Emanuele Ottolenghi

Emanuele Ottolenghi là nghiên cứu sinh về chính trị, xã hội và pháp luật Israel, tại Trung tâm Oxford về nghiên cứu tiếng Hebrew và người Do Thái, và Trường St. Antony, Đại học Oxford. Ông mong muốn bày tỏ lời cảm ơn đến Trung tâm Trung Đông và học viện Anh vì những hỗ trợ về mặt tài chính cho bài nghiên cứu làm nền tảng cho bài luận này. Bài luận được in lần đầu tiên trong ấn bản tháng 10/2001 của Tạp chí Dân chủ.

***

Gần 10 năm trước, Israel trở thành nhà nước dân chủ nghị viện đầu tiên áp dụng hình thức bầu cử trực tiếp để chọn ra thủ tướng. Động lực thúc đẩy cải cách tới từ khủng hoảng chính phủ mùa xuân năm 1990, khiến không ít người kinh hoàng khi tất cả 120 thành viên Quốc hội (Knesset) đã thực hiện những hành vi chưa từng có trong lịch sử như đổi phe, mặc cả một cách lỗ mãng, và các đảng phái cũng như cá nhân các nhà lập pháp nháo nhào cạnh tranh chỗ đứng, vị trí tốt hơn và lợi ích chính trị. Tình trạng này – sau đó được gọi với cái tên “thủ đoạn chính trị dơ dáy” (the stinking maneuver) – đã dẫn đến việc Israel sửa đổi Luật Cơ bản vào năm 1992. Phần được sửa đổi yêu cầu quá trình bầu cử Thủ tướng được tổ chức đồng thời với quá trình bỏ phiếu thành lập Quốc hội, mặc dù sau đó quyền hành của Thủ tướng tiếp tục phụ thuộc vào lá phiếu tín nhiệm của nghị viện.

Nhưng cải cách không hiệu quả như mong đợi. Sau 3 lần áp dụng trong các đợt bầu cử của năm 1996, 1999, và cuộc bầu cử phụ tháng 2/2001 với chiến thắng của Ariel Sharon, đảng Likud vượt qua Ehud Barak, Công đảng, thử nghiệm hình thức bầu cử mới đã bị dừng lại. Vào tháng 3/2001, quốc gia này áp dụng hình thức bầu cử tương tự như hệ thống bầu cử trước năm 1992 nhưng có một số thay đổi. Hệ thống này sẽ đi vào hoạt động trong đợt bầu của tháng 11/2003.

Israel chuyển sang bầu cử trực tiếp để khắc phục tình trạng phân mảnh, bất ổn và trì trệ – nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng năm 1990. Đây là những hệ quả thường thấy do hệ thống đại diện tỷ lệ mang lại, đặc biệt là ở mô hình có ngưỡng thấp như của Israel, một điều kiện cho phép các đảng chỉ cần giành được 1.5% số phiếu là có thể có ghế trong Quốc hội.1 Tuy nhiên, chính nỗ lực nhằm đảm bảo lộ trình cải cách lại mang tới những méo mó dẫn đến kết quả không như mong đợi, thậm chí phản tác dụng. Phần lớn các thất vọng của những người ủng hộ cải cách đến từ việc bầu cử năm 1996 và 1999 đều không đạt được hiệu quả trong việc xây dựng liên minh. Các đảng nhỏ, không hề bị lép vế, cũng cạnh tranh các vị trí cấp cao. Kết quả là đã tạo nên một liên minh chính phủ chắp vá, thiếu tính đồng nhất và không duy trì được quyền lực.2

Cuộc cải cách có lẽ đáng thất vọng nhất ở chỗ không tạo ra hiệu ứng “theo đuôi” cho Công đảng hay đảng Likud để đồng sự của họ có thể giành được chiến thắng trong cuộc đua dựa trên danh sách 120 ghế của Quốc hội. Ngược lại, hệ thống bầu cử yêu cầu mỗi cử tri thực hiện 2 lần bỏ phiếu (1 lần để bầu thủ tướng, 1 lần khác bầu cho quốc hội) gây ra tình trạng phân tán lá phiếu. Nhiều cử tri thay vì bỏ phiếu cho ứng viên đảng Likud hay Công đảng chuyển sang những đảng nhỏ hơn, làm giảm quyền lực của 2 đảng lớn, đồng thời tạo ra sự manh mún, kẽ hở cho hoạt động sai trái của các đảng.

Bài học rút ra từ nỗ lực đổi mới của Israel nhằm đưa các yếu tố của chế độ tổng thống và bán tổng thống vào chế độ nghị viện là gì?

Bầu cử trực tiếp cần có một số điều kiện để trở thành hiện thực. Bầu cử cho cả thủ tướng và đại biểu quốc hội diễn ra trong cùng 1 ngày, như vậy sẽ tối đa hóa được hiệu ứng “theo đuôi” trong lựa chọn thủ tướng, và tối thiểu hóa tình trạng “cộng sinh” kiểu Pháp, mà trong đó thủ tướng tới từ một đảng không nằm trong đa số của quốc hội. Sự ổn định được đảm bảo thông qua việc quốc hội Knesset và thủ tướng đều có những biện pháp bãi miễn, tất nhiên khi thực hiện sẽ kéo theo những cuộc bầu cử mới.

Để được chọn là thủ tướng, một ứng viên cần ít nhất 50% số phiếu ủng hộ. Hai ứng viên đạt được số phiếu cao nhất sẽ đi tiếp vào vòng bỏ phiếu phụ được tổ chức 2 tuần sau đó. Trong 3 lần bầu cử theo cách sắp đặt này, chỉ có 2 ứng viên cho vị trí thủ tướng cạnh tranh với nhau, và chưa bao giờ cần tới vòng bỏ phiếu phụ nào. Nếu không, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ để bầu ra quốc hội của Israel giữ nguyên không thay đổi gì. Nó tiếp tục mang tính tỷ lệ cao, với duy nhất một khu vực bầu cử là toàn quốc, ngưỡng bầu cử chỉ là 1,5 % và hệ thống danh sách cứng nhắc.

Một khi được tuyên bố là người thắng cuộc, đương kim thủ tướng có 4 ngày để trình diện nội các và vạch ra phương hướng chính sách cho chính phủ mới. Quốc hội Knesset sau đó sẽ cần nhận được đồng thuận về cơ chế nghị viện về bỏ phiếu tín nhiệm. Nếu thiếu điều này, chính phủ mới sẽ phải giải tán và cuộc bầu cử mới sẽ được tổ chức trong vòng 45 (sau đó được chuyển thành 90) ngày.

