Andrew Reynolds

Andrew Reynolds là phó giáo sư ngành khoa học chính trị tại Đại học North Carolina ở Chapel Hill. Ông quan tâm đến những vấn đề về bầu cử và dự thảo Hiến pháp tại hầu hết các quốc gia. Nghiên cứu mới nhất của ông có tên Cấu trúc của Dân chủ: Dự thảo Hiến pháp, Quản trị xung đột và Dân chủ (2002). Bài nghiên cứu này được đăng trongTạp chí Dân chủ phát hành vào tháng 10 năm 1995.

***

Trong bài viết đã được trình bày ở phần trước của cuốn sách này, Bầu cử trong xã hội nông nghiệp, Joel Barkan đã lên tiếng thách thức trí tuệ truyền thống mới nổi bằng luận điểm cho rằng hệ thống đại diện tỷ lệ (PR) là cách thức bầu cử tốt nhất dành cho những xã hội thiếu kinh nghiệm dân chủ –  thường là các xã hội bị chia rẽ sâu sắc tại khu vực châu Phi. Trước tiên, Joel phân tích những khiếm khuyết của hệ thống PR về mặt liên kết giữa cá nhân các nghị sĩ và cử tri. Các khiếm khuyết này cản trở sự phát triển theo chiều dọc của dân chủ (được định nghĩa là: “mối quan hệ tiêu biểu giữa giới tinh hoa và giới bình dân trong cùng một lợi ích chính trị chung), “giảm bớt những triển vọng về sự thống nhất của luật lệ dân chủ”. Theo Barkan, mối quan hệ giữa các đại diện và cử tri tồn tại trong một đơn vị bầu cử một đại biểu (SMD) phản ánh rõ nhất bản chất của xã hội nông nghiệp tại Châu Phi, ở đó, những ràng buộc mạnh mẽ nhất là mối quan hệ họ hàng, hàng xóm láng giềng và đất canh tác, đồng thời mọi người “xác định rõ những lợi ích chính trị của họ… trên cơ sở khu vực họ sống”. Trong khi chấp nhận rằng một mức độ tỷ lệ nào đó (thể hiện cho sự bảo vệ các lợi ích của các nhóm thiểu số) là một điều tốt có tính tiêu chuẩn, Joel tranh luận rằng mô hình của sự phân chia bầu cử theo địa lí trong các xã hội nông nghiệp cho phép hệ thống đa số tương đối với đơn vị bầu cử một đại biểu bầu ra quốc hội, đó là sự phản ánh hợp lí của sự phân bổ phiếu phổ thông trên cả nước. Do đó, họ có thể giữ lại một trong những trụ cột của chính phủ hợp nguyên trong khi tránh được những hạn chế cơ bản của hệ thống PR: Tình trạng phân rã và thiếu trách nhiệm giải trình của những người đại diện được chọn lựa trong danh sách các bên.

Sự thật là khi mô hình bỏ phiếu gắn liền với sự chia tách giữa các nhóm được xác định bởi những đặc điểm tiêu biểu (ví dụ như chủng tộc, sắc tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo), và khi các nhóm khác tập hợp lại ở những khu vực khác nhau, cuộc bầu cử đa số tương đối với đơn vị bầu cử một đại biểu có thể đem lại kết quả với tính tỷ lệ cao. Barkan cũng nhấn mạnh rằng, cuộc tổng tuyển cử năm 1994 ở Malawi đã bầu ra một quốc hội được coi là hình ảnh trung thực về sự phân bổ phiếu phổ thông trong ba đảng chủ chốt. Chỉ số bất tương xứng (ID) của cuộc bầu cử đo được mức độ mà sự phân bổ ghế trong quốc hội của các đảng bằng với sự phân bổ lá phiếu giành được, con số 0 cho thấy một kết quả hoàn toàn cân xứng. Chỉ số bất tương xứng của cuộc bầu cử của Malawi (2,1) thấp hơn các chỉ số tại tất cả những cuộc bầu cử đa số tương đối, tuy ba trong số các nền dân chủ hiện tại mà dữ liệu của chúng được trình bày trong cuốn Electoral Systems and Party Systems của Arend Lijphart bao trùm trong suốt giai đoạn từ 1954 đến 1990.1 Tương tự, bầu cử quốc hội phân cực theo địa phương năm 1985 ở Zimbabwe có chỉ số ID là 2,5, và cuộc bầu cử quốc hội năm 1994 ở Nam Phi và Namibia (được tổ chức bởi hệ thống PR) cho thấy rằng hệ thống đa số tương đối một đại biểu sẽ cho kết quả có tính tỉ lệ, với chỉ số ID tại Nam Phi là 6,7 và tại Namibia là 4.2

