Jeffrey Cason [1]

Jeffrey Cason là giáo sư về khoa học chính trị và là người đứng đầu của chương trình nghiên cứu quốc tế tại Trường Middlebury ở Vermont. Ông là đồng tác giả (với Christopher Barrett) của công trình “Nghiên cứu Quốc tế: Một Hướng dẫn Thực tiễn” (Overseas Research: A Practical Guide) (1997), biên tập viên (cùng với Michael Carter và Frederic Zimmerman) của công trình “Ngã tư của Đổi mới: Lộ trình tới sự bền vững sau cuộc cách mạng tân dân chủ” (Development at a Crossroads: Paths to Sustainability After the Neoliberal Revolution) (1998), và là biên tập viên (cùng với Sunder Ramaswamy) của công trình “Dân chủ và Phát triển: Điểm nhìn mới về một tranh luận cũ” (Democracy and Development: New Perspectives on an Old Debate) (2003). Bài viết này xuất hiện lần đầu trên số ra tháng 4 năm 2000 của Tạp chí Dân chủ.

*****

Tháng 11 năm 1999, Uruguay đã tổ chức kỳ bầu cử quốc gia lần thứ tư liên tiếp sau thời khắc chế độ độc tài quân sự từng ngự trị trên quốc gia này sụp đổ năm 1985. Theo đó, chính phủ Uruguay đã tái khẳng định cam kết mạnh mẽ mà họ dành cho các luật lệ chính trị dân chủ, đồng thời cố gắng thích ứng với một tập hợp cải cách hiến pháp đã thay đổi sâu sắc hệ thống bầu cử. Một trong những cải cách quan trọng nhất là quy chế thiết lập một cuộc bầu cử vòng hai (runoff) nếu không có ứng cử viên tổng thống nào nhận được đa số phiếu (hơn 50% số phiếu) ở vòng bầu cử đầu tiên. Đúng như dự kiến, họ đã cần đến cuộc bầu cử vòng hai, và người giành chiến thắng trong vòng này là Jorge Batlle của Đảng Colorado (Colorado Party), người về thứ hai trong vòng đầu tiên. Dựa vào các quy tắc hiến pháp mới, ứng cử viên Batlle đã vận động một liên minh ngay giữa vòng dồn phiếu thứ hai để hợp tác với các đối thủ chính trị truyền thống, và đánh bại đối thủ nặng ký là Tabaré Vázquez, ứng cử viên của một liên minh cánh tả, theo cách rất ngoạn mục. Những quy tắc bầu cử mới này cũng được xem như là sứ giả của quá trình chuyển biến chính trị đang cận kề, nhưng chính Uruguay cũng nhắc nhở những thế lực bên ngoài, thay đổi chỉ có thể xảy ra dần dần trong quốc gia với 3,2 triệu dân này.

Cuộc bầu cử năm 1999 cũng cho thấy, nền chính trị Uruguay không đến nỗi tiềm ẩn “nhiều bất trắc” như nó đã biểu hiện một vài năm trước. Trong một cuộc tranh luận năm 1996, Juan Linz và Alfred Stepan đã cho rằng mặc dù Uruguay đã được thống nhất trong một nền dân chủ, quốc gia này vẫn đối mặt với nhiều nguy cơ, bao gồm tình trạng kinh tế trì trệ và một hệ thống bầu cử kết hợp cả tình trạng chính trị phân mảnh và tổng thống chế để tạo nên “tình trạng chính phủ bế tắc và những liên minh chính trị đoản mệnh”[2]. Tuy nhiên, thật may mắn là một loạt cải cách hiến pháp đã được phê duyệt vào cuối năm 1996 và đến quá trình bầu cử năm 1999 thì phần lớn nguy cơ như vậy đã bị loại trừ, bằng cả giải pháp đơn giản hóa quá trình bầu cử và hỗ trợ lực lượng cánh tả đạt được quyền lực ở trung tâm. Thật vậy, ngay cả khi phe cánh tả giành chiến thắng cuộc bầu cử này, nền dân chủ vẫn rất khó bị đe dọa. Như vậy Uruguay là một quốc gia Mỹ Latin với nền chính trị khá đặc biệt: Đó là một nền dân chủ thống nhất và mạnh mẽ giữa một khu vực luôn trong tình trạng bất ổn.

“Thụy Sĩ của khu vực châu Mỹ Latin”

Trước khi bị cai trị bởi chế độ độc tài từ năm 1973 đến năm 1985, nhà nước Uruguay có lẽ là nền dân chủ ổn định nhất ở Mỹ Latin. Sau những thăng trầm trong thế kỷ XIX, một thỏa thuận ngừng bắn đã được ký kết vào đầu thế kỷ XX giữa hai đảng mạnh nhất, Đảng Colorado (Partido Colorado) và Đảng Quốc gia (Partido Nacional) (còn gọi là Đảng Blanco)[3]. Không lâu sau đó, Uruguay đã trở thành một nhà nước phúc lợi – nhà nước đầu tiên làm được như vậy ở Mỹ Latin – dưới sự lãnh đạo của nhà chính trị gia từ Colorado, ông José Batlle y Ordóñez (chính là ông chú/bác của nhân vật đã chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1999), người đã khiến đất nước này được mệnh danh là “Thụy Sĩ của châu Mỹ Latin”. Tuy nhiên, như Charles Guy Gillespie đã lưu ý, Uruguay không thực sự xứng đáng với danh hiệu này: “Nhân danh những người phụ nữ phải lao động nơi xứ người, và còn nhiều nhóm khác, cũng như gánh nặng duy trì nhà nước phúc lợi và sự can thiệp của nhà nước đã ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế, Uruguay còn lâu mới sánh bằng [Thụy Sĩ]”[4]. Bên cạnh đó, Uruguay có mức phân phối thu nhập khá bình đẳng xét trong môi trường châu Mỹ Latin, và đã xây dựng được nền móng vững chắc của nhà nước dân chủ từ đầu thế kỷ. Ngoại trừ một giai đoạn ngắn bị chính quyền độc tài cai trị trong thập niên 1930, biểu hiện của Uruguay trong thế kỷ XX vẫn cho thấy thiên hướng phát triển phù hợp với quy tắc dân chủ; đây vẫn là quốc gia sở hữu những năm tháng dân chủ lâu dài nhất ở khu vực Mỹ Latin[5].

Nền dân chủ của Uruguay đã được củng cố bởi các đảng phái mạnh. Cả Đảng Colorado và Đảng Blanco đều được hình thành vào giữa thế kỷ XIX, và từng có những đặc điểm riêng biệt. Thành viên của Đảng Colorado phần lớn có xuất thân từ đô thị, chống giáo hội và thể hiện tư tưởng tiến bộ, trong khi thành viên của Đảng Blanco phần lớn xuất thân từ nông thôn và hướng về quan điểm truyền thống. Đảng Colorado đã thống trị nền chính trị bởi quan điểm tự chủ, và đã cầm quyền liên tục trong nửa đầu của thế kỷ XX, lần duy nhất đảng này để đảng Blanco đoạt mất quyền cầm trịch (trong hai nhiệm kỳ) là kỳ bầu cử năm 1958.

Tuy nhiên, đang có một giai đoạn khủng hoảng kinh tế diễn ra ngay lúc Đảng Blanco lên nắm quyền. Mô hình nhà nước phúc lợi của Đảng Colorado lấy điểm tựa là chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu đã nhanh chóng suy kiệt, bởi thị trường nội địa nhỏ của Uruguay. Thập niên 1950 đánh dấu giai đoạn tăng trưởng bắt đầu trì trệ; còn thập niên 1960 đánh dấu thời kỳ xung đột chính trị gia tăng, phản ánh thể trạng của cả một nền kinh tế suy kiệt và bức tranh chính trị hỗn độn của cả khu vực Mỹ Latin sau cách mạng Cuba.

Cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế ngày càng tăng này ở Uruguay đã được hậu thuẫn bởi sự trỗi dậy của lực lượng chính trị cánh t ả. Mặc dù phe phái cánh tả ở Uruguay đã xây dựng được nền tảng ngay từ đầu thế kỷ XX, phải đến thập niên 1960 thì lực lượng của họ mới thực sự trở thành một đối cực quan trọng trong vũ đài chính trị của Uruguay. Ở đây, quyền lực của phe cánh tả được đại diện bởi cả nhóm đảng phái hợp pháp (từ thập niên 1960 trở đi) và một phong trào du kích đô thị cực tả, là Tupamaros. Vào cuối những năm 1960, lực lượng Tupamaros đã tổ chức các cuộc đình công ngày càng táo bạo và thường xuyên nhắm vào mọi cơ sở của nền chính trị truyền thống, khiến cho đàn áp quân sự gia tăng. Vòng luẩn quẩn của bạo lực chính trị này kết thúc khi nhiệm vụ đàn áp quân du kích được chuyển vào tay quân đội (đây vốn là trách nhiệm của lực lượng cảnh sát cho đến năm 1971). Đến cuối năm 1972, lực lượng Tupamaros đã hoàn toàn bị đánh bại về mặt quân sự.

Giữa tình hình bạo lực chính trị luôn được tiếp sức bởi áp lực từ cả lực lượng cánh tả và cánh hữu, Uruguay tiếp tục tổ chức bầu cử, mặc dù vũ đài chính trị giờ đây đã không chỉ thuộc hai đảng truyền thống với lực lượng hỗ trợ đông đảo. Vào đầu thập niện 1970, toàn bộ lực lượng cánh tả đã trở thành một lực lượng rất mạnh trong kỳ bầu cử, dưới sự lãnh đạo của liên minh chính trị Frente Amplio (Broad Front), với người đứng đầu là vị tướng về hưu Liber Seregni. Liên minh FA đã thu về hơn 18% số phiếu quốc gia trong cuộc bầu cử năm 1971, và đây cũng là lần đầu tiên số phiếu của toàn bộ lực lượng chính trị truyền thống không vượt quá 90% tổng số phiếu.

Đây cũng là kỳ bầu cử cuối cùng Uruguay còn tổ chức trong 13 năm sau đó. Quả là một trong những diễn biến đáng mỉa mai nhất của lịch sử chính trị Uruguay, vì đánh bại xong lực lượng Tupamaros thì quân đội cũng quyết định tiến hành đảo chính luôn vào tháng 6 năm 1973[6]. Lực lượng đảo chính cũng đã để xảy ra một số nhầm lẫn về chỉ đạo ở giai đoạn đầu[7], nhưng mọi sự nhanh chóng đi vào guồng máy, mặc dù quân đội đã không lật đổ tổng thống đương nhiệm khi ấy là Juan María Bordaberry. Họ vẫn để Bordaberry đứng đầu hệ thống cơ quan hành pháp đến khi ông bị buộc phải ra khỏi quân đội vào năm 1976, và cũng để bảo đảm quyền thống trị, quân đội cũng tiến hành giải tán Quốc hội Uruguay trong tháng 6 năm 1973.

Tuy nhiên, quân đội cũng nhận thấy cần đảm bảo được tính pháp lý cho nền độc tài của họ, và họ đã tổ chức trưng cầu dân ý về một bản hiến pháp mới vào năm 1980, tự tin rằng họ sẽ giành chiến thắng. Tuy nhiên, không giống như cuộc đảo chính của Pinochet ở Chile năm đó, nhóm tướng lĩnh ở Uruguay chưa bao giờ đạt được mục đích tối hậu này. Vậy là một quá trình chuyển đổi dân chủ bền bỉ đã diễn ra và thành công vào năm 1984, với thành tựu là Hiệp ước của Tập thể Hải quân (Naval Club Pact), dẫn đến quá trình bầu cử dân chủ mới và sự trở lại của chính quyền dân sự (nhưng có một số chính trị gia, gồm cả Seregni, lãnh đạo Đảng Blanco là Wilson Ferreira, và chính trị gia Jorge Batlle của Đảng Colorado, đã bị cấm tham gia bầu cử).

Hệ thống bầu cử của Uruguay, Cũ và Mới

Khi nền dân chủ được tái lập, Uruguay cũng quay lại với cấu trúc bầu cử đã tồn tại trước cuộc đảo chính, hay ít nhất là những nguyên tắc đặc thù vẫn tiếp diễn. Khía cạnh đáng chú ý nhất của hệ thống này, đúng như tên gọi “hệ thống bầu cử song song đồng thời” (Double Simultaneous Voting System – DSV), là các đảng phái được phép đề cử nhiều ứng cử viên tổng thống trong cuộc bầu cử toàn quốc. Ứng cử viên cá nhân đạt được số phiếu cao nhất của đảng đạt được số phiếu cao hơn các đảng khác sẽ được tuyên bố là người chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống. Ví dụ như kỳ bầu cử năm 1971, ứng cử viên Bordaberry của Đảng Colorado, chỉ với 22,8% phiếu bầu, đã đánh bại ứng cử viên Wilson Ferreira của Đảng Blanco, người thu về 26,4% số phiếu, bởi vì toàn thể Đảng Colorado đã giành được nhiều phiếu hơn Đảng Blanco – 41% so với 40,2%.

Về thực tế, hệ thống này kết hợp các hệ thống bầu cử sơ bộ (primary election) và tổng tuyển cử (general election). Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa là cử tri, thông qua lá phiếu của họ dành cho một ứng cử viên có đối thủ trong cùng một đảng, đã vô tình bầu luôn cho đối thủ của ứng cử viên của họ, kẻ mà họ sẽ không bao giờ bình chọn trực tiếp. Vậy nên, hệ thống này đã tạo ra một hệ quả tai hại rất rõ là sự không đồng nhất về tư tưởng hiện diện thường xuyên trong các đảng phái chính trị truyền thống, vì ở đây không có sự khuyến khích cho các đảng phái định nghĩa một hồ sơ cụ thể.

Hệ thống này vốn đã phát huy tác dụng tích cực trong thời kỳ nền chính trị Uruguay vẫn là hệ thống lưỡng đảng, nhưng mọi thứ dần đi trật guồng máy khi phe cánh tả tập hợp được lực lượng, đặc biệt là sau khi chính quyền dân sự được tái thiết vào năm 1984. Sự trỗi dậy của một hệ thống ba đảng khiến cho bất kỳ ứng viên tổng thống nào chỉ đạt được một phần trăm số phiếu nhỏ trong tổng số phiếu bầu. Ví dụ, trong kỳ bầu cử năm 1984, ứng cử viên giành chiến thắng chỉ đạt được 28,3% số phiếu (là Julio María Sanguinetti của Đảng Colorado), ứng cử viên chiến thắng năm 1989 chỉ đạt được 22,5% số phiếu (là Luis Alberto Lacalle của Đảng Blanco), và ứng cử viên chiến thắng năm 1994 chỉ đạt được 24,5% số phiếu (một lần nữa, là Julio María Sanguinetti)[8]. Những chiến thắng với số phiếu trực tiếp ủng hộ thấp này đã đưa ra những nghi ngờ rất chính đáng về tính hợp pháp của người chiến thắng cuối cùng trong cuộc bầu cử tổng thống.