Trong các kịch bản cho cuộc bầu cử sớm được đề cập trong bộ quyền cơ bản, chỉnh sửa năm 1992, mục tiêu quan trọng nhất hiện giờ là thủ tướng đương nhiệm có thể từ chức hoặc rời ghế trong quốc hội, như vậy sẽ yêu cầu tổ chức bầu cử thủ tướng sớm trong khi quốc hội không có xáo trộn. Đây là một trong những lỗ hổng nếu kết hợp bầu cử thủ tướng và nghị viện.

Đáng lưu ý là, cải cách năm 1992 hướng đến chế độ nghị viện thông qua việc trao cho quốc hội quyền ảnh hưởng đến vị trí của thủ tướng bằng bỏ phiếu tín nhiệm – ngược với cách bỏ phiếu trực tiếp để chọn ra thủ tướng – một điều rất quan trọng đối với khả năng đạt và giữ được chiếc ghế của thủ tướng. Toàn bộ tính hợp pháp tới từ bầu cử độc lập của cơ quan hành pháp, một điều kiện tiên quyết cho tổng thống chế, không đóng một vai trò gì trong hệ thống mới của Israel.3 Do đó, hệ thống bầu cử quốc hội và sự tương tác của nó đối với cuộc bầu cử Thủ tướng trực tiếp sẽ là chìa khóa. Khía cạnh này của cải cách đã bị phớt lờ, chính là vì bầu cử trực tiếp được giới thiệu như là một phương án thay thế cho thay đổi hệ thống bầu cử cơ bản hơn.

Để hiểu được tại sao hình thái cải cách này được lựa chọn, cần tìm hiểu tại sao nó được thông qua. Một nghiên cứu đã phân tích những lý do cải cách thất bại, để từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống bầu cử và rút ra bài học cho những nền dân chủ với hệ thống đảng bị phân mảnh tương tự.

Tại sao cần bầu cử trực tiếp?

 Bầu cử trực tiếp là một trong những nỗ lực cải cách hệ thống bầu cử của Israel đầu những năm 1990. Ở thời điểm đó diễn ra tình trạng giằng co kéo dài giữa 2 đảng lớn sau lần chiến thắng đầu tiên của đảng Likud năm 1977 chấm dứt quãng thời gian thống trị của Công đảng. Trong khi Công đảng và đảng Likud cạnh tranh vị trí dẫn đầu, hàng loạt các đảng cánh tả, cánh hữu và đảng tôn giáo ngày càng nhận được nhiều sự ủng hộ hơn. Sự lớn mạnh của những đảng chính trị nhỏ đã trở thành đối trọng cho liên minh chính phủ của Công đảng và đảng Likud.

Các cuộc bầu cử từ năm 1984 đến 1988 chủ yếu là cuộc cạnh tranh giữa 2 đảng Likud và Công đảng. Tuy nhiên trong những năm 1984 đến 1990, không có đảng nào giành ưu thế hơn trong tiến trình hòa bình khu vực Trung Đông, cũng như không đảng nào hình thành được liên minh chính phủ với đảng nhỏ.

Công đảng và đảng Likud đều tuyên bố họ sẽ nỗ lực điều hòa hệ thống bầu cử theo tỷ lệ hiện đang rơi vào tình trạng bất ổn ở Israel (chủ yếu bằng cách nâng ngưỡng vào quốc hội Knesset, đồng thời chuyển sang hệ thống nhiều đơn vị bầu cử thay cho đơn vị bầu cử toàn quốc duy nhất như hiện nay). Nhưng nỗ lực này không thành công vì quyết tâm và lợi thế của các đảng nhỏ. Vậy rõ ràng là cần phải tìm kiếm hướng giải quyết khác. Có ý kiến cho rằng Israel nên áp dụng hình thức bỏ phiếu không tín nhiệm. Đây sẽ là hình thức mang tính xây dựng vì cho rằng Quốc hội có thể giải tán chính phủ thông qua bỏ phiếu không tín nhiệm. Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra nếu như quốc hội thành lập được chính phủ mới với đủ thủ tướng và nội các. Nhưng kiến nghị thay đổi này đã không được thực hiện, và cùng lúc đó, công chúng đã bùng lên sự căm ghét đối với “thủ đoạn chính trị dơ dáy”, vì vậy mà ý tưởng bầu cử trực tiếp thủ tướng trở thành trọng tâm của tư tưởng cải cách, và được thông qua năm 1992.

Bầu cử trực tiếp xuất hiện không phải vì nó là một khía cạnh của cải cách bầu cử căn bản, mà chỉ là phương án tốt thứ hai để giải quyết tình huống các đảng nhỏ bỏ phiếu phủ quyết hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ. Các nhà cải cách tin rằng nếu đưa yếu tố tổng thống chế vào hệ thống nghị viện của Israel, sẽ hạn chế được sự phân tán Quốc hội do các đảng nhỏ gây ra. Những đảng chủ chốt trong Quốc hội Knesset sẽ dành số phiếu ủng hộ lớn hơn cho Thủ tướng. Thủ tướng cũng sẽ tăng khả năng tự chủ trong quá trình điều hành chính phủ.

Kế hoạch cải cách ban đầu là Quốc hội có thể bãi miễn Thủ tướng nếu 70 trên tổng số 120 ghế bỏ phiếu không tín nhiệm. Như vậy Quốc hội đồng thời cũng bị giải tán. Các nhà cải cách tính toán rằng hình thức bỏ phiếu tín nhiệm có thể tạo ra sự ràng buộc với Quốc hội. Thủ tướng Israel sẽ có quyền lực ngang Tổng thống, đưa ra quyết định mà không bị phụ thuộc vào các thành phần của liên minh trong nghị viện. Cụ thể, cải cách hướng đến 1) củng cố tính hợp pháp của Thủ tướng bằng một ủy nhiệm có được từ bỏ phiếu trực tiếp; 2) đảm bảo rằng thay đổi trong chính phủ phải tới từ quyết định được đa số phiếu ủng hộ; 3) làm giảm số lượng và sự ảnh hưởng của những đảng nhỏ.

Tóm lại, các nhà cải cách hi vọng rằng bầu cử Thủ tướng trực tiếp sẽ tạo ra kết quả giống với kết quả có được từ bầu cử đại diện ít tính tỷ lệ hơn.

Bầu cử trực tiếp thông qua việc trao quyền bỏ phiếu trực tiếp cho quá trình thành lập chính phủ được cho là sẽ thay đổi cơ cấu hành pháp và lập pháp. Thủ tướng trước kia không cần phiếu tín nhiệm để hình thành chính phủ, những điều khoản này đã được thêm vào để đảm bảo Thủ tướng không trở nên độc đoán. Tuy nhiên, cải cách vẫn ủng hộ sự tự quyết nhất định của Thủ tướng trong việc chỉ định và bãi nhiệm bộ trưởng nếu cần.

