ hệ thống bầu cử mới và đang được đề xuất. Với hệ thống bầu cử FPTP thay thế SNTV, các nhà chính trị dựa vào mức độ nổi tiếng của cá nhân để giành chiến thắng thường giúp thúc đẩy cải cách. Khi chỉ một ứng viên được chọn từ một đảng, các cử tri bỏ phiếu dưới hệ thống FPTP dễ bị ảnh hưởng bởi hình ảnh của ứng viên và danh tính đảng phái, trong khi nếu dùng hệ thống bầu cử SNTV, họ được khuyến khích bầu cho những ai mang lại cho họ lợi ích đặc biệt.  Thứ hai, cải cách bầu cử sẽ khả thi hơn nếu như không đảng phái nào kiểm soát phần lớn quốc hội. Khi có một đảng kiểm soát phần lớn quốc hội, những thành viên cảm thấy không an toàn về mặt bầu cử của đảng đó sẽ đứng lên chống lại cải cách.7 Ngoài ra cũng có ít khuyến khích đối với phần trung tâm của đảng đa số ủng hộ cải cách bầu cử khi mà đảng này vẫn duy trì vị trí thống lĩnh của nó. Điều này cũng chỉ ra rằng khi sức ép từ xã hội quá lớn, một số thành viên của đảng cầm quyền sẽ quyết định thành lập nhóm cải cách, và khi đó Đảng này sẽ có nguy cơ bị chia rẽ.

Thứ ba, để mang lại một sự thay đổi thoát khỏi hệ thống bầu cử SNTV, cần có một số khuyến khích cho đa số các nhà lập pháp trong việc phê chuẩn đề xuất cải cách. Những Đảng nhỏ (hoặc ứng viên độc lập) nhận thấy nguy hiểm cho sự tồn tại của họ khi thực hiện hệ thống bầu cử như FPTP, và họ có thể đồng ý ủng hộ cải cách như vậy để đổi lấy những lợi ích như vị trí trong nội các, các mục ngân sách hoặc chính sách ưu đãi. Một lý do khác để họ tham gia vào liên minh cải cách có thể là vì họ sợ bị mất phiếu bầu cử cho lần tiếp theo nếu họ phản đối cải cách.

Những yêu cầu về mặt pháp lý cho cải cách hệ thống bầu cử khác nhau ở từng nước. Ở một vài quốc gia, hệ thống có thể được thay thế bởi các nghị định thuộc khối hành pháp, trong khi ở những nước khác lại đòi hỏi đa số hoặc siêu đa số (cao hơn 50%) quốc hội thông qua. Nếu một quốc gia đã dân chủ, sẽ cần phải có một số hình thức ủng hộ từ khối lập pháp ở những mức độ khác nhau, và ngưỡng sẽ biến thiên tùy hoàn cảnh. Ngưỡng càng cao, chi phí liên quan đến việc tạo liên minh ủng hộ cải cách cũng càng cao. Như chúng ta sẽ thấy sau đây, Nhật Bản và Đài Loan đều đáp ứng được ba điều kiện trên, và tốc độ tương đối mà mỗi nước ban hành cải cách có thể được giải thích bởi các yêu cầu thể chế khác nhau.

Nhật Bản:  Kế hoạch Cũ cho một Quốc gia Mới

Hệ thống bầu cử SNTV đã tồn tại rất lâu ở Nhật Bản. Được lựa chọn bởi những người xây dựng đất nước Nhật Bản hiện đại,8 hệ thống này đã được sử dụng trong hầu hết các cuộc bầu cử từ cuối thế kỉ XIX cho đến năm 1994. Hình thức hiện tại của hệ thống SNTV đã được áp dụng từ năm 1947 và cùng tồn tại với sự thống trị lâu năm của Đảng Dân chủ Tự do LDP (từ năm 1955 đến 1993).9 Những tai tiếng chính trị bùng nổ dưới sự thống trị của Đảng LDP, và trước sự phản kháng của người dân, Đảng LDP đã nhận ra những sai sót của hệ thống bầu cử. Năm 1956, Thủ tướng Ichiro Hatoyama với hi vọng quốc hội Nhật Bản có thể sửa đổi hiến pháp đã không thành công khi muốn thay thế hệ thống SNTV bằng hệ thống FPTP. Sau năm 1960, hạ viện đã thành lập Hội đồng tư vấn cải cách bầu cử có nhiệm vụ chính trong việc thu hẹp những đề xuất thành các biện pháp thay thế (hầu hết là sự kết hợp giữa SNTV và FPTP). Tuy nhiên phải đến tận năm 1994, khi cả ba điều kiện trên được đáp ứng, những đề xuất của hội đồng mới nhận được sự ủng hộ từ Quốc hội.

Trong suốt những thập niên thống trị của Đảng LDP, hàng loạt các thủ tướng ủng hộ hệ thống bầu cử FPTP khi nhận ra rằng số ghế của đảng cầm quyền sẽ được tăng cường nhờ tính tỉ lệ tương đối thấp của các hệ thống được đề xuất này. Các đảng phái cải cách, chủ yếu bao gồm những kẻ đảo ngũ từ Đảng LDP, đã bị đưa tới việc thúc đẩy cải cách bầu cử bởi chính logic của việc họ tự thừa nhận là những người cải cách. Tuy nhiên, họ cũng có nhiều lí do khi quyết định lựa chọn ủng hộ đề xuất nghiêng về phía FPTP. Ví dụ, nền tảng ủng hộ LDP, do hiệu ứng phụ thuộc của nó vào các mạng lưới đặc thù, lại chủ yếu là ở vùng nông thôn; vì vậy, các đảng cải cách nhìn thấy triển vọng đạt được lợi ích bầu cử  tại các khu vực đô thị.

Trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1993, hai đảng cải cách chính khi đó là Đảng Nhật Bản Mới (JNP) và Đảng Đổi Mới Nhật Bản (JRP) đã thể hiện rất tốt, tước đi vị thế đa số của Đảng LDP. Điều này còn thúc đẩy cả hai đảng giới thiệu những hệ thống cải cách bầu cử mới, khiến cho Đảng LDP khó khăn hơn trong việc giành lại được quyền lực của mình bằng các chiến thuật bảo hộ cường độ lớn mang tính truyền thống của nó.10 Hơn nữa, trong khi 42,9% ứng viên được bầu cử thuộc Đảng JNP và 44,4% ứng viên thuộc đảng JRP đạt được số phiếu cao nhất ở khu vực bầu cử của họ, trong số tất cả các ứng viên đắc cử của Đảng LDP, chỉ có 25,3% là dẫn đầu ở khu vực bầu cử của họ. Điều này cho thấy rằng những ứng viên thành công ở đảng đối lập sẽ có nhiều cơ hội được chọn, ngay cả khi có áp dụng hệ thống FPTP.

Sự chia tách của đảng LDP, cũng như những thay đổi khác trong hệ thống đảng, đã mang đến những lý do bổ sung về việc tại sao cải cách bầu cử lại thành công trong đầu những năm 90. Trên thực tế, một trong số những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của đảng LDP đó là do mâu thuẫn và tranh chấp nội bộ. LDP thậm chí còn bị suy yếu khi những nhà cải cách từ bỏ đảng mà thành lập hoặc gia nhập vào các đảng đối lập. Cũng đáng chú ý rằng tất cả các đề xuất cải cách năm 1956, 1976 và cuối 1980 đều bị từ chối khi đảng LDP vẫn cầm quyền.11 Kết quả của bầu cử năm 1993 rõ ràng chỉ ra rằng người Nhật muốn trừng phạt thích đáng những ai chống lại cải cách. Những người đặc biệt bị mất uy tín tới từ Đảng xã hội và Cộng sản, bằng chứng chính là sự thể hiện bầu cử nghèo nàn của họ. Điều này được xem như một báo động đối với các chính phủ liên minh, những người nhìn chúng thì ủng hộ cải cách bầu cử nhưng không tự tin vào vận may của mình dưới chế độ bầu cử FPTP – dường như nếu họ phản đối dự thảo cải cách thì cử tri sẽ trừng phạt họ.

Sau sự xáo trộn của hạ viện năm 1993, tranh luận về cải cách bầu cử đã đạt được quán tính của nó. Đảng JRP và Đảng Chính phủ Trong sạch (CGP) ủng hộ một hệ thống hỗn hợp với thành phần FPTP, trong khi JNP và Đảng Người Báo Hiệu Mới (New Harbinger Party-NPH) lại cương quyết muốn sử dụng hệ thống bầu cử hai lá phiếu, mà ở đó các cử tri bỏ một phiếu cho một đảng và phiếu khác cho một ứng viên.

Phiên bản cuối cùng của luật bầu cử mới được đề xuất bởi chính quyền liên minh là một thỏa hiệp, như đã được thể hiện bởi hình thức hai lá phiếu, nhưng tỷ lệ cao của ghế theo bầu cử FPTP vẫn phản ánh sức ảnh hưởng của các chính trị gia tự tin về khả năng nhận được phiếu bầu cho mình. Bản dự thảo được đưa ra như nó vốn thế bởi vì những nhà lãnh đạo ở các đảng nhỏ đang cùng chia sẻ chung lĩnh vực trách nhiệm bộ trưởng trong nội các – một cơ hội ngoài sức tưởng tượng của họ khi Đảng LDP còn kiểm soát chính quyền. Những Đảng này cũng đã nhận được những lợi ích bên ngoài bởi các dự thảo cải cách khác được tập hợp lại cùng với luật bầu cử mới, ví dụ như các hạn chế đối với việc tài trợ đảng và chiến dịch.

Trong khi liên minh cải cách kiểm soát đa số hạ viện, thì họ lại không thể làm được điều tương tự đối với thượng viện. Hệ thống lưỡng viện của Nhật Bản đã giúp cho thượng viện có quyền bác bỏ những động thái của hạ viện nếu không liên quan đến ngân sách, kho bạc nhà nước hay bổ nhiệm thủ tướng. Chỉ khi nào đạt được 2/3 số phiếu thì hạ viện mới có thể vượt qua được phủ quyết này của thượng viện. Chính quyền liên minh không có được sự hỗ trợ của phần đa số trong thượng viện, và cũng không kiểm soát được 2/3 hạ viện. Như dự đoán, thượng viện đã bác bỏ dự thảo cải cách được thông qua bởi hạ viện vào ngày 18 tháng 11 năm 1993, buộc Thủ tướng Morihiro Hosokawa tổ chức một cuộc gặp khẩn cấp với lãnh đạo đảng LDP. Khi những dự thảo này cuối cùng cũng được thông qua bởi thượng viện vào tháng 1 năm 1994, nội dung của chúng đã được sửa đổi để đáp ứng yêu cầu của Đảng LDP. Cụ thể, phần trăm ghế FPTP tăng lừ 250 lên 300 ghế, cùng một công thức đã được đề xuất trong hai bản dự thảo trước đó của LDP. Đối với các Đảng thiểu số, hi vọng duy nhất là 200 ghế đại diện tỷ lệ danh sách đóng (sau đó giảm xuống còn 180) được chọn từ 11 khu vực bầu cử theo hình thức đại diện tỷ lệ.