Cuộc bầu cử quốc hội, vốn luôn tổ chức cùng ngày với cuộc bầu cử tổng thống, cũng được tiến hành với những quy tắc phức tạp của các nguyên tắc bầu cử cũ. Cử tri phải bỏ phiếu kín cho cùng một đảng trong cả cuộc cạnh tranh chức tổng thống và cuộc cạnh tranh ghế quốc hội, và ghế quốc hội được phân bổ trên cơ sở đại diện tỷ lệ nghiêm ngặt (PR). Nhưng cuộc bầu cử quốc hội thì vẫn sử dụng hệ thống DSV, mỗi đảng đưa ra nhiều danh sách (đóng) cho cả Thượng viện và Hạ viện. Cử tri phải đồng thời chọn một đảng và danh sách ứng cử viên của một phe trong đảng ấy khi bỏ phiếu, và mỗi phe như vậy sẽ nhận được số ghế phù hợp với tỷ lệ phiếu dành cho họ xét trên tổng số phiếu mà đảng của họ đạt được. Ví dụ, nếu Đảng Blanco, dựa trên tỷ lệ số phiếu họ thu về, được hưởng 30 ghế trong Hạ viện, và phe Herrerista trong đảng này đã tập hợp được 40% số phiếu của cả Đảng Blanco, thì phe Herrerista sẽ nhận được 12 ghế trong Hạ viện. 18 ghế còn lại dành cho các phe khác trong Đảng Blanco.

So với số danh sách ứng cử viên cho Hạ viện, số danh sách ứng cử viên cho Thượng viện khá thấp, bởi vì Thượng viện đã và vẫn luôn được bầu thông qua một khu vực cử tri bầu cử toàn quốc duy nhất. Trong khi đó, đối với Hạ viện, khu vực bầu cử gồm 19 ban khác nhau, vậy nên mỗi đảng luôn chuẩn bị sẵn nhiều danh sách ứng cử viên cho từng ban này. Bên cạnh đó, từng thành viên trong những danh sách khác nhau này lại có thể cùng nhau tham gia vào các liên minh bầu cử, tích lũy phiếu bầu trong các ban này. Ví dụ, giả sử chúng ta cần 20.000 phiếu để đạt ngưỡng trở thành thành viên Hạ viện, ba danh sách ứng viên khác nhau xoay xở được 7.000 phiếu mỗi danh sách thì liên minh này đạt tiêu chuẩn để cùng nhau giành được ghế trong Hạ viện. Các nhà lãnh đạo của các danh sách này sẽ thỏa thuận với nhau ai sẽ nắm giữ ghế trước khi cuộc bầu cử diễn ra, đưa ra các thoả thuận rất đa dạng từ việc từ chức ngay giữa nhiệm kỳ để nhường chỗ cho thành viên của nhóm khác để đổi lại các thoả thuận cụ thể về sự phân bổ các công việc thuộc khu vực nhà nước.

Không cần phải nói, hệ thống này đã dẫn đến một sự phân mảnh thậm tệ. Ví dụ, trong kỳ bầu cử năm 1994 với chỉ hơn hai triệu cử tri, ba đảng chính tham gia bầu cử đã có đến 641 danh sách ứng cử viên Hạ viện rải rác trên toàn quốc, chỉ riêng khu vực Montevideo (thủ đô của Uruguay) đã có 79 danh sách khác nhau[9]. Hầu hết các nhà phân tích chính trị đều thấy hệ thống bầu cử này vô cùng phức tạp và khó hiểu đối với cử tri, và lượng danh sách quá lớn như vậy đã khiến chủ nghĩa phe nhóm phát triển mạnh, đặc biệt là ở vùng Montevideo.

Tuy nhiên, bất chấp những bất trắc này, hầu hết chính trị gia của lực lượng phe đảng truyền thống đều hài lòng với hiện trạng như vậy cho đến kỳ bầu cử năm 1994. Đúng như Juan J. Linz và Alfred Stepan đã chỉ ra: “Các nhóm duy nhất có thể thay đổi hệ thống là Quốc hội và các nhà lãnh đạo đảng, nhưng đấy cũng chính là những “người chiến thắng” trong luật chơi này”[10]. Họ tiếp tục lập luận rằng chính hệ thống ấy cũng có thể thay đổi chỉ khi có một nhận thức trên diện rộng về kịch bản khủng hoảng, và quả thực nhận thức về thời đại khủng hoảng như vậy đã đến ngay sau cuộc bầu cử năm 1994. Bởi vì lực lượng cánh tả đã gần như chiến thắng trong cuộc chơi này, giới lãnh đạo của phe đảng truyền thống không thể phớt lờ hồi chuông cảnh báo thêm nữa, họ đều sợ rằng chẳng chóng thì chầy hệ thống này sẽ không những không còn làm việc theo ý họ nữa, mà còn gây tác hại đến quyền lợi của lực lượng truyền thống. Tình cảnh như vậy đã dẫn giới lãnh đạo Đảng Colorado và Đảng Blanco tới đề xuất cải cách hiến pháp nhằm ngăn chặn chiến thắng của lực lượng cánh tả trong kỳ bầu cử năm 1999.

Quá trình cải cách, ban đầu chỉ được chấp nhận trên một biên độ hẹp, được phê duyệt trong cuộc trưng cầu dân ý tháng 12 năm 1996, đã thay đổi năm điều căn bản trong hệ thống bầu cử: 1) Vào tháng 4 của mỗi năm có bầu cử Tổng thống, các đảng sẽ có quyền bầu cử sơ bộ trong cùng ngày để chọn ứng cử viên tổng thống duy nhất cho đảng ấy. 2) Những ứng cử viên tổng thống sau đó sẽ đối đầu nhau trong vòng bỏ phiếu đầu tiên của tháng 10 trong năm bầu cử Tổng thống (Cuộc bầu cử quốc hội sẽ được tổ chức vào cùng ngày diễn ra vòng đầu tiên của cuộc bầu cử tổng thống). 3) Nếu không có ứng cử viên giành được đa số tuyệt đối trong cuộc bầu cử đó, hai ứng cử viên sau cùng sẽ phải đối đầu nhau trong những vòng bầu cử của các tháng tiếp theo. 4) Các cuộc bầu cử ở đô thị, vốn được tổ chức vào đúng ngày diễn ra cuộc bầu cử cấp quốc gia như truyền thống, giờ sẽ được tổ chức vào tháng 5 của năm tiếp theo của cuộc bầu cử tổng thống. 5) Trong các cuộc bầu cử quốc hội, hệ thống bầu cử DSV vẫn được duy trì, nhưng các đảng phái không còn có thể tích lũy số phiếu dựa vào nhiều danh sách khác nhau[11]. Ở đây, các đảng vẫn có thể vận động nhiều danh sách nhân sự cho ghế ngồi trong các cơ quan lập pháp, nhưng số phiếu mà từng danh sách nhân sự đạt được chỉ có thể được sử dụng cho chính danh sách ấy. Thay đổi cuối cùng này rõ ràng đã làm giảm tổng số danh sách ứng cử viên Hạ viện trong kỳ bầu cử 1999, cự thể là giảm xuống còn 425 danh sách trên quốc, và 33 danh sách ở Montevideo[12].