Khó khăn trong cải cách bầu cử

Kế hoạch cải cách được đề ra và kế hoạch cải cách được thông qua không phải là một. Thực tế là, để cải cách được phê chuẩn các nhà cải cách đã chấp nhận thay đổi kế hoạch của họ. Đây là lý do chính giải thích sự thất bại của hệ thống bầu cử trực tiếp, bên cạnh những mâu thuẫn căn bản của kế hoạch.

Như đã biết, động lực thúc đẩy một hệ thống bầu cử mới xuất phát từ khủng hoảng năm 1990. Nội bộ các đảng không thống nhất ủng hộ hay phản đối: nhóm 3 đảng cánh tả (Shinui, Mapam, và Ratz) có xu hướng ủng hộ, mặc dù các thành viên phản đối. Những đảng theo đạo Cơ đốc, cho mình là mục tiêu của cải cách, cũng đồng loạt phản đối. Đạo tôn giáo Do Thái Mafdal, ngược lại, tán thành cải cách. Trong khi Công đảng ủng hộ, đảng Likud không rõ ràng về quan điểm của họ: mặc dù nhiều đảng viên, trong đó có tân Thủ tướng Benyamin Nentanahu, ủng hộ bầu cử trực tiếp. Các đảng nhỏ cũng nằm trong số những nhóm phản đối mặc dù sau đó có lợi từ cải cách (như đảng Cộng sản cực tả Hadash hay như đảng Techiya và Moledet cực hữu).

Những kiến nghị bầu cử trực tiếp lần đầu tiên được đưa ra Quốc hội vào tháng 5/1990. Hai năm sau đó đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận trong đó cả truyền thông diện rộng và chiến dịch vận động tại cơ sở được thực hiện. Chỉ đến 18/3/1992, sau nhiều lần được đưa ra thảo luận ở Quốc hội, bản kế hoạch cải cách bầu cử mới được thông qua.

Nhờ nỗ lực vận động hành lang và áp lực từ dư luận, bộ luật bầu cử được đưa vào trước khi Quốc hội xem xét lần cuối năm 1992. Quá trình bỏ phiếu cho dự thảo luật không diễn ra suôn sẻ, mà bị phá rối và cáo buộc người Trình bày một cách nặng nề. Do vậy, dự thảo được gửi trở về Ủy ban Hiến pháp để sửa lại. Cuối cùng, tu chính án khôi phục bỏ phiếu tín nhiệm được thông qua như một phần của cải cách.

Đảng Likud nhận trách nhiệm chính cho những bất đồng, tranh cãi cũng như cách tổ chức thảo luận trong nghị viện. Thủ tướng lâm thời Yitzhak Shamir cực lực phản đối bầu cử trực tiếp (vì ông cho rằng sẽ bị đảng Likud vượt mặt). Một thành viên đảng Likud trong Quốc hội Uriel Lynn, nhà tài trợ chính cho cải cách đồng ý không chỉ giữ lại hình thức bỏ phiếu tín nhiệm mà còn giảm số lượng phiếu cần thiết từ 70 còn 61 để trì hoãn thời gian bộ luật mới được áp dụng cho đến kì bầu cử năm 1996. Sự thay đổi này phần nào giảm sự bất an của đảng Likud, lãnh đạo đảng đã cho phép bỏ phiếu tự do, và kế hoạch thành luật chính thức chỉ 5 ngày trước khi kết thúc mùa đông.

Để thấy rõ hơn lý do thất bại của bầu cử trực tiếp cần nhìn vào những sửa đổi và bản dự thảo cuối cùng. Mặc dù được đưa ra thảo luận trong Quốc hội nhiều lần, nhưng yếu tố cốt lõi của kế hoạch – yêu cầu Thủ tướng phải có sự tín nhiệm của Quốc hội – được giới thiệu vào giờ thứ 11 mà không được góp ý.4 Trong khi đó, nhiều người ủng hộ cải cách hy vọng rằng sau 4 năm trì hoãn công tác triển khai luật bầu cử trực tiếp có thể bắt đầu và sẽ có thêm nhiều thành viên Quốc hội được bầu năm 1992 tán thành kế hoạch này. Tuy nhiên, hy vọng không được thực hiện. Chính phủ của Công đảng do Yitzhak Rabin lãnh đạo bắt đầu nhiệm kỳ tháng 6/1992 không mấy quan tâm, nỗ lực sửa đổi không hiệu quả. Kế hoạch được phê duyệt tháng 3/1992 được áp dụng bầu cử ở Israel từ 1996 đến 1999.

Kết quả cải cách

Được áp dụng nhằm giải quyết tình trạng phân tán quyền lực và sự bảo thủ của chính phủ, tuy nhiên sắp đặt thể chế mới có kết quả không như mong đợi. Hình thức bầu cử mới đập vỡ hy vọng mà những bóng ma liên minh đang kêu gào và những cuộc bầu cử sớm có thể được thanh tẩy, và bộ máy hành pháp tiếp tục bị kìm hãm khó có thể đưa ra chính sách nhất quán về những vấn đề còn gây tranh cãi.

Bên cạnh đó, sự ổn định mà các nhà cải cách mong muốn mang đến để giải quyết hậu quả của bầu cử sớm bị hạn chế trong quyền lực của Thủ tướng. Khi gần hết nhiệm kỳ và chu kỳ bầu cử mới sắp bắt đầu, đối tác trong liên minh có thể trở nên rời rạc.

Vậy còn những kết quả nào khác mà các nhà ủng hộ cải cách mong muốn đạt được?

Sau đây là so sánh kết quả của bầu cử trực tiếp với cuộc bầu cử trước diễn ra vào tháng 6/1992.

  1. Tính hợp pháp của Thủ tướng

Bầu cử trực tiếp được cho là sẽ mang lại cho Thủ tướng Israel tính hợp pháp mà hệ thống bầu cử trước không làm được, một phần do tình trạng nghị viên phân mảnh. Năm 1996, ứng viên Netanyahu chiến thắng sát sao 50,4%, chênh 6% so với ứng viên còn lại. Năm 1999, Ehud Barak chiến thắng ở mức 56% so với 44%. Tuy nhiên chưa đầy 21 tháng sau đó, Barak bị bãi nhiệm bởi Thủ tướng sau đó là Ariel Sharon, ông nhận được 63% phiếu ủng hộ trong đợt bầu cử có tỷ lệ tham gia thấp nhất trong lịch sử (59,9%). Ba lần bầu cử sau (với nhiệm kỳ 4 năm) lại không có được sự ổn định.