Đài Loan: Một Đảng Lớn Hơn Một Quốc Gia

Lịch sử của hệ thống bầu cử SNTV ở Đài Loan cũng khá dài. Mặc dù sự cai trị độc tài của Quốc dân Đảng từ năm 1949 đến 1992 có nghĩa rằng không phải tất cả thành viên của Lập pháp Viện (LY) đều được bầu chọn, hệ thống SNTV vẫn được sử dụng rộng rãi ở cả bầu cử cơ quan lập pháp và địa phương trong gần 70 năm. Hệ thống được đưa vào năm 1935, dưới sự cai trị của chính quyền thuộc địa Nhật Bản nhằm mục đích lựa chọn thành viên của các hội đồng địa phương. Vì vậy các cử tri Đài Loan khá quen với hệ thống SNTV và hệ thống này đã trở thành một đặc điểm tích hợp của nền chính trị bầu cử ở Đài Loan. 

Rút lui về Đài Loan sau khi thất bại trong cuộc nội chiến Trung Quốc năm 1949, Quốc Dân Đảng đã duy trì sự cai trị độc tài của mình bằng cách khẳng định rằng các Đại biểu đã được bầu ở Trung Quốc trước năm 1949 sẽ không phải tranh cử để được tái đắc cử cho cho tới khi chính phủ có trụ sở tại Đài Loan thu hồi được đại lục. Bởi Quốc Dân Đảng được xem như một chế độ “di cư”, và việc tự cho mình quyền cai trị Đài Loan một cách xứng đáng luôn phải đối mặt liên tục với các thách thức địa phương, áp dụng hệ thống bầu cử SNTV đã giúp Quốc Dân Đảng có lợi về nhiều mặt. Đầu tiên, ngay sau khi Quốc Dân Đảng xâm nhập vào Đài Loan, việc tổ chức bầu cử ở địa phương đã giúp biện minh cho việc cai trị của Đảng Quốc Dân  bằng cách biến chính trị Đài Loan trở nên có tính cạnh tranh một phần. Trong khi Quốc Dân Đảng đôi lúc có những vấn đề trong việc chiếm văn phòng hành pháp địa phương, SNTV đã giúp Đảng này thống trị được các hội đồng địa phương. Hơn nữa, bằng việc hợp tác với một số thành viên ở tầng lớp thượng lưu bản địa ở Đài Loan, Quốc Dân Đảng đã khiến cho hình ảnh về một Đảng “di cư” mất gốc trở nên mờ nhạt ở Đài Loan.

Thứ hai, cũng giống như trường hợp của Nhật Bản, hệ thống bầu cử đã đóng một vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng mối quan hệ bảo trợ giữa tầng lớp tinh hoa Đài Loan và Quốc Dân Đảng. Được thừa hưởng chế độ nhà nước kiểm soát kinh tế từ chính phủ thuộc địa Nhật Bản, Quốc Dân Đảng đã có những quyền lực về kinh tế và chính trị để phối hợp với các thành phần đối lập để thành lập văn phòng chính trị ở nhiều cấp. Việc này đã khiến cho Quốc Dân Đảng tránh khỏi một trong những nguy hiểm lớn nhất từ hệ thống SNTV: Đề cử quá nhiều đại biểu ở một khu vực bầu cử và chia nhỏ tổng số phiếu của nó tới mức mất đi ghết của mình. Để đổi lấy lợi ích từ các nguồn lực mang tính chiến lược của Đảng, tầng lớp tinh hoa địa phương cam kết trung thành với Nhà nước do Quốc Dân Đảng lập ra.

Cuối cùng, SNTV đã tạo ra hạn chế tăng trưởng của các lực lượng phi Quốc Dân Đảng (ban đầu được biết tới là “dangwai” tức “ngoài đảng”). Ngược lại với học thuyết Trung Quốc Thống Nhất của Quốc Dân Đảng, phong trào của những lực lượng ngoại đảng kêu gọi đòi chủ quyền của người Đài Loan, khiến việc định danh quốc gia và độc lập trở thành vấn đề chính trị tiên quyết của Đài Loan. Tuy nhiên phong trào này không tận dụng được lợi thế kinh tế và chính trị, kỷ luật tổ chức hoặc các nguồn tài nguyên chiến lược của Quốc Dân Đảng. Vì vậy, khi phong trào này lan rộng và các thành viên bắt đầu chống lại nhau trong cuộc bầu cử, phong trào này phải hứng chịu sự chia rẽ nội bộ.

Mặc dù chỉ một phần của Lập pháp Viện được bầu chọn trước khi chuyển dịch sang dân chủ trong những năm đầu 1990, SNTV ở Đài Loan cũng đóng một vai trò tương tự như ở Nhật Bản. Chủ tịch Quốc Dân Đảng, Liên Chiến, lần đầu đề cập đến vấn đề cải cách bầu cử sau khi gần như mất vị thế đa số trong cuộc bầu cử Lập pháp Viện năm 1994. Cho dù gặp phải khó khăn đáng xấu hổ trong cuộc bầu cử này, đảng cầm quyền vẫn giành được thắng lợi ở tất cả các khu vực bầu cử một thành viên. Điều đó đã khiến cho thủ tướng Liên có động cơ để đề xuất một hệ thống trong đó phần lớn các vị trí sẽ được bầu chọn qua phương thức bầu cử FPTP. Quốc Dân Đảng ngay sau đó bắt đầu quảng bá hệ thống bầu cử hỗn hợp kiểu Nhật Bản, cho dù có rất nhiều thành viên của nó phản đối cải cách. Vị thế của các đảng khác cũng thay đổi theo sự chuyển biến của hệ thống bầu cử. Ví dụ Đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP), gọi tắt là Dân Tiến Đảng, mong muốn cương quyết theo hình thức hỗn hợp kiểu Đức nhưng phải hoàn toàn mang tinh tỷ lệ12 vào cuối năm 1996. Tuy nhiên sau chiến thắng tổng thống vào năm 2000 và 2004 của nó, Đảng DPP lại thay đổi quan điểm, ủng hộ hình thức hệ thống hỗn hợp mang tính tỷ lệ một phần kiểu Nhật Bản. Các Đảng nhỏ hơn ở Đài Loan nhìn chung phản đối sử dụng FPTP dù ở bất kỳ hình thức nào, mà họ ưu thích một hệ thống tỷ lệ hoàn toàn hơn.