Chỉ số ID tại các quốc gia đã diễn ra bầu cử cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin hơn về thành phần của quốc hội. Chỉ số ID cao được hiểu như sau: 1) Những đảng thiểu số sẽ có ít hoặc không có đại diện; 2) Những đảng lớn được thêm nhiều ghế mà họ có được từ những lá phiếu phổ thông; 3) Các chính phủ với 100% quyền lực hành pháp bị quẳng vào văn phòng chỉ với ít hơn 50% trên tổng phiếu phổ thông; và 4) Các chính phủ dựa trên một đa số phiếu bầu đơn giản của tổng số phiếu phổ thông được trao tặng quyền lực với siêu đa số ghế (Việc sử dụng hệ thống bầu cử đa số tương đối tại Nam Phi giúp Đảng Đại hội Dân tộc Phi giành được 62% phiếu với 2/3 số ghế trong Quốc hội – đủ thẩm quyền xây dựng bản hiến pháp mới mà không gặp bất kì sự cản trở nào).

Trường hợp cá biệt

Những bằng chứng tại Malawi năm 1994 và tại Zimbabwe năm 1985 (và giả định tại Cộng hòa Nam Phi và Namibia) dường như ngụ ý rằng, tại khu vực Nam Phi, hệ thống đa số tương đối với đơn vị bầu cử một đại biểu có thể tạo ra “tốt nhất cho cả hai” – một Quốc hội với tỷ lệ tương xứng, song song với những lợi ích về tính đại diện của một hệ thống dựa trên các đơn vị bầu cử. Barkan cho rằng “trong các xã hội nông nghiệp… hệ thống PR không tạo ra những kết quả bầu cử công bằng hơn hay toàn diện hơn so với bầu cử đa số tương đối với đơn vị bầu cử một đại biểu”. Tuy nhiên, kết quả ở Malawi và Zimbabwe đã không được thể hiện lên các nền dân chủ đã được thành lập ở Châu Phi nói chung, hay khu vực nam châu Phi nói riêng. Tóm lại, đây là những trường hợp cá biệt và cần đặc biệt lưu ý để không bị chúng gây lạc hướng cho việc nghiên cứu.

BẢNG 1 – TRUNG BÌNH CHỈ SỐ ID CỦA HỆ THỐNG BẦU CỬ ĐA SỐ TƯƠNG ĐỐI VÀ BẦU CỬ PR

 

Nam châu Phi

Châu Phi

Các nền dân chủ đã được thiết lập

Đa số tương đối SMD

11.0a

12.9c

9.8e

PR

3.7b

4.8d

2.9f

 