Quyền lực của Thủ tướng chỉ tăng lên trên lý thuyết, chứ không trên thực tế. Theo đánh giá của Giovanni Sartori, Thủ tướng như là “một vị tướng không có quân đội” nếu áp đặt kỷ luật lên các đảng nhỏ hay thậm chí các cá nhân thành viên Quốc hội. Họ đều là những người có quan điểm mạnh mẽ, có thể chi phối lá phiếu cử tri và họ thừa biết chỉ cần họ rời vị trí trong Quốc hội, liên minh của Thủ tướng sẽ lung lay.

  1. Bỏ phiếu phổ thông là phương pháp duy nhất thay đổi chính phủ. 

Trong một phản ứng trước thủ đoạn chính trị nội bộ Quốc hội năm 1990, cải cách năm 1992 đề cao ý tưởng chính phủ phải luôn là đại biểu trực tiếp mong muốn của người dân. Tuy nhiên, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ ngưỡng thấp trước đây không tạo ra được mối liên kết giữa nhà lập pháp với những mong muốn ấy, các nhà cải cách kiến nghị rằng quyền lập pháp và quyền hành pháp được bầu cử phải cùng tham gia hoặc cùng rời nghị trường.

Nói cách khác, hệ thống mới yêu cầu bất kỳ thay đổi nào trong Quốc hội phải được đa số phiếu tán thành. Ngoài ra, hệ thống bầu cử mới chuyển quyền bầu cử Thủ tướng cho cử tri thay vì đảng như trước đây. Đảng có vai trò đề cử ứng viên cho quá trình bầu cử.

Cải cách năm 1992 đã đạt được mục tiêu này, tuy nhiên, nó phải chịu một cái giá khác. Mâu thuẫn nội bộ liên minh phá vỡ mối quan hệ giữa các đảng đồng minh. Vì vậy, bầu cử trực tiếp mang quyền lực tới cho người dân, tránh sự can thiệp của tầng lớp quý tộc, tất nhiên làm suy yếu quyền hành pháp của chính phủ.

Đáng nói là theo những số liệu thu thập được, bảo thủ không phải là hướng đi hữu hiệu cho chính phủ Israel. Mặc dù tồn tại sự khác nhau giữa liên minh chính trị, được 3 thủ tướng bầu cử trực tiếp Netanyahu, Barak, và Sharon dựng lên,  đều có những điểm chung. Cả 3 vị thủ tướng này đều đã trải qua tình trạng căng thẳng xảy ra trong liên minh đảng: sự phân tách đảng tôn giáo và đảng không theo tôn giáo, giữa nhóm ủng hộ và nhóm chống đối tiến trình hòa bình. Nếu chạm đến vấn đề này, xảy ra tình trạng rạn nứt nội bộ đảng là tất yếu.

Với việc bỏ phiếu bầu Quốc hội được tổ chức riêng và tình trạng tiêu chuẩn bầu cử thấp, không có Thủ tướng nào có thể thay thế liên minh hiện tại để tìm đến liên minh vững chắc hơn. Thay vào đó, mỗi Thủ tướng phải làm việc với chính phủ bất ổn, đặc biệt khi phải đối mặt với những vấn đề hóc búa về đất nước, tôn giáo, hay tranh chấp với Palestine. Tóm lại, hệ thống không vững chắc khi cản trở quyền điều hành của Thủ tướng.

  1. Giảm số lượng và ảnh hưởng của đảng nhỏ. 

Cần phải giảm thiểu số lượng đảng có mặt trong nghị viện – đặc biệt là các đảng nhỏ, đồng thời củng cố sức mạnh đảng nòng cốt. Những người ủng hộ cải cách hy vọng rằng ứng viên vị trí Thủ tướng và đảng viên của Công đảng và đảng Likud sẽ thu hút được nhiều phiếu ủng hộ trong cuộc chạy đua vào Quốc hội Knessets. Đổi lại, hệ thống đảng cần được cơ cấu để xây dựng liên minh vững chắc hơn, và ổn định hơn.

Thực tế là, cơ chế để cử tri duy trì lá phiếu ủng hộ cho Quốc hội và Thủ tướng sẽ hạn chế việc phân tán liên danh. Sự ra đời của hệ thống bầu cử 2 lần không thúc đẩy cử tri chọn Công đảng hay đảng Likud thay cho các đảng nhỏ. Trong kỳ bầu cử năm 1996 và 1999, cử tri không ủng hộ nhiều cho Công đảng và đảng Likud, vì vậy đã để cho tập hợp nhóm các đảng nhỏ có được nhiều ghế trong Quốc hội.

Nhóm cải cách đáng lẽ nên nhận ra sớm hơn rằng hệ thống 2 lần bầu cử kéo theo tình trạng phân chia phiếu bầu (ticket-splitting)[a], tuy nhiên họ đã lờ đi khả năng này. Khi xảy ra tình trạng phân tán và bất ổn, những người ủng hộ cải cách phủ định rằng đây là hậu quả của bầu cử trực tiếp. Ngược lại, họ cho rằng, tình trạng Công đảng hay đảng Likud giảm sức ảnh hưởng so với sự lớn mạnh của nhóm các đảng nhỏ đã tiếp diễn từ những năm 1980. Nếu bầu cử trực tiếp không được áp dụng, hệ thống chính trị sẽ còn tệ hơn.5

Những thập kỷ qua đã chứng kiến sự suy giảm lòng trung thành của cử tri với đảng trong bối cảnh chính trị ở Israel, cải cách hướng đến tăng cường ổn định cần khuyến khích cử tri bỏ phiếu cho đảng cốt lõi. Nhưng một số nhà chính trị học như Gideon Doron và Michael Harris giải thích rằng:

 Những người cải cách đã không để tâm rằng… thay đổi luật lệ và quy định cũng có thể thay đổi cách suy nghĩ và hành xử của cá nhân, dẫn đến những kết quả trái với mong đợi… Cử tri thực tế thiên về ủng hộ nhóm các đảng nhỏ trong Quốc hội Knesset, như vậy càng hạn chế khả năng điều hành của Thủ tướng.6

Bầu cử trực tiếp thực sự tạo ra xu thế hướng tâm, nhưng chỉ đối với bầu cử Thủ tướng. Trong một hệ thống phân cực, rời rạc và còn xa mới có được sự thống nhất của Israel, không một xu hướng nào như vậy có thể bị xem thường. Vì thế nên đã dẫn tới tình trạng kỳ quặc ở các chiến dịch mà trong đó hai đảng lãnh đạo cạnh tranh nhau trong khi cử tri lại hướng đến các đảng nhỏ nhưng có tư tưởng chính trị sắc bén và không ngần ngại lên tiếng về những vấn đề nóng hổi gây tranh cãi. Kết quả là, trong khi nguyên tắc căn bản của bầu cử Thủ tướng trực tiếp khiến cử tri đưa ra lựa chọn giữa 2 đảng tương đương nhau, thì bầu cử theo tỷ lệ lại kéo những cử tri đó theo hướng ngược lại.