Tuy nhiên, phải tốn một thập kỷ để những tầm nhìn về cải cách bầu cử của ông Liên mới trở thành hiện thực. Vào tháng 8 năm 2004, Lập pháp Viện đã bỏ phiếu đề xuất sửa đổi bổ sung hiến pháp, theo đó giảm một nửa số ghế  (từ 225 xuống 113) và áp dụng một hệ thống bầu cử hỗn hợp mà mỗi cử tri bỏ hai phiếu (1 cho ứng cử viên và 1 cho đảng). Dưới hệ thống mới này, 73 ghế được bầu cử bởi hệ thống FPTP, 34 ghế khác (một nửa trong số đó là cho phụ nữ) được phân bổ bằng một đơn vị bầu cử toàn quốc theo mô hình đại diện tỷ lệ danh sách đóng; và 6 ghế được dành cho các đơn vị bầu cử người bản địa. Quộc hội – một cơ quan lập pháp không quan trọng với 334 ghế đã bị lên lịch cho giải tán trước 2008 – đã phê chuẩn những sửa đổi bổ sung này vào tháng 7 năm 2005. Cho dù gói cải cách chỉ được áp dụng sau khi Quốc Dân Đảng đã mất vị thế đa số ở Lập pháp Viện – thực ra có lúc không một đảng nào chiếm được đa số trong Lập pháp Viện – những thay đổi trong hệ thống bầu cử cũng tương tự như những gì mà ông Liên đề xuất năm 1994.

Cũng giống như Nhật Bản, có rất nhiều nguyên nhân giúp cho nỗ lực cải cách thành công ở Đài Loan. Một số chính trị gia, chủ yếu là từ Quốc Dân Đảng và Dân Tiến Đảng, đã tính toán rằng họ có thể có được rất nhiều lợi ích từ hệ thống bầu cử mới. Trong khi hai Đảng chính chọn tư thế đối lập nhau trong giải quyết vấn đề giành độc lập cho Đài Loan, họ đều có chung một lợi ích ngầm trong việc hạ thấp tính tỷ lệ của hệ thống bầu cử nhằm tăng tỷ lệ ghế khi cạnh tranh với các đảng ly khai. Dưới hình thức bầu cử SNTV, nếu một đảng đề cử quá nhiều ứng viên trong một đơn vị bầu cử, nó sẽ khiến cho số phiếu bầu của đảng đó bị phân mảnh và có thể dẫn tới hạ thấp số ghế, bởi vì bỏ phiếu cho các ứng viên thể hiện nghèo nàn không thể được chuyển sang cho các ứng viên khác trong cùng đảng. Nhưng nếu một đảng đề cử quá ít ứng viên, nó có thể lãng phí những ghế tiềm năng. Quốc Dân Đảng năm 2001, Dân Tiến Đảng năm 2004, khá lạc quan về cơ hội bầu cử của họ khi họ đề cử quá nhiều ứng viên, hạ thấp tỷ lệ phiếu trung bình của các ứng viên và dẫn tới hạ thấp tỷ lệ số ghế của họ. Dựa trên sai sót trong tính toán của mỗi đảng, Quốc Dân Đảngvà Dân Tiến Đảng nhận ra rằng dưới hệ thống FPTP, cơ hội giành chiến thắng của họ sẽ cao hơn và có thể không cần những chiến lược đề cử công phu.

Giống như tại Nhật Bản, nâng cao hỗ trợ cần thiết cho cải cách bầu cử cần sự thuyết phục nhất định. Các đảng nhỏ hơn – đặc biệt là đặc biệt là Đảng Thân dân (PFP) và Đảng Liên Minh Đoàn kết Đài Loan (TSU) (đảng độc lập tay sai của Đảng Dân Tiến DPP) – bị đe dọa bởi đề xuất cải cách hệ thống bầu cử kiểu đa số. Tuy nhiên, sự phản đối của họ đã được xoa dịu bởi việc kết hợp vào gói cải cách những sửa đổi bổ sung mà họ ưa thích. Đảng TSU đã đạt được mục tiêu lâu dài đó là giảm một nửa kích thước Lập pháp Viện. Đảng PFP thì ngược lại, được bù đắp bằng bổ sung sửa đổi hiến pháp mà yêu cầu các sửa đổi bổ sung hiến pháp trong tương lai cần đạt được ủng hộ của đa số tuyệt đối nhân dân trong cuộc trưng cầu dân ý. Điều khoản này trấn an các đối thủ của một Đài Loan độc lập – cụ thể là Đảng PFP – rằng bất kỳ sự chuyển dịch nào về sự độc lập trên hiến pháp đều sẽ cực kỳ khó khăn.

Các Hiệu Quả của Cải cách ở Nhật Bản

Nếu sự áp dụng hệ thống bầu cử mới của Nhật Bản phản ánh ý định của một vài chính trị gia nhằm tạo ra một môi trường chính trị thuận lợi hơn thì chúng ta cũng nên lường trước các cuộc bầu cử được tổ chức bằng những quy định mới này cũng sẽ khác với những cuộc bầu cử diễn tra trước cải cách.