  1. 13 cuộc bầu cử tại Botswana, 1965-1994; Lesotho, 1993; Malawi, 1994; Zambia, 1991; Zimbabwe, 1985, 1990, 1995.
  2. 6 cuộc bầu cử tại Angola, 1992; Mozambique, 1994; Namibia, 1989, 1994; Nam Phi, 1994, Zimbabwe, 1980.
  3. 20 cuộc bầu cử tại Boswana, 1965-1994; Gambia, 1966-1992; Kenya, 1992; Lesotho, 1993; Malawi, 1994; Zambia, 1991; Zimbabwe, 1985-1995.
  4. 13 cuộc bầu cử tại Angola, 1992; Benin, 1991; Burkina Faso, 1992; Burundi, 1993; Cape Verde, 1991; Madagascar, 1993; Mozambique, 1994; Namibia, 1989, 1994; Niger, 1993, 1995; Cộng Hòa Nam Phi, 1994; Zimbabwe, 1980.
  5. Được tính từ số liệu của 78 cuộc bầu cử tổ chức theo hệ thống đầu phiếu đơn tương đối tại 5 quốc gia: Canada, 1945-1988; Ấn Độ, 1952-1984; New Zealand, 1946-1990; Anh, 1945-1992; Hợp chúng quốc Hoa Kì, 1946-1994.
  6. Được tính từ số liệu của 212 cuộc bầu cử được tổ chức theo các hệ thống bầu cử PR khác nhau tại 17 quốc gia: Áo, 1945-1990; Bỉ, 1946-1987; Costa Rica, 1953-1990; Đan Mạch, 1945-1988; Phần Lan, 1945-1987; Đức, 1945-1987; Iceland, 1946-1987; Ireland, 1948-1989; Israel, 1949-1988; Italy, 1946-1987; Luxembourg, 1945-1989; Malta, 1947-1987; Hà Lan, 1946-1989; Na Uy, 1945-1989; Bồ Đào Nha, 1975-1989; Thụy Điển, 1948-1988; Thụy Sĩ, 1947-1987.

Ghi chú cách tính: Chỉ số bình phương tối thiểu do Michael Gallagher phát triển. Đọc “Propor- tionality, Disproportionality and Electoral Systems”, Nghiên cứu bầu cử (1991): trang 22-51.

Nguồn: Trên phạm vi châu Phi, tính toán của tác giả dựa trên cơ sở các dữ liệu trong bài nghiên cứu “The Political Originas and Consequences of Electoral Systems in Africa: A Preliminary Analysis” của Shaheen Mozaffar (được trình bày tại hội nghị “Comparative Democratic Elections”, trường phái Kenedy về Chính phủ, Đại học Harvard, 5/1995); với các nền dân chủ đã được thành lập, các phép tính dựa trên số liệu được trình bày trong cuốn Electoral Systems and Party Systems của tác giả Arend Lijphart (New York: Nhà Xuất bản Đại học, 1994), và được bổ sung bởi Reynolds.

Tính trung bình, năm quốc gia sử dụng hệ thống đa số tương đối với đơn vị bầu cử một đại biểu cho các kì bầu cử dân chủ tại nam châu Phi từ năm 1956 có chỉ số ID ngang bằng với bầu cử đa số tương đối ở các quốc gia khác trên thế giới (Bảng 1). Kết quả cho thấy tính tỷ lệ của nam châu Phi cao hơn một chút so với toàn bộ châu Phi nói chung, song lại hơi thấp hơn so với các nền dân chủ đã được thiết lập – như nền dân chủ của Anh và các nền dân chủ từng là thuộc địa Anh thừa kế hệ thống “người-dẫn-đầu-giành-ghế” của nó. Không những thế, những con số của hệ thống PR đều chỉ ra rằng, bất chấp việc hầu hết các chỉ số ID tại Malawi và Zimbabwe nằm ở mức thấp, khi chuyển đổi số phiếu sang số ghế, hệ thống PR không chỉ tốimà vượt trội đáng kể. Các bằng chứng khảo nghiệm trên khắp châu Phi cho thấy việc sử dụng một hệ thống bầu cử đa số tương đối SMD không đảm bảo được tình trạng cân đối của kết quả bầu cử. Điều đó đúng cả với các xã hội nông nghiệp, nơi mà những mô hình bầu cử được tập trung theo khu vực địa lí. Điều này dẫn tới việc nếu tính tỷ lệ là một đặc điểm cần thiết của một nền dân chủ hợp nguyên, thì hệ thống đa số tương đối không thể được tin cậy trong việc đảm bảo sự tính tỷ lệ.