Trong khi các yếu tố dài hạn có vai trò quan trọng trong việc suy giảm của Công đảng và đảng Likud, thì bỏ phiếu 2 lần làm cho vấn đề này trở nên trầm trọng hơn như kỳ bầu cử năm 1996 và 1999. Năm 1992, theo hệ thống cũ, Công đảng thắng 34,6 % phiếu bầu và 44 ghế (tăng từ 39 ghế năm 1988), trong khi đảng Likud chỉ khoảng 25%, giảm từ 40 ghế còn 32 ghế. Năm 1996, ứng viên Netanyahi của đảng Likud thắng cử vị trí Thủ tướng với 50,4% phiếu bầu, trong khi danh sách đảng của ứng viên này bao gồm cả đảng Gesher và Tsomet nắm 40 ghế, là khoảng 25% và chỉ mất 8 ghế. Năm 1999, Netanyahu bị bỏ lại phía sau với 44%, ngược lại Likud có sự ủng hộ thấp nhất chỉ với 14% và 19 ghế. Trong thời gian này, các đảng cánh tả của Likud thu được nhiều kết quả.

 ĐẢNG VÀ SỐ GHẾ TRONG KỲ BẦU CỬ QUỐC HỘI, 1981 – 1999

NĂM BẦU CỬ SỐ GHẾ TRONG QUỐC HỘI SỐ ĐẢNG TRONG LIÊN MINH CHÍNH PHỦ
CÔNG ĐẢNG LIKUD ĐẢNG KHÁC
1981 47 48 25 5
1984 44 41 35 6
1988 39 40 41 6
1992 44 32 44 3
1996 34 32* 54 6
1999 26 19 75 7

* Năm 1996, Likud liên minh cùng 2 đảng khác là Gesher và Tzomet, kiểm soát 10 trong số 32 ghế.

 Năm 1999, liên minh có tên là Israel thống nhất bao gồm Công đảng, đảng Meimad và Gesher. Công đảng có được 10 ghế.

Công đảng cũng bị chững lại trong kỳ bầu cử trực tiếp. Năm 1996, Shimin Peres gần như thua cuộc với 49,6% trong khi số phiếu ủng hộ và số ghế tụt xuống còn 26,8% và 34 ghế. Vì thế, không đảng nào có được hiệu ứng “theo đuổi”. Những đảng nhỏ mới là bên được lợi. Ví dụ như những đảng Arab, tăng từ 3 lên 9 ghế từ năm 1988 đến 1996. Kỳ bầu cử năm 1999 xác nhận hướng đi xuống của các đảng. Ehud Barak thắng đậm với 56% nhưng liên minh các đảng Israel thống nhất chỉ nhận được 10% phiếu ủng hộ với 26 ghế. Trong số đó, Công đảng có 23 ghế, giảm 11 ghế so với năm 1996, mặc dù đảng này đã giành chiến thắng trong cuộc đua chọn vị trí Thủ tướng.

Hiệu ứng “theo đuổi”, nếu có, là đối lập với những gì các nhà cải cách dự đoán. Số lượng đảng trong Quốc hội Knesset tăng từ 10 đảng năm 1992 lên 13 đảng năm 1996, và 15 đảng năm 1999.7 Sự gia tăng về số lượng xảy ra mặc dù ngưỡng tiêu chuẩn để vào Quốc hội được nâng từ 1 lên 1,5% năm 1991 – đây là cuộc cải cách nhằm giữ loại bỏ danh sách 1 thành viên ra ngoài sau khi số lượng đảng tăng lên 15 năm 1998. Rõ ràng là bằng việc cho phép cử tri đi bầu 2 lần trong ngày bầu cử, hình thức bầu cử trực tiếp giảm lượng phiếu bầu chiến lược cho 2 đảng lớn là Công đảng và đảng Likud.

Sự phát triển này cũng giải thích tại sao hình thành liên minh đa số lại khó khăn hơn. Năm 1992, Công đảng có 44 ghế, cần thêm 17 ghế nữa để được 61 ghế. Năm 1996, đảng Likud có 32 ghế và cần 29 ghế nữa. Năm 1999, Công đảng chỉ có 26 ghế và như vậy cần thêm 35 ghế. Khi Ariel Sharon thắng áp đảo trong kỳ bầu cử tháng 2/2001, ông đã phải đối mặt với tình trạng Quốc hội tương tự như năm 1999 và phải bắt đầu xây dựng liên minh xoay quanh đảng Likud lúc đó chỉ có 19 ghế. Hiển nhiên là, Thủ tướng cần sự tán thành của ít nhất 42 nhà lập pháp trong Quốc hội với 15 đảng. Thủ tướng cần tìm kiếm lá phiếu ủng hộ trong sự phân tán của các đảng, và sẽ phải xoay xở với liên minh dễ nảy sinh nhiều vấn đề nội bộ. Đây là một điểm yếu trong hệ thống rất dễ nhận ra.

Từ năm 1992 tới 1999, số lượng đảng được coi là cốt yếu sẵn sàng tham gia bất kì liên minh chính phủ nào tăng từ 3 (tổng cộng 16 ghế) lên 6 (tổng cộng 38 ghế). Các đảng tôn giáo hay đưa ra nhiều đòi hỏi nhất trong liên minh tăng tỷ lệ đại diện từ 16 ghế năm 1992 lên 23 năm 1996, và 27 ghế năm 1999.8 Danh sách đảng phái hay dân tộc cũng tăng lên. Như đã đề cập trước đó, đảng Arab tăng từ 5 ghế năm 1992 lên 9 ghế năm 1996 và 10 năm 1999. Đảng dân nhập cư gốc Nga thắng 7 ghế trong Quốc hội. Ba năm sau, 10 ghế cũng rơi vào tay 2 đảng khác. Đảng Third Way (mong muốn duy trì Golan Height) có được 4 ghế năm 1996. Mặc dù đảng này biến mất năm 1999, nó được sát nhập với đảng Centre và đảng Shinui (mỗi đảng này có 6 ghế).