BẢNG 1-SỰ TIẾN HÓA CỦA HỆ THỐNG ĐẢNG CỦA NHẬT BẢN

NĂM BẦU CỬ SỐ LƯỢNG HIỆU DỤNG ĐẢNG LẬP PHÁP TỶ LỆ GHẾ CỦA ĐẢNG LỚN NHẤT* TỔNG TỶ LỆ SỐ GHẾ CỦA HAI ĐẢNG LỚN NHẤT
1980 2.66 0.57 0.78
1983 3.23 0.49 0.71
1986 2.57 0.59 0.75
1990 2.71 0.53 0.80
1993 4.26 0.43 0.56
1996 2.94 0.48 0.79
2000 3.18 0.49 0.75
2003 2.56 0.49 0.86
2006 2.23 0.62 0.85

*Luôn là Đảng LDP

Theo một số nhà cải cách, các chiến dịch bầu cử bằng hệ thống mới sẽ tập trung nhiều hơn vào các tranh luận chính sách hơn là tái phân bổ nguồn lực, và cạnh tranh giữa hai đảng sẽ thay thế sự thống trị độc đảng. Các đảng nhỏ hơn sẽ chú ý tới hình ảnh của mình để giành được số ghế được bầu bằng hệ thống đại diện tỷ lệ, thay vì cố gắng vun đắp các kết nối vô ích ở mức độ khu vực bầu cử. Liệu hệ thống mới có tạo ra những kết quả như mong muốn hay không thì có thể nhìn thấy được từ những kết quả cuộc bầu cử hạ viện được tổ chức bằng hệ thống bầu cử mới trong năm 1996, 2000, 2003 và 2005.

Kể từ khi đảng LDP mất vị trí đa số trong cuộc bầu cử năm 1993, Nhật Bản đã du hành trên con đường thay đổi cân bằng quyền lực chính trị một cách đáng kể. Đảng Tân Tiến (NFP) yểu mệnh được thành lập năm 1994 với mục đích hợp nhất các chính trị gia không theo Đảng LDP. Trước cuộc bầu cử hạ viện năm 1996, một số chính trị gia đã xây dựng nên Đảng Dân chủ (DP), sau chuyển thành Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) vào năm 1998 bằng việc kết hợp với một số đảng nhỏ. Đảng DPJ đã thể hiện tốt trong cuộc bầu cử năm 2000 và hợp nhất với Đảng Tự do (LP) của Ichiro Ozawa vào năm 2003, biến nó trở thành đảng đối lập chính ở Nhật Bản. Kể từ đó, chính trị Nhật Bản bị chi phối bởi cuộc đua giữa đảng LDP và Đảng DPJ, các đảng khác chỉ đóng vai trò phụ mà thôi. Những thăng trầm của hậu cải cách Nhật Bản vẫn không làm sai lệch được giả thuyết lưỡng đảng; mà thay vào đó, chúng phản ánh cuộc đấu tranh giữa các đảng đối lập để giành cương vị lãnh đạo trong việc chống lại đảng LDP. Nếu vậy, xu hướng dài hạn sẽ là một hệ thống lưỡng đảng.

Một chỉ số tốt trong tiến hóa hậu cải cách của hệ thống đảng ở Nhật là số lượng các đảng lập pháp. Con số này càng nhỏ thì khả năng hai thành viên trong quốc hội được chọn ngẫu nhiên tới từ một đảng càng cao.13 Bảng 1 đã chỉ ra số lượng hiệu dụng các đảng lập pháp trong hạ viện, thể hiện một sự méo mó khá thú vị trong hai thập kỉ vừa qua. Cho tới năm 1993, hệ thống đảng đã thực sự trở nên phân mảnh, một yếu tốt rất quan trọng cho thành công của cải cách bầu cử. Ảnh hưởng của hệ thống bầu cử mới được chỉ ra bằng sự giảm số lượng các đảng lập pháp kể từ năm 1993, và hiện tại đang tiệm cận hai. Bảng 1 cũng chỉ ra tỷ lệ tổng số ghế của hai đảng lớn nhất hạ viện, tỷ lệ ấy không chỉ tăng mà bây giờ còn cao hơn so với thời kì một đảng thống trị. Hệ thống hai đảng rõ ràng đang được hình thành tại Nhật Bản.

Một mô hình đáng chú ý nữa đó là sự chuyển đổi ghế trong Đảng LDP – luôn được coi là Đảng lớn nhất của Nhật Bản. Cho dù cuộc bầu cử hạ viện năm 1993 đã tước đi vị thế đa số của đảng này, nhưng trong các cuộc bầu cử tiếp theo, nó cũng đã dần dần khôi phục quyền lực. Điều này khẳng định giả thiết rằng hệ thống bầu cử Nhật Bản được sắp đặt bởi một số chính trị gia bảo thủ, những người muốn kéo dài cuộc sống chính trị của riêng họ. Hầu hết những người thuộc tầng lớp tinh hoa này bắt đầu sự nghiệp ở Đảng LDP, mặc dù một số đã rời đảng để thu hút cử tri xa lánh chế độ cũ. Sự hồi sinh mạnh mẽ của Đảng LDP có mối liên quan mật thiết đến tính tỷ lệ thấp của hệ thống bầu cử mới với nhiều tính đa số hơn. Trong bốn lần bầu cử hạ viện gần đây, số phiếu ủng hộ Đảng LDP lần lượt là: 38.6%, 41.0%, 43.9%, và 48.0%. Tỷ lệ số phiếu có được từ hệ thống đại diện tỷ lệ của nó giảm xuống so với cùng kì (sử dụng bầu cử hai phiếu riêng biệt). Hệ thống mới này đã tăng số ghế của đảng LDP lên một cách đáng kể, thậm chí đạt mức đáng kinh ngạc 62% vào năm 2005. Nếu không có hệ thống bầu cử mới này, Đảng LDP có lẽ đã phải trải qua giai đoạn khó khăn để duy trì sự thống trị của mình.