Những thay đổi hiến pháp như vậy đã tạo ra khá nhiều tranh cãi vì một số lý do. Đầu tiên, các đảng phái truyền thống đã quen với việc thao túng hệ thống bầu cử phức tạp để hạ thấp khả năng gây chia rẽ nội bộ; theo hệ thống mới, các bộ phận riêng trong từng đảng này sẽ có ảnh hưởng rõ nét hơn đến cuộc bầu cử. Thứ hai, lực lượng cánh tả cũng nhận thấy luật chơi được thay đổi như vậy là để giảm khả năng họ chiến thắng và giành được nhiệm kỳ tổng thống, vì rõ ràng những thay đổi này đến từ tác động của phe truyền thống. Có một giả định phổ biến lúc ấy cho rằng phe cánh tả có thể sẽ đạt được đa số tương đối trong vòng bầu cử đầu tiên của kỳ bầu cử năm 1999, việc đề ra vòng bầu cử thứ hai sẽ giúp nhóm phe đảng truyền thống đoàn kết chống lại lực lượng cánh tả. Tuy nhiên, một số người trong phe cánh tả cũng ủng hộ việc cải cách, vì những điểm mới trong kỳ bầu cử lần này – như yêu cầu mỗi đảng chọn một ứng cử viên tổng thống duy nhất – có thể giúp chính phe cánh tả phát huy lợi thế của họ. Ngoài ra, luật bầu cử lần này yêu cầu ứng cử viên phải giành thắng lợi sau vòng bầu cử thứ hai để trở thành người chiến thắng hợp lệ cho chức Tổng thống, nghĩa là người chiến thắng cũng sẽ đạt được tính hợp pháp phổ biến hơn, vấn đề này đặc biệt quan trọng bởi đảng của tổng thống thường có xu hướng không đạt được đa số tuyệt đối trong nghị viện. Cuối cùng, việc tách quá trình bầu cử ở đô thị (bầu thị trưởng) khỏi quá trình bầu cử cấp quốc gia sẽ buộc các đảng phái cạnh tranh nhau ở cấp địa phương ngay sau kỳ bầu cử quốc gia, nghĩa là khiến các liên minh mờ ám rất khó được thành lập.

Chiến dịch bầu cử năm 1999

Do những thay đổi nêu trên, các đảng phái ở Uruguay phải đối mặt với một môi trường mới và chưa từng được thử nghiệm ở kỳ bầu cử năm 1999, và họ không biết phải làm thế nào để đối mặt với luật chơi mới. Ngoài ra, các quy tắc bầu cử mới xuất hiện đúng vào lúc giới cử tri gần như đã chia thành ba nhóm lớn xoay quanh ba đảng chính. Cuộc bầu cử trước đấy vào năm 1994 đã cực kỳ chặt chẽ; bảng thống kê sau đây sẽ cho thấy tiến trình của lá phiếu mà người dân Uruguay dành cho các đảng tính từ cuộc bầu cử năm 1971, và chúng ta có thể thấy rõ sự cân bằng giữa ba lực lượng chính trị chính. Vì quy tắc bầu cử PR nghiêm ngặt – cùng với thực tế là cử tri Uruguay phải bỏ phiếu cho một đảng nhất định trong cả cuộc bầu cử Quốc hội và Tổng thống – nên từ tỷ lệ đại diện trong Quốc hội có thể suy ra được kết quả bỏ phiếu của cuộc bầu cử Tổng thống. Sự song hành này nghĩa là không ai có thể nắm chắc được kịch bản, vì không đảng nào có thể đảm bảo chắc chắn vào được vòng bầu cử thứ hai ở tháng 11.

Hệ thống bầu cử mới này thách thức cả lực lượng truyền thống và lực lượng cánh tả theo những cách rất khác nhau. Đối với lực lượng truyền thống, khó khăn chủ yếu là lần đầu tiên họ sẽ phải chọn ra ứng cử viên duy nhất cho cuộc bầu cử tổng thống. Trước đây, luật chơi cho phép họ giới thiệu nhiều ứng cử viên tổng thống, và đã giúp họ kìm hãm được nguy cơ chia rẽ trong nội bộ đảng, còn cuộc tổng tuyển cử thì đơn giản đã giúp họ nhận ra phe mạnh nhất trong từng đảng.

Bộ quy tắc mới đã gây tổn hại nhiều nhất đến Đảng Blanco. Đảng này vốn đã phải trải qua một chiến dịch cực kỳ đau khổ và lên đến đỉnh điểm trong vòng chọn ứng cử viên với vị cựu Tổng thống Luis Alberto Lacalle (nhiệm kỳ 1990 – 1995), vốn là ứng cử viên tiêu chuẩn của đảng này. Vấn đề là trong vòng chọn ứng cử viên, đối thủ chính của Lacalle, Juan Andrés Ramírez, đã cáo buộc ông tội tham nhũng trong thời gian cầm quyền. Sau khi Ramírez thất bại trong cuộc bầu cử sơ bộ, Lacalle tạm thời biến mất khỏi chính trường cho đến ngay trước vòng bầu cử tổng thống đầu tiên, và gửi thông điệp khẳng định với các cử tri ủng hộ Đảng Blanco rằng ông không thấy ứng cử viên tổng thống xứng đáng với sự hỗ trợ nhận được từ cử tri. Vấn đề là theo quy định cũ, chuyện này sẽ chẳng bao giờ xảy ra: Nghĩa là không cần có bầu cử sơ bộ nhằm chọn ứng cử viên chính thức, cả Lacalle và Ramírez có thể tập trung vào việc vận động cử tri của riêng họ cho cuộc tổng tuyển cử. Sau cùng, hiện tượng xung đột nội bộ nghiêm trọng như vậy rõ ràng là một thảm họa với Đảng Blanco.

Còn Đảng Colorado thì ứng biến khéo léo hơn trong môi trường mới, ở đây hai đối thủ chính trong vòng bầu chọn ứng cử viên quyết định hợp tác vì chiến thắng tối hậu, ứng cử viên Tổng thống chính thức là Jorge Batlle, người đang vận động cho chiến dịch tranh cử tổng thống thứ năm của ông. Còn ứng cử viên phó tổng thống, người đã quyết định hợp tác với Batlle, là Luis Hierro, người đại diện cho lực lượng phía ngoài của đảng Colorado dẫn dắt bởi Chủ tịch Julio María Sanguinetti (một trong những người không được tái tranh cử theo hiến pháp).

Còn lực lượng cánh tả thì gặp phải trở ngại kiểu khác. Liên minh FA vốn đã luôn giới thiệu một ứng cử viên duy nhất cho chức tổng thống kể từ lúc được thành lập vào năm 1971, vì vậy đây không phải là vấn đề với họ. Tuy nhiên, bởi vì hiến pháp hiện tại yêu cầu phải có cuộc bầu cử sơ bộ để chọn ứng cử viên trong phe đảng, có nghĩa là những rạn nứt nội bộ trong liên minh FA có thể lộ ra. Thượng nghị sĩ Danilo Astori đã quyết định thách thức ứng cử viên có triển vọng thành công nhất, là Tabaré Vázquez, cựu thị trưởng thành phố Montevideo, người từng là ứng cử viên tổng thống cho liên minh FA trong kỳ bầu cử năm 1994, khi ấy được đổi tên thành liên minh (Encuentro Progresista – Frente Amplio) (EP–FA). Mặc dù Astori đã bại trận trong vòng chọn ứng cử viên, với ít hơn 20% số phiếu, những vấn đề thực tế của cuộc tranh chấp nội bộ này (cũng như mâu thuẫn còn kéo dài giữa những nhân vật “cực đoan” và “trung dung”) đã tiếp thêm ý tưởng cho lực lượng truyền thống trong chiến dịch tổng tuyển cử.

BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ BẦU CỬ Ở URUGUAY TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 1999

Đảng

1971

1984

1989

1994

1999*

Đảng Colorado

40,9

41,2

30,3

32,5

32,8

Đảng Blanco

40,2

35,0

38,9

31,4

22,3

Liên minh Frente Amplio

18,3

21,3

21,2

30,08

40,1

(Mọi số liệu trong bảng này đều là tỷ lệ phần trăm). *Kết quả vòng bầu cử sơ bộ quyết định tỷ lệ đại diện của từng đảng trong quốc hội.