Hệ thống đảng lỏng lẻo cản trở quá trình xây dựng và duy trì liên minh. Những người ủng hộ bầu cửu trực tiếp tranh luận rằng hệ thống mới sẽ ngăn chặn thất bại bầu cử năm 1990. Bầu cử trực tiếp cũng đảm bảo sẽ có kết quả người chiến thắng rõ ràng. Sẽ không có tranh chấp giữa Công đảng và đảng Likud, như năm 1990, khi mà các đảng và nhà lập pháp tham gia cả 2 đảng để tăng cường vai trò chính trị cũng như sự ủng hộ mà họ có thể nhận được.

Kinh nghiệm của Israel thời bầu cử trực tiếp cho thấy một câu chuyện khác. Năm 1992, Rabon giới thiệu chính phủ liên minh 3 đảng 23 ngày sau bầu cử. Bốn năm sau, Ntanyahu cần 21 ngày để đưa ra liên minh 8 đảng. Năm 1999, Barak mất 51 ngày để hình thành liên minh 7 đảng. Chính phủ 7 đảng của Sharon nhận được số phiếu ủng hộ chỉ 30 ngày sau chiến thắng kỳ bầu cử năm 2001. Nhìn chung, sự xuất hiện của ứng viên thắng cuộc một cách rõ ràng cho vị trí Thủ tướng, người mà nội các tương lai của ông ta “nắm giữ toàn bộ luật chơi” dường như làm rất ít hoặc không làm gì để sắp xếp các thỏa hiệp liên minh. Thực sự, những liên minh như vậy chỉ ngày càng cồng kềnh và vụng về hơn.

Yêu cầu cần phải đáp ứng các đối tác trong liên minh bằng việc cung cấp cho họ ghế trong Quốc hội hay tài trợ các chương trình và cơ quan do họ bảo trợ tạo ra lượng chi tiêu công rất lớn. Đồng thời, cũng tạo ra sự chuyển dịch nguồn lực sang các đảng nhỏ, khiến cho các đảng này càng mạnh hơn. Vì vậy, mặc dù Thủ tướng có sức mạnh trên danh nghĩa, cơ chế đảng phái và những tính toán nghiêm ngặt về việc duy trì liên minh sẽ ép ông ta phải nhảy theo nhịp của các đảng nhỏ.

Liên minh có thể giải quyết sự khác biệt về tư tưởng giữa các đảng thành viên, tất cả các đảng đều cần phải cân nhắc, nhượng bộ để đổi được quyền lực. Bầu cử trực tiếp (như báo cáo ngân sách trung ương chứng nhận) khiến cho đặc điểm này của liên minh đi đến giới hạn của nó. Những chi phí đơn thuần – thời gian, vấn đề, ngân quỹ nhà nước – của việc duy trì một liên minh chính phủ không bền vững ảnh hưởng đến quyền hành pháp trong quá trình giải quyết các vấn đề chính trị. Vấn đề này trở nên phức tạp hơn ở Israel xuất phát từ sự chia rẽ trong Quốc hội. Trong một Quốc hội, liên minh ổn định cần vượt qua cả quyền lực Thủ tướng. Ngược lại, liên minh bất ổn chỉ dừng lại ở cấp độ dưới quyền hành của Thủ tướng.

Cải cách hy vọng đạt được kết quả khác so với những gì hệ thống bầu cử tỷ lệ từng mang lại. Trong suốt lịch sử của Israel, những lần cải cách bầu cử thường bị cản trở bởi lợi ích nhóm. Những nhà cải cách vì thế tự thuyết phục bản thân họ rằng quyền lực và tính hợp pháp được nâng cao bằng việc bầu cử Thủ tướng một cách trực tiếp sẽ đặt họ cao hơn sự phản đối của áp lực đảng phái hẹp hòi. Sự sắp xếp hệ thống đảng được kỳ vọng là gia tăng ủng hộ cho Thủ tướng, bổ sung quyền lực thực tế vào các điều khoản cũ được liệt kê trong bộ luật mới. Hệ thống đảng tinh gọn là nhằm hạn chế tiềm năng tống tiền lên các thành viên liên minh. Israel do đó sẽ được hưởng lợi từ quyền hành pháp ổn định và mạnh mẽ hơn, mà không cần xóa bỏ hẳn nguyên tắc tỷ lệ được ghi trong Hiến pháp.

Như đã thấy, kết quả bầu cử năm 1996 và 1999 không đáp ứng những kỳ vọng trên. Đến giữa năm 2000, những sự kiện xảy ra dưới thời Thủ tướng Ehud Barak của Công đảng lại trở thành chất xúc tác cho phong trào phản đối bầu cử trực tiếp và đặt dấu chấm hết cho hình thức bầu cử này vào ngày 7/3/2001.

Nhiệm kỳ của Thủ tướng Barak và sự kết thúc của bầu cử trực tiếp

Bối cảnh khó khăn trong nhiệm kỳ Thủ tướng Barak phản ánh thất bại của cuộc cải cách. Mặc dù có được chiến thắng 12 điểm, Thủ tướng Barak đã phải đối mặt với một Quốc hội Knesset bị kiểm soát (dù chênh lệch rất nhỏ) bởi các đảng tôn giáo và cánh tả từng là thành phần chính phủ dưới thời Thủ tướng Netanyahu trước đó. Thủ tướng Barak không có cách nào khác ngoài việc đi thuyết phục một vài trong số những đảng phái đó. Như chúng ta đã nhìn thấy, ông đã mất gần 2 tháng. Cuối cùng, ông nhận được 75 phiếu tín nhiệm của 7 đảng. Nhóm các đảng Arab và đảng thế tục Shinui bị loại ra. Nhóm các đảng tôn giáo – Shah (17 ghế), Torah Judaism thống nhất (5), và đảng Mafdal (5), cũng như đảng người nhập cư Be’aliyah (6) đều có mặt cùng đảng Meretz (10) và đảng Trung tâm (6).

Liên minh này, một vài người cho rằng, ở một số thời điểm đã trở nên quá lớn đến nỗi rất khó để đạp đổ được chính phủ mới, đặc biệt khi không có một đảng nào có thể đạp đổ chính phủ bằng cách bỏ rơi nó. (Thủ tướng Barak không đưa đảng Shinui và Arab vào trong liên minh, nhưng vẫn phụ thuộc vào số phiếu của họ để duy trì chính phủ nếu tình trạng ly khai diễn ra). Tuy nhiên, sự lạc quan này đã tỏ ra không hề có cơ sở. Gần 12 tháng sau khi nhậm chức, Thủ tướng Barak đã tham gia cuộc đối thoại tại Trại David tháng 7/2000 với 29 ghế thành viên trong Quốc hội thuộc Công đảng, đảng Israel thống nhất, và đảng Trung tâm. Và Quốc hội Israel ngày càng trở nên căng thẳng hỗn loạn hơn bao giờ hết, với việc một vài nhà lập pháp đã phá vỡ mối liên hệ giữa các đảng đồng thời yêu cầu phần chia của họ khi tham gia chính phủ.