Xét tới chiến dịch bầu cử, các nhà cải cách hi vọng rằng hệ thống bầu cử mới sẽ làm tăng tầm quan trọng những tranh luận chính sách định hướng đảng và cạnh tranh lưỡng đảng. Tuy nhiên di sản của hệ thống cũ vẫn ảnh hưởng lên chiến dịch bầu cử dưới các quy tắc mới. Ví dụ, trong cuộc bầu cử năm 1996, tăng thuế thu nhập là một vấn đề nổi bật mà đã chia rẽ các phe phái chính trị. Tuy nhiên hầu hết các ứng viên đều chủ yếu dựa vào các nhóm hỗ trợ cá nhân để có thể có được phiếu bầu. Cuộc cạnh tranh 180 ghế được quyết định bởi hệ thống đại diện tỷ lệ cũng diễn ra mang âm hưởng cá nhân khi hệ thống bầu cử mới cho phép ứng cử kép, tức là, các ứng viên vừa được ứng cử một ghế FPTP vừa được ứng cử trong danh sách đại diện của đảng.14 Tuy nhiên, về lâu dài, khi hệ thống lưỡng đảng được hình thành, phương thức vận động chiến dịch có nhiều khả năng sẽ tập trung nhiều vào các vấn đề chính sách và tranh luận.

Liệu Đài Loan có đi theo Nhật Bản?

Đài Loan cũng đã trải qua những thay đổi đáng kể trong hệ thống bộ máy chính trị kể từ khi chuyển sang dân chủ vào đầu những năm 1990. Tuy nhiên, không giống như Nhật Bản, sự phân chia đảng phái cơ bản vẫn không thay đổi: Hầu hết các đảng được hình thành từ 1992 là các đảng nhỏ ly khai khỏi một trong hai đảng lớn là Quốc Dân Đảng (chống độc lập) và Đảng DPP (đòi độc lập). Trong tháng 8 năm 1993, một nhóm các nhà chính trị có nền tảng tại đô thị đã rời khỏi Quốc Dân Đảng và thành lập nên Đảng mới (NP). Năm 2000, sau khi thua bầu cử tổng thống, Cựu Bí thư trưởng Quốc Dân Đảng Tống Sở Du cũng đã rời đảng và thành lập nên đảng PFP. Về phía ủng hộ độc lập, một vài đồng minh của Cựu Chủ tịch Lý Đăng Huy đã tạo nên Đảng Liên Minh Đoàn kết Đài Loan cuối năm 2000 để thu hút những người trung thành bảo vệ độc lập. Mặc dù có sự phân mảnh này, số phiếu bầu của hai bên đều khá ổn định, với việc phe phản đối độc lập Quốc Dân Đảng (màu xanh nước biển) nhỉnh hơn phe ủng hộ độc lập Đảng Liên Minh Đoàn kết (màu xanh lá cây) một chút.

BẢNG 2 – SỰ TIẾN HÓA CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ ĐÀI LOAN

NĂM BẦU CỬ

SỐ LƯỢNG HIỆU DỤNG ĐẢNG LẬP PHÁP

TỶ LỆ GHẾ CỦA ĐẢNG LỚN NHẤT*
1992 2.55 0.59
1995 2.65 0.52
1998 3.24 0.55
2001 3.48 0.39
2004 3.26 0.40

*1992–98: KMT; 2001–2005: DPP

Bảng 2 phản ánh sự tiến hóa của hệ thống Đảng Đài Loan trong hơn 10 năm qua. So sánh với tiền cải cách Nhật Bản, chúng ta nhận thấy một sự tương đồng nổi bật: Hệ thống đảng đã bị phân mảnh và đảng lớn nhất không còn kiểm soát được cơ quan lập pháp của quốc gia. Nếu những điều kiện này giải thích tại sao Đài Loan theo mô hình cải cách bầu cử ở Nhật Bản, hệ quả sau khi cải cách ở Nhật Bản có thể chỉ ra được tương lai của Đài Loan. Tuy nhiên chúng ta cần ghi nhớ hai điểm về chính trị Đài Loan khi so sánh: Đầu tiên là sự cứng nhắc trong chia tách căn tính quốc gia và thứ hai là hệ thống bầu cử tống thống. Khi bầu cử được thực hiện dưới hệ thống SNTV, việc bầu cử cơ quan lập pháp của Đài Loan tương đối không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố này vì hệ thống này khuyến khích đại diện mang tính đặc thù chứ không phải là các tranh luận chính sách, và vì các cuộc bầu cử lập pháp và tổng thống diễn ra không cùng lúc và sử dụng những công thức bầu cử khác nhau. Tuy nhiên với những cải cách bầu cử năm 2004, các nhân tố này có thể bắt đầu ảnh hưởng đến chính trị Đài Loan.