Sau khi các ứng cử viên chính thức được lựa chọn, các đảng xác lập chiến lược cho cuộc tổng tuyển cử. Đảng Colorado đang nắm quyền thì thường giữ im lặng về những gì họ sắp làm; họ lựa chọn đường lối continuismo, tức là sự tiếp diễn các nhóm chính sách kinh tế tương đối bảo thủ trong thập kỷ qua, vốn đã bị công kích là “tư tưởng tân tự do” bởi các đối thủ của đảng này. Đảng Blanco, vốn từng tham gia liên minh cầm quyền với Đảng Colorado trong nhiệm kỳ năm năm vừa qua và đã nắm giữ một số vị trí trong nội các, thấy cần phải giữ khoảng cách với chính phủ, chủ yếu là do tình trạng suy thoái kinh tế mà Uruguay phải trải qua trong suốt năm 1999. Cụ thể, trong 9 tháng đầu năm, GDP nước này đã giảm 2,5%. Công nghiệp thì bị ảnh hưởng nặng nề, và mức thất nghiệp (trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 10) đã tăng từ 10% của năm 1998 lên 11,6% trong năm 1999. Bức tranh suy thoái này diễn ra chủ yếu là do khủng hoảng kinh tế và đồng tiền mất giá ở Brazil, thị trường lớn nhất của Uruguay. Về phần liên minh EP–FA, sau cùng thì lực lượng này đã thông qua tuyên ngôn “vấn đề ở đây là kinh tế, đồ ngốc ạ”. Câu slogan này đã nhấn mạnh bức tranh ảm đạm của cảnh khủng hoảng kinh tế, và về cơ bản đã hỏi thẳng người dân Uruguay: “Bạn có muốn chịu đựng những chính sách lạc hậu thêm 5 năm nữa? Nếu bạn không muốn thì hãy bỏ phiếu cho liên minh EP–FA”. Sau đấy, vòng đầu tiên của cuộc bầu cử diễn ra vào ngày 31. Đúng như tất cả các cuộc thăm dò ý kiến đã chỉ ra, liên minh EP–FA đã dẫn đầu, với 40,1% phiếu bầu hợp lệ[13]. Đảng Colorado về nhì với 32,8%, còn Đảng Blanco thì nhận được kết quả thảm hại nhất trong lịch sử chính trị Uruguay thế kỷ 20, 22,3% số phiếu hợp lệ. Ngoài ra, còn có Đảng Nuevo Espacio (New Space), một đảng dân chủ xã hội nhỏ, đạt được 4,6% số phiếu, và Đảng Unión Civica đạt được 0,2% còn lại.

Như vậy, tổng số phiếu bầu mà liên minh EP–FA đạt được đã vượt quá mong đợi, nhưng thực ra chính Đảng Colorado cũng thu được số phiếu vượt dự kiến. Kẻ bại trận hoàn toàn ở đây là Đảng Blanco, căn bản là dư luận đã thấy rõ đảng này tự xé nát nội bộ của họ bởi thảm kịch trong vòng bầu cử sơ bộ, và giờ thì đảng này đã trở thành phe khó đảo ngược tình thế nhất. Trong khi EP–FA rõ ràng chiếm được cảm tình của giới cử tri cánh tả và cánh trung tâm-cánh tả, và Đảng Colorado đã trở thành đảng của cửu tri cánh hữu và cánh trung tâm-hữu, thì Đảng Blanco lại bị phân tán mỏng dọc theo phổ hệ tư tưởng của họ. Khi đảng này có được nhiệm kỳ tổng thống giai đoạn 1990–1995, họ chủ yếu đã thực hiện chính sách kinh tế bảo thủ, nhưng nội bộ đảng này lại không thống nhất cùng đi theo một tư tưởng như vậy. Đảng này không chỉ có cội rễ nông thôn mà còn cả chủ nghĩa dân tộc, nghĩa là không dễ dàng nhận diện được mục tiêu cụ thể. Những nhân vật nòng cốt trong quá khứ của đảng này có thể được miêu tả ngắn gọn là những “nhà dân tộc chủ nghĩa với tư tưởng tiến bộ”, bi kịch của những người đi giữa hai bờ bến được thể hiện rõ trong những năm cuối đời của Wilson Ferreira, người từng là một trong những đối thủ quyết liệt nhất của chế độ độc tài quân sự và do đó bị quân đội cấm tham gia cuộc bầu cử tổng thống năm 1984. Quy tắc mới trong hiến pháp bắt buộc mỗi phe chỉ có một ứng cử viên tổng thống duy nhất làm cho tình hình của Đảng Blanco càng khó khăn hơn, và một phần cử tri của Đảng này đã chuyển sang ủng hộ Đảng Colorado (đặc biệt là ở Montevideo) và Liên minh EP–FA (đặc biệt là ở các tỉnh, mặc dù mức ủng hộ ở thủ đô Montevideo cũng rất khả quan).

Một trong những tác động chủ yếu của sự cải cách hiến pháp là chuyển Liên minh EP–FA về phía trung tâm, bởi vì để giành được chiến thắng tối hậu, lực lượng này không thể chỉ dựa vào những người ủng hộ cốt lõi. Ngay trước cả vòng bầu cử sơ bộ, Liên minh EP–FA đã thể hiện rõ động thái chuyển mình về phía trung tâm, cố gắng chứng minh quan điểm trung hòa bằng lời hứa trả nợ nước ngoài và không làm giảm giá trị đồng tiền, cũng như lời hứa sẽ không tạo ra hiểu lầm không đáng có trong quá trình liên minh sau bầu cử. Tuy nhiên, nỗ lực chuyển mình về trung tâm không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, bởi một số rạn nứt nội bộ vẫn tồn tại cũng như một số quan điểm cực tả trước đây.

Thật vậy, trong cả vòng bầu cử đầu tiên và vòng bầu cử thứ hai, lực lượng phe đảng truyền thống đã liên tục viện dẫn những quan điểm trước đây của Liên minh EP–FA, xem đấy là gót chân Achilles của phe cánh tả. Cụ thể, lực lượng cánh hữu đã tận dụng những mâu thuẫn trong tư tưởng của phe cánh tả, theo đó cáo buộc tư tưởng cánh tả có tính “cực đoan”, “ủng hộ lý thuyết Marx”, và thậm chí có cả tính “phi dân chủ”. Ví dụ, Batlle cáo buộc rằng EP–FA đã cố gắng “che đậy tư tưởng đằng sau chương trình kinh tế”, ông đã hỏi theo lối tu từ: “Phải chăng họ đã thay đổi? Phải chăng họ đã thay đổi vì họ thấy rằng quan điểm của họ đã sai lầm? […] Theo như tôi thấy, họ không hề thay đổi”[14]. Trong thực tế, quả là liên minh cánh tả đã vướng vào một số mâu thuẫn nội bộ liên quan đến kế hoạch kinh tế, nhưng truy vấn về tính trung thực trong cam kết dân chủ của lực lượng này không hề thỏa đáng. Mặc dù trong những năm 1960, phong trào du kích cực tả Tupamaro đã lên án nền dân chủ “chính thức”, cũng như đã dùng vũ lực hòng khủng bố mô hình thể chế này ở Uruguay, nhưng chính lực lượng cánh tả cũng đã phải chịu đựng mất mát dưới chế độ độc tài quân sự giai đoạn 1973–1985, và họ đã liên minh với Đảng Colorado trong năm 1984 để đảm bảo một quá trình dân chủ hóa ổn định[15]. Tuy nhiên, những lời cáo buộc vẫn là chiến thuật tất yếu phải xuất hiện trong chiến dịch tranh cử như vậy, và là một cuộc Chiến tranh Lạnh bằng ngôn từ xuất phát từ bản chất của chiến dịch bầu cử.