Tại sao liên minh của Thủ tướng Barak đổ vỡ? Khả năng lãnh đạo của Barak đúng là đã không giúp được gì nhưng nguyên nhân chính cho sự thất bại này là sự hiện diện của các chia rẽ sâu sắc khi phải đối mặt với hai tập hợp vấn đề chính. Tập hợp vấn đề đầu tiên là mối quan hệ giữa tôn giáo và nhà nước, còn tập hợp vấn đề thứ hai là cách thức triển khai quá trình hòa bình vốn đang lung lay sẵn.

Bị xé nát bởi xích mích và thù địch, đặc biệt là giữa giữa các đảng siêu Chính thống, đảng Shas do nhóm Sepharic dẫn đầu, đảng cánh tả Meretz, liên minh bất hạnh này vẫn khập khiễng được thêm 9 tháng. Khủng hoảng tồi tệ nhất xảy ra vào đêm Thủ tướng Barak tới gặp Tổng thống Mỹ Bill Clinton tại trại David đầu tháng 7/2000, khi đó đảng Shas, Mafdal và Israel Be’ Aliyah rời liên minh.

Nhờ vào thủ đoạn điêu luyện của bản thân và sự thiếu nhịp nhàng của đối thủ, Thủ tướng Barak xoay sở chống đỡ lại được các động thái bất tín nhiệm trong vài tháng. Những người ủng hộ bầu cử trực tiếp cho rằng năng lực duy trì chính phủ của Thủ tướng Barak dù không có được sự ủng hộ đa số của Quốc hội là hệ quả trực tiếp của hệ thống cải cách, và điều này cũng chỉ ra một dấu hiệu rằng cải cách đang mang tới sự ổn định.9 Cuối cùng, đến tháng 12/2000, Barak quyết định từ chức, nhưng không giải tán Quốc hội Knesset. Với bước đi này, Barak muốn Sharon chứ không phải Netanyahu trở thành đối thủ của ông trong kỳ bầu cử Thủ tướng mới. Vì rời Quốc hội, nên Netanyahu sẽ không đủ điều kiện để tranh cử trừ phi Quốc hội giải tán.

Từ sau sự bùng nổ của nhóm chống đối al-Aqsa Intifafah cuối tháng 9/200, chính quyền Thủ tướng Barak trở nên yếu đuối và không thể đương đầu với những vấn đề an ninh và ngoại giao sau sự thất bại của Hiệp định Oslo. Nội các của Barak cũng không giải quyết được những vấn đề căn bản như ngân sách năm 2001, mà phải để lại cho kỳ bầu cử Thủ tướng lần sau.

Sự bất lực của bộ máy hành pháp trong việc xử lý những vấn đề cấp thiết chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Bầu cử trực tiếp thực chất đã khuếch đại phân mảnh chính trị, và tạo nên một hệ thống mà Thủ tướng điều hành không hiệu quả, đất nước lâm vào tình trạng bất ổn và phải tổ chức bầu cử thường xuyên. Khủng hoảng an ninh và ngoại giao càng làm lộ rõ điểm hạn chế của hệ thống. Khi Sharon bắt đầu nhiệm kỳ Thủ tướng mùa xuân năm 2001, Israel có sự chuyển đổi trong Quốc hội. Bầu cử trực tiếp bị ngừng lại, hình thức bỏ phiếu không tín nhiệm được thêm vào, và các động thái không tín nhiệm yêu cầu phải có đa số 61 phiếu tán thành. Bên cạnh đó, Thủ tướng vẫn có quyền giải tán Quốc hội. Bầu cử trực tiếp khi sau khi thử nghiệm không phù hợp đã bị loại bỏ.

Đa số tán thành bãi bỏ hình thức bỏ phiếu trực tiếp, với 72 phiếu, 37 phiếu không tán thành, 3 phiếu trống. Những nhóm ủng hộ thay đổi này là Công đảng, đảng Likud, Meretz, đảng liên đoàn quốc gia cánh tả, và đảng Herut, 4 nhà lập pháp từ đảng Trung tâm và 4 đại diện đảng Arab. Đảng Torah thống nhất cực Chính thống ủng hộ bãi bỏ, để đổi lại là sự tán thành luật tôn giáo từ đảng Likud; đảng Shas cùng với 2 trong số 5 nhà lập pháp Mafdal bỏ phiếu phản đối. Những người phản đối chủ yếu từ nhóm các đảng nhỏ, bao gồm cả đảng người nhập cư và đảng Shinui.

Với một vài trường hợp cá nhân ngoại lệ, các nhà lập pháp từ đảng nhỏ hẹp hơn và đảng “ngành” phản đối việc bãi bỏ, trong khi các thành viên của các đảng lớn hơn và có tư tưởng hơn (chính là các đảng mà bầu cử trực tiếp được cho là sẽ có lợi cho họ) lại tán thành. Rõ ràng, những người có thể chịu thiệt từ ​​sự trở lại của các hệ thống trước đó hầu hết đã cố gắng duy trì bầu cử trực tiếp. Đó là một bằng chứng hùng hồn cho hậu quả không lường của bầu cử trực tiếp.

Liệu hệ thống nửa cũ nửa mới được phục hồi tháng 3 năm 2001 có duy trì và củng cố bộ máy hành pháp? Thời gian sẽ đưa ra câu trả lời. Trong khi đó, những gì là đáng ngạc nhiên nhất trong chương cuối cùng về kinh nghiệm ngắn ngủi của Israel với cuộc bầu cử trực tiếp là luật thay thế nó chưa được thảo luận thấu đáo trước khi phê duyệt. Như để chứng minh cho sự thất bại của cuộc bầu cử trực tiếp, chỉ có ba hội nghị ủy ban là Israel đã đi đến một thỏa thuận về bộ luật mới mà gần như không hề có tranh luận công cộng đối với quá trình lập pháp.10

Kinh nghiệm của Israel không ủng hộ việc áp dụng mô hình này ở các nền dân chủ nghị viện khác vì nó gây ra một xã hội phân rã và một hệ thống PR rời rạc. Không còn gì phải nghi ngờ rằng sự thất bại của Israel trong việc hưởng lợi từ cải cách xuất phát từ thực tế rằng cuộc bầu cử trực tiếp đã trở thành một sự thay thế cho cải cách bầu cử căn bản, chứ không phải chỉ là một thành phần của nó mà thôi.