Bản hiến pháp sửa đổi đã gia tăng thời hạn của các thành viên Lập pháp Viện từ ba đến bốn năm, tạo ra một chu kỳ bầu cử không bình thường khi tổng thống và các nghị viên cùng phục vụ nhiệm kỳ bốn năm giống nhau. Hơn nữa, vì hiến pháp đòi hỏi các Lập pháp Viện phải họp vào tháng 2 và tổng thống bắt đầu nhiệm kì vào ngày 20 tháng 5 của năm bầu cử, cuộc bầu cử cơ quan lập pháp và tổng thống sẽ lần lượt diễn ra vào tháng 12 và tháng 3. Trừ trường hợp khó xảy ra khi cơ quan lập pháp bị giải thể sau một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm, cuộc bầu cử cơ quan lập pháp và tổng thống sẽ diễn ra cách nhau vài tháng, hết chu kỳ này tới chu kỳ khác. Vì khoảng thời gian ngắn này, Đài Loan có thể sẽ gặp phải một hiệu ứng phổ biến khi sử dụng các hệ thống bầu cử cùng lúc, đó là: khả năng cao sẽ có một đảng chiếm được số phiếu cao hơn và kiểm soát cả cơ quan lập pháp và hành pháp.

Hơn nữa, động lực của cuộc bầu cử tổng thống sẽ có thể tác động mạnh đến chiến dịch vận động bầu cử quốc hội. Khoảng thời gian ngắn giữa hai cuộc bầu cử có nghĩa là khi bầu cử cơ quan lập pháp diễn ra, các đảng đã sẵn có những ứng viên tổng thống được đề cử. Kể từ khi Đài Loan bầu cử tổng thống theo hệ thống bầu cử FPTP, cử tri có xu hướng hướng về hai ứng viên cho chức tổng thống. Cuộc đua tổng thống giữa hai người có thể làm mờ đi bầu cử quốc hội và khiến các đảng nhỏ hơn sẽ khó mà có được tiếng nói trong suốt quá trình bầu cử. Với chút ít hi vọng giành được chiến thắng nhiệm kì tổng thống hoặc ghế ở lập pháp viện, các đảng này sẽ cá cược mọi thứ để giành được ghế từ hệ thống bầu cử tỷ lệ đại diện. Thậm chí khi điều đó xảy ra, trừ phi các đảng dẫn đầu thất bại trong việc giành được đa số ở quốc hội, các đảng nhỏ sẽ nhanh chóng đánh mất vị trí quan trọng của mình với vai trò là các đối tác liên minh tiềm năng. Do đó, Đài Loan cũng có thể đang dần chuyển sang hệ thống lưỡng đảng nhanh hơn so với Nhật Bản.

Mặc dù hiếm khi được sử dụng, nhưng hệ thống bầu cử SNTV phù hợp về văn hóa và đáp ứng được nhu cầu của các nền dân chủ mới nổi. Bởi hệ thống đảng ở những đất nước này thường xuyên hoặc không tồn tại bất ổn, hệ thống bầu cử SNTV khiến quá trình bầu cử đơn giản hơn bằng cách yêu cầu các cử tri chọn ứng viên chứ không chọn đảng. Nó cũng giúp công tác kiểm phiếu đơn giản và gọn hơn so với hệ thống đại diện tỷ lệ hay bất cứ loại hình bầu cử theo hình thức ưu tiên nào. Hệ thống này cũng tương đối có tính tỷ lệ, vì vậy nó bảo vệ quyền lợi đại diện của nhóm thiểu số.

Hơn nữa, SNTV có xu hướng hình thành bè phái ở những lợi ích địa phương, giúp những người xây dựng nhà nước có được ưu thế tiện lợi trong việc áp đặt các mệnh lệnh của họ từ trung tâm bằng cách cung cấp cho các cơ quan hành chính địa phương những quyền lợi cụ thể. Từ kinh nghiệm của Nhật Bản và Đài Loan, những nhân tố ấy có vẻ thực sự đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, lập luận này không thể bị đảo ngược: SNTV vốn không có lợi cho đảng đang chiếm ưu thế, cũng như cho một nhà nước mạnh mẽ. Những đất nước dân chủ non trẻ nên tìm phương án khác để phát triển kinh tế của mình.

Tuy nhiên, ngay khi một hệ thống do đảng chiếm ưu thế tiến hóa sóng đôi với SNTV, một số công dân sẽ luôn không hài lòng một cách có hệ thống. Tình trạng này cuối cùng sẽ khiến một số chính trị gia đề xuất cải cách bầu cử để làm tăng khả năng tồn tại của họ. Cơ chế này không chỉ giải thích việc từ bỏ hệ thống SNTV mà còn giải thích cho những hệ quả sau đó. Như có thể thấy từ Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi (2001 tính đến thời điểm của bài viết), Đảng LDP lấy lại quyền lực dưới triều đại của ông bằng cách lựa chọn một chiến lược chiến thắng mới.15 Với việc Đài Loan đã thông qua hệ thống bầu cử mới, Quốc Dân Đảng cũng có cơ hội để tăng sức ảnh hưởng của mình một lần nữa nếu đảng này có thể học cách chơi trò chơi bầu cử theo một cách khác. 

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH: 