Ngay cả khi hệ thống đa số tương đối ở những nền dân chủ non trẻ đưa đến những kết quả có vẻ cân đối trên bảng tổng kết, loại hình bầu cử này vẫn sẽ đem lại nhiều nguy cơ đe dọa đến sự tập trung dân chủ. Thứ nhất, kinh nghiệm ở Nam Phi chứng minh rằng tính bao quát trong phạm vi quốc hội của các đảng thiểu số nhỏ đóng vai trò ổn định thiết yếu trong những năm đầu của quá trình dân chủ hóa trong từng xã hội đơn lẻ. Rõ ràng sự xuất hiện của Đảng Mặt trận Tự do châu Phi (FF), Đảng Đại hội Liên hiệp Phi châu (PAC), và Đảng Dân tộc (DP) trong quốc hội Nam Phi phi chủng tộc đầu tiên đã đem đến một bầu không khí hòa giải. Như tôi nhấn mạnh trong chương 11, không thể đạt được giới hạn này của tính tập trung chính trị trong các cuộc bầu cử diễn ra vào tháng 4 năm 1994 nếu chúng được vận hành bởi hệ thống đa số tương đối thay vì hệ thống PR.

Thứ hai, nếu xét trên sự gia tăng của hiệu quả kinh tế lâu dài và tính chuyển đổi giai cấp, cùng với tình trạng phân chia sắc tộc, vùng miền ngày càng giảm, như hầu hết mọi người hi vọng, kết quả của sự thống nhất những vùng lân cận và tầm quan trọng về mặt chính trị của những ràng buộc cơ bản có xu hướng suy giảm sẽ khiến cuộc bầu cử theo khu vực địa lí ngày càng suy yếu hơn. Sự làm suy yếu của bầu cử theo từng khối khu vực sẽ làm phát sinh toàn bộ những vấn đề bất thường của số đông đã từng xảy ra tại các xã hội thống nhất của Anh và Hoa Kì. Những bất thường này bao gồm việc loại trừ khỏi sự hiện diện của các bên thứ ba được hỗ trợ đáng kể và sự thắng thế của một đa số trong quốc hội bởi các đảng phái có số phiếu ít hơn số phiếu của phe đối lập. Trong khi tại phương Tây, những nền dân chủ hiện thời vốn đã ổn định hơn có thể chấp nhận những biểu hiện dị thường, thì nền dân chủ ấy đã có thể chứng tỏ có sự sắp xếp tại châu Phi, nơi mà nền dân chủ tương lai lại rất dễ sụp đổ. Nếu Đảng Đại hội Malawi (MCP) của tổng thống Hastings Kazumu Banda giành thắng lợi đa số trong Quốc hội vào năm 1994 chỉ với 34% phiếu bầu, đối lập với 46% phiếu của Đảng Dân chủ Liên hiệp (UDF), chúng ta chỉ có thể hình dung ra bối cảnh tương lai về một cuộc xung đột nội bộ chỉ chực bùng nổ. Suy đoán nghe có vẻ bất hợp lí này không phải là không có căn cứ lịch sử. Trong cuộc tổng tuyển cử chỉ dành cho dân da trắng tại Nam Phi vào năm 1948, mặc dù chỉ giành được 42% phiếu bầu, Đảng Liên hiệp Phi châu của D. F. Malan vẫn lên nắm quyền với 79 trên tổng số 150 ghế trong quốc hội. Đảng Lao động Liên hiệp của Jan Smut chiếm tới 52% số phiếu nhưng chỉ giữ 71 ghế trong quốc hội.

Có lẽ điều quan trọng nhất là việc sử dụng hệ thống đa số tương đối tại khu vực nam châu Phi đã gây cản trở cho hệ thống đảng đến một mức độ mà tại đó, sự luân phiên các đảng trong chính phủ và các bên đối lập không được nhìn nhận như một hiện tượng tự nhiên. Điều đó đúng ngay cả khi mức độ bất tương xứng không cao. Như minh họa tại bảng 2, các cuộc bầu cử được tổ chức bởi hệ thống đa số tương đối với các đơn vị bầu cử một đại biểu tại khu vực Nam Phi đã cung cấp một lượng ghế cạnh tranh ít ỏi – nhân tố quyết định của hệ thống Westminster của chính phủ.