Vòng bầu cử thứ hai

Vào lúc vòng bầu cử thứ hai vừa bắt đầu, đúng như dư luận đồn đoán, lực lượng các đảng truyền thống đã liên minh nhằm ngăn phe EP–FA chiến thắng. Sau khi vòng bầu cử thứ nhất kết thúc, Đảng Blanco thông báo rằng họ đã “vận động” những cử tri ủng hộ họ bỏ phiếu cho ứng cử viên Batlle của Đảng Colorado. Còn Đảng Nuevo Espacio thì để cử tri của họ “tự do” chọn lựa bất cứ ứng cử viên nào họ đề xuất, nhưng những nhân vật hàng đầu của đảng này (gồm cả ứng cử viên tổng thống Rafael Michelini) tuyên bố rằng họ sẽ bỏ phiếu cho Vázquez. Sau vòng đầu tiên, một số nhà quan sát cho rằng Uruguay đang cận kề một nền chính trị lưỡng đảng mới, mặc dù đấy vẫn là kết luận quá sớm. Tuy nhiên, sự việc diễn ra sau đấy cho thấy rõ ràng là diễn tiến bầu cử đã thay đổi.

Một trong những điểm kỳ quặc nhất của vòng bầu cử thứ hai là, không giống như vòng đầu tiên, phần lớn quá trình vận động chính trị được thực hiện qua truyền hình và radio; ngoài ra đã có vài cuộc biểu tình chính trị lớn, mặc dù hiện tượng này từ lâu đã là một phần của nền chính trị của Uruguay. Đối với phe cánh tả, hiện tượng này dường như là kết quả của một chiến lược tránh “sự cố”, vốn có thể được dùng để tô vẽ họ là một lực lượng “cố chấp” hay “bạo lực”. Mặc khác, Batlle lo ngại rằng sẽ rất khó có thể tổ chức biểu tình để tập hợp được lực lượng của Đảng Colorado và Đảng Blanco, bởi lịch sử đối địch của hai đảng này. Chiến dịch của Batlle đã xem nhẹ mối liên hệ giữa người ứng viên này với đảng phái của ông, đồng thời kêu gọi một lộ trình “đoàn kết” có thể đưa cả đất nước lại gần nhau. Cả hai ứng cử viên đều ra sức vận động ở các tỉnh, những nơi mà đa số cử tri chưa quyết định dứt khoát (chỉ có 18% cử tri ở Montevideo đã bỏ phiếu cho một ứng cử viên khác với hai ứng cử viên vào vòng cuối, trong khi đến 32% cử tri ở các địa phương đã làm như vậy), cũng như đã dành thời gian trả lời các cuộc họp báo, đối thoại với các nhà lãnh đạo chính trị ở địa phương.

Mục tiêu của Liên minh EP–FA là tranh thủ sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo địa phương từng ủng hộ Đảng Blanco, nhưng giờ không còn hài lòng với đường lối chung của đảng này. Cụ thể, những nhà hoạch định chiến lược của EP–FA hy vọng có thể khai thác được ba điểm yếu. Đầu tiên, họ nghĩ rằng nhiều cử tri của Đảng Blanco sẽ không mặn mà ủng hộ Batlle, một đối thủ truyền thống. Thứ hai, họ biết rằng một số nhà lãnh đạo Blanco cũng không hài lòng với chính sách kinh tế bảo thủ từng được dàn lãnh đạo quốc gia ủng hộ (Chính phủ Lacalle đã thực hiện chính sách kinh tế theo kiểu chính thống trong suốt thời gian cầm quyền, nghĩa là nửa đầu thập niên 1990, đồng thời loại ra rìa những thành viên viên Đảng Blanco muốn áp dụng một chính sách kinh tế công bằng hơn). Cuối cùng, EP–FA hy vọng có thể lợi dụng thực tế là cử tri phe Blanco nhiều khả năng không muốn ủng hộ phe Colorado, những kẻ sẽ trở lại vị thế đối địch với họ sau sáu tháng, và EP–FA đã tính đến khả năng thành lập liên minh bầu cử với các lãnh đạo “tiến bộ” của Đảng Blanco.

Tuy nhiên, hiện thực sau đấy không như Liên minh EP–FA đã tính toán; trong vòng bầu cử thứ hai, thay vì tiếp tục tập trung vào vấn đề kinh tế Uruguay hiện nay (nghĩa là mở đường cho phe đối lập), họ lấy chính sách thuế làm chủ đề chính. Thành viên Đảng Colorado đã dựa vào đây để giành thế chủ động, và cáo buộc Liên minh EP–FA có ý định tăng thuế, phần lớn là vì những luận điểm nền tảng của EP–FA hướng đến việc tái cấu trúc thuế thu nhập trên diện rộng. Mặc dù EP–FA tuyên bố rằng thuế mới này sẽ thay thế hoặc làm giảm các loại thuế khác (giảm “thuế thu nhập” và tăng thuế giá trị gia tăng trong khoảng 14 đến 23%), đường lối tấn công của Đảng Colorado đã có hiệu quả, và EP–FA đã bị buộc trở về thế phòng thủ.

Để đáp trả, Liên minh EP–FA cáo buộc Đảng Colorado không có chính sách hiệu quả để đối phó với khủng hoảng kinh tế và giả định rằng, trong những ngày cuối cùng của chiến dịch tranh cử, chính chương trình kinh tế mà Đảng Colorado đang giấu vì sợ một “cú sốc tài chính” sẽ dẫn đến việc tăng thuế. Những người phát ngôn của Liên minh EP–FA cho rằng những chính sách mà Đảng Colorado đã nhất trí thông qua như một phần trong thỏa thuận với Đảng Blanco sẽ dẫn đến tình trạng chi tiêu nhà nước tăng cao đáng kể, nghĩa là thực chất việc tạo ra nhu cầu cho một số mức thuế cao hơn có tác động tích cực. Tất nhiên là Đảng Colorado đã phủ nhận điều này, và cách tấn công của Liên minh EP–FA không có ảnh hưởng đáng kể đến những cử tri còn lưỡng lự.

Thật vậy, Liên minh EP–FA đã rất sai lầm khi đi quá xa vào vấn đề chính sách thuế, và Đảng Colorados đã tận dụng triệt để sơ hở này. Chính những chi tiết sâu xa của chính sách thuế lại không phát huy được hiệu quả trong một chiến dịch vận động tranh cử chủ yếu qua những đoạn phim ngắn trên truyền hình, sự phức tạp của vấn đề không những không giúp mà còn phản tác dụng và khiến người dân hiểu sai về nội dung chính xác của đề xuất cải cách thuế của Liên minh EP–FA. Ý tưởng ban đầu của họ – một chương trình cải cách thuế thực chất không tăng thuế mà chỉ khiến người giàu phải trả nhiều hơn – đã hoàn toàn bị nhấn chìm giữa một cuộc thảo luận kịch liệt về các chi tiết chuyên sâu chỉ khiến cử tri nhầm lẫn, đặc biệt là những cử tri vẫn chưa chắn chắn về quyết định cuối cùng. Ở đây, thực ra chính Đảng Colorado cũng biết khá rõ rằng phần lớn những cử tri còn lưỡng lự này không đủ trình độ hiểu được ý tưởng của Liên minh EP–FA và dễ bị lay động bởi những lời kêu gọi thuyết phục rằng họ sẽ phải đóng thuế nhiều hơn nếu Liên minh EP–FA lên nắm quyền[16].

Không như đối thủ chính trị của ông, luận điểm nền tảng của Batlle phát huy hiệu quả bởi sự mơ hồ. Thông điệp chung ở đây là “Không thu thuế mới”. Không chỉ thế, Batlle còn dành phần lớn nội dung bài phát biểu của mình, cũng như xuất hiện trên TV, để thảo luận về nhu cầu cấp thiết phải bắt kịp những thay đổi công nghệ trong nền kinh tế thế giới, về chương trình tăng lượng hàng xuất khẩu của Uruguay, và giảm các rào cản thương mại nước ngoài trong đàm phán ở diễn đàn của Tổ chức Thương mại thế giới sắp tới. Đây toàn là những luận điểm không dễ bắt bẻ, và toàn bộ chiến lược của Battle dựa vào những luận điểm đơn giản và vững chắc này. Về tổng quan, rõ ràng ông đã thành công.