  1. Để tham khảo cách thức lý thuyết về nhà nước phát triển giải thích về sự phát triển của Đông Á, hãy đọc Meredith Woo-Cumings, ed., The Developmental State (Ithaca,N.Y.: Cornell University Press, 1999).
    2. Hàn Quốc sử dụng SNTV trong các khu vực bầu cử hai thành viên từ năm 1980 tới 1987. SNTV cũng được dùng tại các khu vực khác như Puerto Rico, Vanuatu, Thái Lan, và gần đây nhất là Afghanistan. Tuy nhiên hiệu quả của nó được thấy rõ nhất tại Nhật Bản và Đài Loan, bởi chỉ ở hai quốc gia này SNTV mới được chọn lựa là hệ thống bầu cử duy nhất trong một khoảng thời gian dài.
    3. Do đó, Nhật Bản và Đài Loan đều trải qua một khoảng thời gian dài do một đảng chiếm ưu thế. Đối với trường hợp Nhật Bản, hãy đọc J. Mark Ramseyer và Frances M. Rosenbluth, Japan’s Political Marketplace (Cambridge: Harvard University Press, 1993) và T. J. Pempel, ed., Uncommon Democracies: The One-Party Dominant Regimes (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1990). Đối với trường hợp của Đài Loan,hãy đọc Yun-han Chu, “SNTV and the Evolving Party System in Taiwan,” Chinese Political Science Review 22 (tháng 6, 1994): 33–51.
    4. Raymond Christensen, “Electoral Reform in Japan: How It Was Enacted and Changes It May Bring,” Asian Survey 34 (Tháng 7, 1994): 589–605; Rei Shiratori, “The Politics of Electoral Reform in Japan,” International Political Science Review 16 (Tháng 1, 1995): 79–94.
    5. “Amendment raises hope for a new constitution,” Taipei Times, 24 tháng 8, 2004.
    6. Steven R. Reed và Michael F. Thies, “The Causes of Electoral Reform in
    Japan,” trong Matthew Soberg Shugart và Martin P. Wattenberg, eds., Mixed-Member Electoral Systems (New York: Oxford University Press, 2001), 153.
    7. Dưới hệ thống SNTV, một đảng thường tối đa tỷ lệ ghế của nó bằng phân bổ một cách chiến lượng các ứng viên của nó, điều này khiến phần đông các thành viên của đảng chiếm ưu thế không yên tâm về khả năng đắc cử của mình. Đọc Gary W. Cox, Making Votes Count: Strategic Coordination in the World’s Electoral Systems (Cambridge: Cambridge University Press, 1997), 242.
    8. SNTV được soạn thảo bởi những người xây dựng nhà nước của Duy tân Minh Trị. Đọc J. Mark Ramseyer và Frances M. Rosenbluth, The Politics of Oligarchy: Institutional Choice in Imperial Japan (Cambridge: Cambridge University Press, 1998), 37.
    9. Brian Woodall, “The Politics of Reform in Japan’s Lower House Electoral
    System,” trong Bernard Grofman, Sung-Chull Lee, Edwin A. Winckler, và Brian Woodall, eds., Elections in Japan, Korea, and Taiwan Under the Single NonTransferable Vote (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1999), 26–27.
    10. Một vài người nhìn nhận lãnh đạo của NFP Ichiro Ozawa như là nhạc trưởng của cải cách chính trị của Nhật Bản. Ông ta hi vọng rằng hệ thống bầu cử mới có thể tháo cùm cho Nhật Bản khỏi sự thống trị của LDP và tạo ra một hệ thống lưỡng đảng năng động. Đọc Ichiro Ozawa, Blueprint for a New Japan: The Rethinking of a Nation (New York: Kodansha
    International, 1994), 62–75.
    11. Những dự thảo cải cách khác được đề xuất vào năm 1967 và 1968 bởi Thủ tướng Ezaku Sato, nhưng nội dung thì không trực tiếp liên quan tới cải cách bầu cử. Đọc Brian Woodall, “The Politics of Reform in Japan’s Lower House Electoral System,” 36.
    12. Hệ thống kiểu Đức là hỗn hợp vì một nửa số ghế thì được bầu bởi FPTP và một nửa còn lại thì bởi PR, nhưng nhiều nhà quan sát không nhận ra rằng đó là về bản chất thì nó là một hệ thống đại diện tỷ lệ, vì nó lấy từ danh sách đảng để đạt được tính tỷ lệ tổng quát trong việc phân bổ số ghế quốc hội (sau khi áp đặt mức ngưỡng 5% cho sự đại diện của đảng). Ngược lại, hệ thống của Nhật Bản đạt được tính tỷ lệ chỉ trong số ghế được phân phối (khoảng 40% mà thôi) cho quy tắc PR. Do đó, hệ thống kiểu Đức cho phép đại diện các đảng đối lập nhỏ hơn tốt hơn nếu họ loại bỏ ngưỡng.
    13. Số lượng hiệu dụng đảng lập pháp là 1/SSi2, ở đó Si đại diện cho số ghế mà đảng i đó có được. Đọc Rein Taagepera và Matthew Soberg Shugart, Seats and Votes: The Effects and Determinants of Electoral Systems (New Haven: Yale University Press, 1989), 77–81.
    14. Với ứng cử kép, các ứng viên có thể chạy đua tại một khu vực bầu cử FPTP đồng thời xuất hiện trong danh sách đại diện tỷ lệ của đảng, ở đó họ có thể dược xếp hạng theo cá nhân hoặc đều nhau. Ở trường hợp sau, ứng viên nào mà tỷ lệ số ghế FPTP gần nhất với người chiến thắng FPTP sẽ giành được ghế PR. Hệ thống này, một tấm lưới an toàn đối với các chính trị gia lão luyện, củng cố xu hướng cá nhân hóa của các cuộc bầu cử tại Nhật Bản trong quy tắc bầu cử mới. Về bầu cử năm 1996, hãy đọc Albert L. Seligmann, “Japan’s New Electoral System,” Asian Survey 37 (tháng 5, 1997): 409–28; và Margaret McKean và Ethan Scheiner, “Japan’s New Electoral System: La Plus Ça Change,” Electoral Studies 19 (tháng 12, 2000): 447–77.
    15. Theo một khảo sát được thực hiện bởi tờ báo Asahi Shimbun, tỉ lệ người dân Nhật Bản đồng ý rằng LDP đã thay đổi dưới sự lãnh đạo của Koizumi đã tăng đáng kể trong những tháng vừa qua. Đọc Asahi Shimbun (Tokyo), 2 tháng 11, 2005.