Toàn bộ 5 cuộc bầu cử đa số tương đối ở khu vực Nam Phi được mô tả ở Bảng 2 thể hiện các nhân tố cổ điển của nhà nước đơn đảng trong thực tế, mà trong đó đảng thống trị không còn liên quan tới những thách thức trong bầu cử. Tại Malawi, Zambia và Zimbabwe, những đảng lớn nhất giành chiến thắng với số lượng lớn phiếu bầu, và trở nên bất khả chiến bại. Các ghế biên là các ghế cần có để giành chiến thắng cuối cùng (một chiến thắng dù là đa số tương đối hay đa số) tương ứng với chưa tới 10% số phiếu hợp lệ. Các ghế này còn gọi các “ghế trên chiến trường”- cách thức giúp đi tới quyết định xem đảng nào sẽ đứng ra thành lập chính phủ. Trong các cuộc bầu cử của 5 nền dân chủ, có khoảng 1/5 đến 1/3 số ghế được coi là ghế biên. Tuy nhiên, tại khu vực Nam Phi, những ghế biên này chưa bao giờ chiếm quá một phần nhỏ của hội đồng lập pháp. Tại Zimbabwe, ứng cử viên thuộc một đảng đã từng cầm quyền sẽ không được quyền giữ bất cứ ghế nào. Hậu quả là việc sử dụng hệ thống đa số tương đối trong các xã hội không thống nhất gây cản trở cho số lượng ghế thắng cử, và việc tạo ra một môi trường trong đó có một sự chấn động chính trị có thể lay chuyển cả một mô hình tập trung bầu cử đảng-phiếu.

BẢNG 2 – GHẾ BIÊN* TRONG HỆ THỐNG ĐA SỐ TƯƠNG ĐỐI SMD GẦN ĐÂY

 

 

Bầu cử

Số lượng ghế biên

% tổng số ghế

Đảng lớn nhất

Số phiếu trung bình trong các ghế chiến thắng

Nam châu Phi

Zimbabwe, 1995

Zimbabwe, 1990

Zimbabwe, 1985

Malawi, 1994

Zambia, 1991

1

4

3

7

6

0.8

3.3

3.7

3.9

4.0

ZANU-PF

ZANU-PF

ZANU-PF

UDF

MMD

82%

81%

91%

72%

81%

Các nền dân chủ đã thiết lập

Hoa Kỳ, 1994

Canada, 1993

Anh, 1992

Ấn Độ, 1980

New Zealand, 1993

88

63

171

157

30

20.2

21.4

26.3

29.7

30.3

Cộng hoà

Tự do

Bảo thủ

Quốc hội

Dân tộc

65%

56%

52%

52%

44%

 

Phát hiện này là một cú giáng thực sự đối với viếc sử dụng hệ thống đa số tương đối ở châu Phi, bởi vì việc sử dụng hệ thống đa số quyết định như vậy phụ thuộc, ít nhất là, việc hiểu rõ rằng quyền lực có thể trao tay qua các nhiệm kì thông qua bầu cử. Nếu hệ thống đa số tương đối dẫn đến việc hình thành một nhà nước độc đảng trong thực tế, các đảng đối lập thất bại sẽ không có động lực để duy trì lòng trung thành với nhà nước này.  Trong các xã hội bị chia rẽ sâu sắc tại châu Phi, thực tế này sẽ đe dọa tới nền dân chủ ngay từ giai đoạn đầu. Ngược lại, hệ thống PR lại tỏ ra nhạy bén trong hoạt động phát triển các hình mẫu bầu cử bằng cách tạo điều kiện chuyển đổi các hình thức liên minh chính phủ, hoặc tạo sức ép lên nội các của chính phủ độc đảng trong việc liên minh với các đảng khác, nhất là khi đảng cầm quyền mất dần sự ủng hộ từ đa số người dân.