Cơ chế trong vòng bầu cử thứ hai vận hành theo cách hoàn toàn khác với vòng bầu cử đầu tiên. Trong vòng đầu tiên, sự cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các đảng phái, mà còn diễn ra giữa các phe trong một đảng (bởi đặc trưng của hệ thống bầu cử của Uruguay), cho nên đã có rất nhiều “nhiễu loạn” trong bầu cử, bởi các phe phái nhỏ của mỗi đảng đang đều tập trung vào việc tăng số phiếu họ có thể thu về. Vậy nên hệ quả tất yếu là mọi người có rất ít thời gian để tập trung phản biện các đề xuất chính sách. Nhưng đến vòng thứ hai thì khác, hoạt động phản biện này lại trở nên tối quan trọng, và Đảng Colorado đã chuẩn bị tốt hơn cho thế đối đầu một chọi một. Tuy nhiên, điều thú vị ở đây là hai ứng cử viên tổng thống chưa từng tranh luận trực tiếp, bất chấp nỗ lực thu xếp một sự kiện như vậy. Đảng Colorado thấy rằng chiến lược truyền thông của họ đã hoạt động hiệu quả, và quyết định không cần phải mạo hiểm.

Như vậy, Đảng Colorado đã dễ dàng thắng trong vòng bầu cử thứ hai, họ đạt được 54% số phiếu, còn Liên minh EP–FA đạt được 46% số phiếu. Nhưng đây vẫn là kết quả gây ngạc nhiên, vì hầu hết các cuộc thăm dò trước bầu cử đã cho thấy các lực lượng ứng cử viên của cả hai phe khá đồng đều, ngay cả các cuộc thăm dò với kết quả chênh lệch nhất cũng chỉ cho thấy Batlle dẫn trước Vázquez theo tỉ lệ 47% – 44%. Tựu trung, hầu hết cuộc thăm dò đều đặt hai ứng cử viên vào thế cạnh tranh ngang sức đến cùng, mặc dù đã có xu hướng rõ rệt cho thấy lợi thế Batlle trong những giây phút cuối cùng của chiến dịch. Tuy nhiên, sau cuộc bầu cử, sự thể đã trở nên rõ ràng: hầu hết những cử tri tuyên bố họ chưa quyết định dứt khoát hoặc không muốn trả lời thực ra đã xác định được câu trả lời là họ sẽ bỏ phiếu ủng hộ Batlle, kết quả thăm dò dư luận về sau đã chỉ ra như vậy[17]. Tuy nhiên, hiện tượng này vẫn không đáng ngạc nhiên, bởi vì hầu hết các cử tri lưỡng lự này đều từng ủng hộ Đảng Blanco, cho nên họ thấy không phải là quyết định dễ dàng để tuyên bố công khai ý tưởng bỏ phiếu cho kẻ thù lâu năm là Đảng Colorado trong các cuộc thăm dò dư luận.

Có một vấn đề khác cũng chỉ ra lý do tại sao Liên minh EP-FA không thể gia tăng đáng kể lượng phiếu ủng hộ họ trong vòng bỏ phiếu thứ hai (chính xác là lượng phiếu bổ sung chỉ khoảng 100.000 phiếu bầu, nghĩa là còn ít hơn 5% tổng số phiếu), bởi vì chính họ đã “tận dụng” rất nhiều cử tri từng ủng hộ Đảng Blanco ở ngay vòng bầu cử đầu tiên. Nói cách khác, rất nhiều cử tri Blanco từng cân nhắc bỏ phiếu cho lực lượng cánh tả đã làm như vậy ngay từ tháng 10. Còn những cử tri bảo thủ của Đảng Blanco gần như chắc chắn sẽ bỏ phiếu cho Batlle trong vòng bầu cử thứ hai, đặc biệt là sau khi các lãnh đạo quốc gia của họ công khai ủng hộ ông.

Tựu trung, những gì đã xảy ra cho thấy rõ ràng kỷ luật nội bộ và lòng trung thành vẫn rất có sức nặng trong chính trường Uruguay, thậm chí có sức nặng và có ảnh hưởng hơn hầu hết các nước Mỹ Latin khác. Ở đây, các lãnh đạo Đảng Blanco đã đề nghị cử tri của họ bỏ phiếu cho Batlle, và ít nhất 80 phần trăm số cử tri ấy đã làm đúng như vậy[18]. Cũng đã có lời đồn đoán rằng một phần cử tri Blanco có thể “làm loạn” và từ chối bỏ phiếu cho Đảng Colorado[19], nhưng rõ ràng, về tổng quan, những cử tri Blanco đã chấp hành mệnh lệnh từ đảng của họ. Nếu các lãnh đạo Blanco không đề nghị họ bỏ phiếu cho ứng cử viên của Đảng Colorado, một số cử tri Blanco này hoàn toàn có thể bỏ phiếu trắng, và như vậy cũng là hỗ trợ ứng cử viên Vázquez. Tuy nhiên, sau cùng, có chưa đến 2% cử tri bỏ phiếu trắng.

Cam kết vững chắc cho nền Dân chủ

Mặc dù lực lượng cánh hữu đã cảnh báo rằng nếu phe cánh tả chiến thắng, họ sẽ đưa Uruguay vào vết xe đổ của Cuba, kết quả cuộc bầu cử cho thấy nền dân chủ của Uruguay vẫn được an toàn. Đất nước này tiếp tục chứng tỏ mức độ cao nhất của sự cam kết dành cho tổ chức dân chủ ở Mĩ Latin: 86% nhân dân Uruguay ủng hộ thể chế dân chủ ở bất kì nhà nước nào khác (đối với các nước Mĩ Latin khác, con số này dao động từ mức 75% ở Argentina đến mức 41% ở Ecuador), và 64% nhân dân Uruguay hài lòng với nền dân chủ của quốc gia này (đối với các nước Mĩ Latin khác, con số này dao động từ mức 45% ở Mexico đến mức 16% ở Paraguay), và đến giờ tinh thần ủng hộ dân chủ này vẫn chưa có dấu hiệu giảm sút.

Cam kết mạnh mẽ của người dân Uruguay dành cho thể chế dân chủ được thể hiện qua sự xác định chắc chắn lựa chọn của phần đông cử tri đối với các đảng phái chính trị. Các cửa tri thể hiện một niềm đam mê gần như cuồng nhiệt đối với các cuộc thăm dò và bình luận về tình hình bầu cử. Thật vậy, rất khó để tìm thấy một người Uruguay nào không quan tâm đến chính trị trong mùa bầu cử. Thậm chí hầu hết cử tri khi được hỏi sẽ trình bày một suy luận khá phức tạp về kết quả khả dĩ và sức mạnh của các phe phái khác nhau trong mỗi đảng chính trị, và nhiều khả năng họ còn có thể đọc thuộc lòng số phiếu cần thiết cho một ghế trong Hạ viện.

Hơn nữa, kì bầu cử năm 1999 còn khẳng định rằng quá trình cải cách thể chế của Uruguay đã giúp nền chính trị nước này không còn tiềm ẩn “nhiều bất trắc” bằng ba giải pháp. Đầu tiên, quy tắc tiến hành vòng bầu cử thứ hai trong quá trình bầu cử tổng thống đã buộc lực lượng cánh tả phải chuyển mình về trung tâm. Tất nhiên, để có thể nắm quyền, phe cánh tả vẫn phải chuyển về trung tâm, ngay cả trong hệ thống cũ. Những tác động từ quốc tế, cũng như những tính toán cho phù hợp với thực tế sẽ buộc đường lối của đảng cầm quyền phải trở nên trung tính trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, cấu trúc chính trị mới này còn khiến lực lượng cánh tả phải nhấn mạnh được quan điểm trung tính như một phần trọng yếu trong chiến dịch vận động cử tri của họ. Chính quy luật này cũng khiến phe cánh tả ít nguy hiểm hơn, và đến lượt họ cũng vận động được nhiều người hiểu và ủng hộ họ hơn.