Nếu có một bài học quan trọng được rút ra từ thí nghiệm thất bại của Israel, đó chính là cuộc bầu cử trực tiếp Thủ tướng có thể tăng cường sự điều hành chỉ khi họ có thể điều hành quốc gia mà không cần quốc hội. Điều này tất nhiên làm tăng thêm nguy cơ của một chủ nghĩa dân túy hoặc thậm chí độc tài, nhưng nó là nguy cơ sẽ phải được giải quyết bởi bất kỳ chính thể nào trên con đường cải cách.

Nếu cuộc bầu cử trực tiếp gắn với chính phủ nghị viện, như Israel đã cố gắng để làm, hệ thống bầu cử quốc hội cũng phải được điều chỉnh để khuyến khích một hiệu ứng “theo đuôi” cho các đảng có thành viên chạy đua vị trí Thủ tướng. Sự điều chỉnh đó phải như thế nào? Hay liệu nó có khả thi?

Đây là những câu hỏi khó trả lời một cách ngắn gọn. Có thể tiếp cận bằng cách bắt buộc các bên tạo thành các liên minh trước cuộc bầu cử. Như vậy sẽ hạn chế được tình trạng phân chia phiếu bầu. Nhưng hệ thống này cũng có những hạn chế của nó, đặc biệt là nếu có nhiều hơn hai ứng cử viên chạy đua vị trí thủ tướng. Ngoài ra còn cần gì hơn nữa, để đảm bảo rằng các liên minh sẽ không đổ vỡ sau cuộc bầu cử?

Nền dân chủ nghị viện khác, trong đó có Nhật Bản, không nên chỉ quan tâm ví dụ của Israel để xem xét tính khả thi của bầu cử trực tiếp. Chính hệ thống lá phiếu của Israel khiến cho bầu cử trực tiếp thất bại. Một trong những bài học rõ ràng về trường hợp của Israel là cuộc bầu cử trực tiếp chỉ thành công nếu nó đi kèm với một hệ thống bầu cử quốc hội mà đảm bảo Thủ tướng nhận được đa số phiếu bầu.

———————————————————

[a] Tức là một lần bỏ phiếu quyết định cho nhiều vị trí khác nhau trong chính quyền, do đảng chiến thắng tự quyết định

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH: 

  1. Đọc Vernon Bogdanor, “The Electoral System, Government, and Democracy,” trong Ehud Sprinzak và Larry Diamond, eds., Israeli Democracy Under Stress (Boulder, Colo.: Westview, 1993), 83–106.
    2. Để đọc một quan điểm ủng hộ đối với hệ thống mới, đọc Bernard Susser, “The Direct Election of the PM: A Balance Sheet,” trong Daniel J. Elazar và Shmuel Sandler, eds., Israel at the Polls 1996 (London: Frank Cass, 1998), 237–57.
    3. Bỏ phiếu tín nhiệm là một đặc điểm rõ ràng của hệ thống nghị viện. Cùng với nó, cải cách 1992 đã củng cố những đặc điểm nghị viện khác, bằng cách đóng khung các thực hạnh trong tư pháp mới. Theo luật Cơ Bản, Thủ tướng và ít nhất một nửa số bộ trưởng cũng cần là thành viên của quốc hội, như là một cách để nhấn mạnh bản chất nghị viện của hệ thống, sự từ chức của thủ tướng khỏi ghế quốc hội Knesset đồng nghĩa với từ chức khỏi văn phòng thủ tướng.
    4. Bản thân Uriel Lynn đã bật ra những lời tiên tri về điểm này. Vào ngày 21 tháng 11 năm 1990, để đáp lại một cộng sự trong quốc hội đang khẳng định rằng cần phải có bỏ phiếu tín nhiệm cho mỗi chính phủ mới, Lynn đã chỉ ra: “Bất kỳ ai muốn có được tín nhiệm của Knesset thì nên từ bỏ bỏ phiếu trực tiếp và giữ hệ thống hiện tại. Không thể làm được hai điều mâu thuẫn với nhau cùng một lúc. Không thể hợp pháp hóa điều luật để đạt được một mục đích trung tâm và sau đó lại vô hiệu hóa điều luật đó vì mục đích trung tâm này. Khoảnh khắc mà một người cho phép Knesset, hoặc chúng ta có thể nói rằn Knesset nên thể hiện bỏ phiếu tín nhiệm đối với Thủ tướng, có nghĩa là Knesset được trao quyền để loại bỏ quyền lực mà Thủ tướng có được từ người dân.”
    5. Tới tận năm 1997, Uriel Lynn vẫn bảo vệ chương trình cải cách trong các bài phỏng vấn, gọi nó là “bộ luật tuyệt vời, thiếu nó thì một nền vô chính phủ sẽ cai trị, còn tệ hơn so với tình trạng vào cái đêm của “thủ đoạn chính trị dơ dáy.” Jerusalem Post, 11/3/1997, 3.
    6. Gideon Doron và Michael Harris, Public Policy and Electoral Reform: The Case of Israel (Boston: Lexington Books, 2000), 72.
    7. Trong vòng một tháng sau bầu cử, con số đã tăng lên 16, bởi vì một sự phân chia trong đảng Israel Be’Aliyah. Điều này tình cờ làm dấy lên những khả năng đảng này rời khỏi liên minh, chỉ một tuần sau khi chính phủ giành được phiếu tín nhiệm của Quốc hội.
    8. Đầy là một biểu hiện khác của thất bại, bởi vì người ta có thể tranh luận rằng cải cách đã được trình bày và quảng bá đến với công chúng như một cách để làm giảm quyền lực của các đảng tôn giáo. Đọc Nehemiah Stressler, “Photo-op with whom?” Ha’aretz (Tel Aviv), 8/11/1991, 1B: “The proposed system of government will most of all hurt the blackmail powers of the ultra-religious parties and the power of the extreme right. This is why it is worthy of full support.” Đọc Amnon Rubinstein, “Still Time for Electoral Reform,” Jerusalem Post International Edition, 3/8/1991, 2: “Direct election would drastically slash the power vested in such minorities by the current system in ‘tipping the balance.’”
    9. Đọc Iki Elner, It’s not the system, in Y-net, Yediot Aharonot online, 18/12/2000, www.ynet.co.il. Elner chống đỡ chỉ trích đối với bầu cử trực tiếp bằng việc nói rằng: “Without it, we would certainly be witnesses to an unending alternation of Prime Ministers, and this without going to an election and without asking the will of the people.”
    10. Các phiên họp xảy ra vào 20/12/ 2000 và 13 và 20/2/2001. Những ghi chép về những chủ ý bị cắt xén này có thể được tìm trong Proceedings 2361, 2728, và 2761 của Law, Constitution và Justice Committee, www.knesset.gov.il.