Giải quyết những vấn đề của PR

Như Barkan nhấn mạnh, trách nhiệm giải trình và sự tương tác giữa các đại diện và cử tri là điều cốt yếu trong tất cả những nền dân chủ hoạt động hợp lý. Và sự thật là kiểu hình bầu cử PR tại các đơn vị bầu cử lớn và trong cả nước được áp dụng ở Nam Phi và Namibia đã làm suy yếu mối quan hệ giữa những giới tinh hoa và giới bình dân, làm gia tăng mối lo ngại về trạng thái ““nhà nước treo”… mất đi kết nối với nhân dân”. Tuy vậy, việc thành lập hệ thống bầu cử đa số tương đối SMD có lẽ không phải lúc nào cũng là cách thức tốt nhất để vượt qua các chướng ngại để hoàn thành chiều dọc của nền dân chủ. Đầu tiên, việc tập trung quá mức những kiểu mẫu bầu cử theo khu vực trên khắp lãnh thổ châu Phi đã giúp tăng cường ưu thế của các SMD so với các khu hành chính tự trị của đảng này hay đảng kia. Một giả thuyết mang tính trực giác cho rằng, các ghế trong bầu cử càng ít cạnh tranh bao nhiêu thì chất lượng của các ứng cử viên lại càng thấp bấy nhiêu, do đó, nghị sĩ được bầu sẽ càng phải gánh ít trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của các ứng viên. Hội chứng “Con chó vàng” (Tức là những người bầu cử thà chọn một con chó vàng còn hơn là chọn một ai đó thuộc về đảng đối lập) được nhấn mạnh trong khắp các nền dân chủ truyền thống sử dụng hệ thống đa số tương đối SMD, đặc biệt là Hoa Kì (nơi nhiệm kì được xác lập) và Anh.

Thứ hai, đại diện cho các khu vực cử tri một cách đầy đủ không đơn giản chỉ là ủng hộ lợi ích của 50, 60 hay thậm chí cả 80% công chúng trong một cộng đồng cho trước; nó còn là vấn đề về việc cho phép những người ủng hộ, kể cả đảng đa số và đảng thiểu số trong những khu vực nhất định được phép bày tỏ quan điểm trong quốc hội. Ở châu Phi, hệ thống đa số tương đối SMD đã đẩy mạnh sự kiểm soát khu vực của đảng cầm quyền lên tới mức độ mà 25% tổng số cử tri bầu cử ở phía đông tỉnh Zambia (những người không ủng hộ Đảng quốc gia độc lập (UNIP)), 15% cử tri ở khu vực phía Bắc Malawi (những cử tri bỏ phiếu chống lại Liên minh dân chủ (AFORD)), và hầu như toàn bộ số phiếu của các đảng đối lập ở Zimbabwe (dao động ở mức 19% trong 2 năm 1990 và 1995) không có tiếng nói trong quá trình lập pháp. Những nhà dự thảo hiến pháp, với tư cách là những người đi tìm một nền dân chủ đại diện năng động và toàn diện, cần phải tìm kiếm đâu đó ở giữa hai thái cực, một là kiểu đại diện vô trách nhiệm vốn là đặc điểm của hệ thống PR theo danh sách quốc gia, hai là kiểu đại diện có tính loại bỏ và là kiểu đại diện quá tự mãn của các nghị sĩ được bầu ra từ các đơn vị bầu cử một đại biểu “an toàn”.

Các cuộc tranh luận đang diễn ra trong thời gian gần đây tại Quốc hội Cộng hòa Nam Phi nổi bật lên hai vấn đề: Sự bất mãn với hệ thống PR theo danh sách với các khu vực bầu cử lớn và những cách thức điều chỉnh khả quan cho hệ thống PR với mục đích cung cấp sự đại diện có trách nhiệm và phản hồi tốt hơn. Tại Cộng Hòa Nam Phi, có hai sự lựa chọn được đặt ra. Sự lựa chọn thứ nhất là giới thiệu các SMD nhằm đề xuất một tỷ lệ cho Quốc hội (có thể là 50-50), với số nghị sĩ còn lại sẽ được đề cử dựa trên danh sách khu vực. Nói chung, hoạt động này có đặc điểm tương tự với hệ thống của nước Đức, tức là Quốc hội sẽ phản ánh tỉ lệ tương xứng tương đối giữa số phiếu bầu và số ghế thắng cử, nhưng sẽ chỉ có một người làm đại diện cho mỗi khu vực bầu cử (quận/huyện).