Thứ hai, bằng cách giảm số lượng danh sách nhân sự ứng cử quốc hội, quy tắc bầu cử mới đã tạo động lực cho tất cả các đảng phái tiến tới hợp tác, đặc biệt là hai đảng chính. Giờ đây các phe phái không còn có thể luồn lách giữa nền chính trị chỉ bằng sự hỗ trợ từ một phần nhỏ của cử tri, như ngày xưa thì các danh sách nhân sự khác nhau hoàn toàn có thể kết hợp số phiếu của họ để đạt được quyền đại diện trong quốc hội. Tư tưởng bè phái, dù chắc chắn không thể bị loại trừ hoàn toàn, cũng đã được giảm xuống.

Cuối cùng, quá trình cải cách thể chế đã giúp việc quản lý chính trị diễn ra dễ dàng hơn, vì quy tắc bầu cử mới buộc người ta phải thông qua liên minh để chiến thắng trong bầu cử. Dĩ nhiên, trong quá khứ, đã có không ít lần Đảng Colorado và Đảng Blanco hợp tác với nhau trong mức độ nhất định, nhưng hầu như đều dẫn đến liên minh không bền vững. Với các quy tắc bầu cử mới, hai đảng truyền thống này có thể làm việc với nhau chặt chẽ hơn. Một rào cản tâm lý quan trọng đứng chắn trước khả năng hợp tác của họ đã sụp đổ, khi lần đầu tiên cử tri Blanco vượt qua lề thói truyền thống và bỏ phiếu ủng hộ một ứng cử viên Colorado ở vòng bầu cử thứ hai. Khi cả ba thế lực chính trong chính trường Uruguay học hỏi được từ kinh nghiệm của chính họ trước những quy tắc bầu cử mới, nhiều khả năng đất nước này sẽ chứng kiến hệ thống ba đảng thể hiện những đặc trưng của hệ thống lưỡng đảng với sự hiện diện của hai khối quyền lực ở hai đối cực tư tưởng. Cục diện chính trị như vậy hứa hẹn sẽ mang đến cho Uruguay tương lai ổn định hơn và khả năng quản lý chính trị chặt chẽ hơn, dù là dưới sự lãnh đạo của lực lượng cánh tả hay cánh hữu.

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH: 

[1] Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Eric Davis, Marcelo Pereira, và Marcelo Rossal vì những ý kiến ​​hữu ích họ đã đóng góp vào bản thảo của bài viết này.

[2] Xem: Juan J. Linz, Alfred Stepan, Problems of Democratic Transition and Consolidation: Southern Europe, South America, and Post-Communist Europe (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1996), trang 164.

[3] Xem: Gerardo Caetano and José Rilla, Historia Contemporánea del Uruguay: De la Colonia al Mercosur (Montevideo: Editorial Fin de Siglo, 1994), chương 4.

[4] Xem: Charles Guy Gillespie, Negotiating Democracy: Politicians and Generals in Uruguay (Cambridge: Cambridge University Press, 1991), trang 19.

[5] Xem: Luis Eduardo González, Political Structures and Democracy in Uruguay (Notre Dame: University of Notre Dame Press, 1991), chương 4.

[6] Xem: Luis Costa Bonino, La Crisis del Sistema Político Uruguayo: Partidos Políticos y Democracia Hasta 1973 (Montevideo: Fundación de Cultura Universitaria, 1995), trang 241 đến 260.

[7] Xem: Charles Guy Gillespie, Negotiating Democracy, trang 42 đến trang 45.

[8] Xem: Gerardo Caetano and José Rilla, Historia Contemporánea del Uruguay, trang 335 đến trang 336; và “Así Fueron las Elecciones en 1994”, La República (Montevideo), ngày 1 tháng 11 năm 1999, trang 11.

[9] Xem: Felipe Monestier, “Partidos Por Dentro: La Fraccionalización de los Partidos Políticos en el Uruguay (1954–1994)”, in Luis Eduardo González, Felipe Monestier, Rosaria Quierolo, and Mariana Sotelo Rico, eds., Los Partidos Políticos Uruguayos en Tiempos de Cambio (Montevideo: Fundación de Cultura Universitaria, 1999), trang 58.

[10] Xem: Juan J. Linz and Alfred Stepan, Problems of Democratic Transition and Consolidation, trang 164.

[11] Xem Marcelo Pereira, “El Proyecto, sus Pros y sus Contras”, Brecha (Montevideo), 5 December 1996: 2–3; Ruben Correa Freitas and Cristina Vázquez, La Reforma Constitucional de 1997: Analisis Constitucional y Administrativo (Montevideo: Fundación de Cultura Universitaria, 1997); and Miguel Semino, “Panorama del Nuevo Sistema Electoral,” in Carlos Mata Prates, ed., Reflexiones Sobre la Reforma Constitucional de 1996 (Montevideo: Fundación de Cultura Universitaria, 1998).

[12] Xem: “En todo el país habrá 425 listas”, El Observador (Montevideo), ngày 5 tháng 10 năm 1999, trang 5.

[13] Những tỷ lệ được ghi nhận này không bao gồm phiếu trống và phiếu mất hiệu lực, chiếm khoảng 2% tổng số phiếu.

[14] Xem: “Batlle opinó que si Vázquez gana no sólo habrá “devaluación de la moneda sino también una devaluación de la democracia””, Búsqueda (Montevideo), ngày 7 tháng 10 năm 1999, trang 7.

[15] Đảng Tupamaro cũng trở thành một phần trong Liên minh Frente Amplio vào năm 1989. Xem: Charles Guy Gillespie, Negotiating Democracy, phần lí giải mở rộng về vai trò của phe cánh tả trong thời kì quá độ trước cải cách thể chế.

[16] Chỉ có 35% cử tri còn lưỡng lự đã hoàn thành bậc trung học, so với tỷ lệ 45% tính chung toàn quốc. Về mặt tư tưởng, 86% cử tri còn lưỡng lự xem quan điểm của mình đứng ở vị thế trung tâm hoặc thiên hữu, so với tỉ lệ 62% tính chung toàn quốc. Kết quả thăm dò dư luận này được công bố trong “Batlle y Vázquez llegan iguales, aunque el Colorado es favorito”, El Observador (Montevideo), ngày 25 Tháng 11 năm 1999, trang 8 đến trang 9.

[17] Xem: “Encuestadores con actitud conservadora”, El Observador (Montevideo), ngày 30 tháng 10 năm 1999, trang 8.

[18] Nếu chúng ta giả định (một cách lí tưởng) là khoảng một nửa số cử tri của Đảng Nuevo Espacio bình chọn cho Batlle trong vòng bầu cử thứ hai (thực tế, gần như chắc chắn là chưa đến một nửa lượng cử tri của đảng này đã làm vậy), thì Batlle sẽ cần nhiều hơn 80% cử tri Đảng Blanco bỏ phiếu ủng hộ ông để đạt tổng số phiếu bầu như kết quả của vòng bầu cử thứ hai.

[19] Xem: Nelson Cesin, “Arriba, arriba, presidente la . . . Batlle”, Brecha (Montevideo): ngày 12 tháng 10 năm 1999, trang 2 đến trang 3.

[20] Kết quả thăm dò dư luận ở các nước Mỹ Latin vào năm 1996 này được công bố trong bài viết ” La Década del desencanto”, của Agustin Canzani, El Observador (Montevideo), ngày 20 tháng 11 năm 1999.