Mặc dù hệ thống thành viên hỗn hợp này nghe có vẻ hấp dẫn, song nó lại có 2 thiếu sót chính. Thứ nhất, vì hệ thống đa số tương đối có xu hướng cường điệu sự kiểm soát và ảnh hưởng theo khu vực, rất có thể các đảng nhất định sẽ chiếm toàn bộ số ghế SMD, và nhóm còn lại là các nghị sĩ của các đảng thiểu số được đề cử từ nhóm thành viên chủ chốt trong các danh sách khu vực. Ví dụ, trên khắp Nhà nước Tự do Orange thuộc liên bang Cộng Hòa Nam Phi, các cử tri thành thị và các cử tri nông thôn sẽ được đại diện duy nhất là các thành viên Đảng ANC, trong khi các đại diện thiểu số lại được chọn từ các danh sách đảng riêng lẻ nhiều hơn. Điều này dẫn đến vấn đề thứ hai của hệ thống thành viên hỗn hợp: sự phân rã thành hai nhóm nghị sĩ, nhóm đầu tiên được chọn ra từ các khu vực bầu cử có mối liên kết với các đảng địa phương và các cử tri địa phương và chỉ phản hồi lại những quan tâm của các kh vực cử tri, và nhóm thứ hai được bầu chọn từ các danh sách và do đó trách nhiệm chủ yếu chỉ dành cho những người đứng đầu đảng tại tổng hành dinh quốc gia.

Sự lựa chọn thứ hai là giảm thiểu quy mô của những khu vực bầu cử nhiều đại biểu (MMDs) trong hệ thống PR theo danh sách và cung cấp cho các cử tri nhiều lựa chọn phức tạp hơn trên từng lá phiếu. Trong bài viết “Bầu cử thành lập nhà nước mới cho Cộng Hòa Nam Phi”, tôi tán thành cách thức thực hiện giống như hệ thống của Phần Lan. Trong số 300 thành viên của Quốc hội Cộng Hòa Nam Phi, khoảng 5-12 người phù hợp sẽ được chọn ra từ các MMD, và cử tri có thể lựa chọn giữa những ứng viên cũng như giữa các đảng.3 Đảng thắng cử sẽ giành được số ghế tương ứng với số phiếu bầu, nhưng các ghế này sẽ thuộc về ứng viên giành được nhiều phiếu bầu nhất của các đảng. Để đảm bảo tính cân đối tổng thể, 100 ghế sẽ được dành ra để “bổ sung” vào mỗi phần ghế của mỗi đảng trong quốc hội; tuy nhiên, những thành viên bổ sung này sẽ được chọn ra từ nhóm ứng viên thua cuộc thành công nhất từ mỗi đảng.

Hệ thống này không hề hoàn hảo. Tuy nhiên nó vẫn duy trì được tính cân đối trong quốc hội và tính đơn giản cho cử tri, đồng thời nó gia tăng trách nhiệm theo khu vực địa lí và sự đa dạng của các đại diện trong khu vực. Một lợi ích khác là số phiếu thiểu số không hề bị “lãng phí” như tình trạng xảy rra trong hệ thống đa số tương đối với các SMD; chúng có thể khuyến khích những đảng thiểu số trong khu vực, nơi mà một nhóm dân tộc hoặc một nhóm ngôn ngữ chiếm ưu thế. Đại diện thiểu số và các tổ chức đảng trong mỗi khu vực đóng vai trò hết sức quan trọng khi quyền lực của tỉnh lị được củng cố thông qua chế độ liên bang, bởi vì các nhóm thiếu số tại mỗi khu vực có ít khả năng phụ thuộc hơn vào sự can thiệp của nhà nước trong việc bảo vệ lợi ích của họ.

Joe Barkan và tôi đồng ý với nhau trong một số vấn đề quan trọng. Chúng tôi đều thống nhất lựa chọn một hệ thống bầu cử bao gồm sự cân nhắc những kết quả mà chúng tôi cố gắng dự đoán bằng cách đánh giá những dữ kiện có được từ các cuộc bầu cử trước đó. Chúng tôi cùng tán thành quan điểm cho rằng không nên tìm kiếm một hệ thống bầu cử “hoàn hảo”, cũng không nên tuyên truyền về một phương pháp được xem như là một hệ thống tối ưu duy nhất trong bất kì hoàn cảnh nào. Thay vào đó, các quy tắc bầu cử phải được đáp ứng những nhu cầu cần thiết và mong muốn của một xã hội riêng lẻ. Không những vậy, chúng tôi cũng đồng ý rằng sự bao hàm lợi ích của cả cả thiểu số và đa số, tức là sẽ đảm bảo ở một mức độ nhất định tính tương xứng tỷ lệ trong bầu cử, là một tiêu chuẩn đáng mong muốn trong những nền dân chủ non trẻ bị chia rẽ theo sắc tộc và khu vực địa lý.

Tuy nhiên, tôi cũng xin đưa ra quan điểm của mình: những kết quả của các cuộc bầu cử áp dụng hệ thống đa số tương đối với các SMD trên khắp châu Phi và phần còn lại của thế giới chỉ ra rằng hệ thống này không đáng tin cậy trong việc đem lại một sự phân bổ các ghế trong quốc hội nhưng lại phản ánh rõ nét sự phân bổ của các lá phiếu phổ thông, và vì thế nó sẽ không tạo điều kiện thuận tiện cho một hội đồng lập pháp đa dạng và toàn diện. Hơn nữa, tiềm lực của số đông tạo nên những kết quả bất cân xứng và bất thường trong hành pháp khiến chúng đặc biệt không phù hợp với những nền dân chủ mới còn non yếu ở châu Phi. Barkan lập luận rằng các quy tắc bầu cử có thể được chuyển thành văn bản để hướng dẫn cho các khu vực bầu cử đồng nhất về văn hóa (có thể tham khảo ví dụ từ các hướng dẫn của Bộ Tư Pháp Hoa Kì dành cho các khu vực có tính đại diện về sắc tộc), nhưng tôi cho rằng sự sắp xếp gian lận mang tính pháp lí sẽ châm ngòi cho tình trạng căng thẳng và những cuộc tranh cãi phát sinh trong lòng đất nước Hoa Kì.

Chắc chắn rằng, hệ thống PR theo danh sách đảng hiện hành tại châu Phi bộc lộ những thiếu hụt về tính hợp pháp và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, không nên chỉ vì vậy mà vứt bỏ toàn bộ hệ thống này. Với một chút tưởng tượng và sự sáng tạo, có thể sử dụng hệ thống PR ở châu Phi để tạo ra mối liên kết vững chắc giữa các đại diện và cử tri, từ đó tăng cường triển vọng củng cố dân chủ. Bằng việc đưa ra hiến pháp mới, nếu Cộng Hòa Nam Phi tìm được cách để chọn ra được một Quốc hội vừa có tính cân đối vừa có trách nhiệm và đáp ứng được sự đại diện cho tất cả mọi người, thì nước này có thể tiếp tục định hướng cho phần còn lại của châu Phi.

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH: 

Bài viết này dựa trên một nghiên cứu của Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (ngân sách SBR-9321864) và Institute on Global Conflict and Cooperation.

  1. Arend Lijphart, Electoral Systems and Party Systems (New York: Oxford University Press, 1994).
  2. Đọc Andrew Reynolds, “Re-running the 1994 South African and Malawian Parliamentary Elections Under Alternative Electoral System Formulae,” in Timo- thy Sisk and Andrew Reynolds, eds., Elections and Conflict Resolution in Africa (Washington, D.C.: U.S. Institute of Peace Press, 1998). Con số 4.0 đối với Namibia thấp hơn tính toán của Barken một chút dựa trên 95 đơn vị bầu cử. Đánh giá của tôi dựa trên một sự kết hợp của 95 khu vực bầu cử để cung cấp 72 đơn vị bầu cử một đại biểu có kích thước gần ngang nhau. Kết quả tính toán này để lại cho đảng South West People’s Organisation (SWAPO) 55 ghế và đảng Democratic Turnhalle Alliance (DTA) 17 ghế. (Tôi xin cảm ơn Joel Barkan vì đã chia sẻ với tôi dữ liệu về các khu vực bầu cử của anh ấy)
  3. Andrew Reynolds, Voting for a New South Africa (Cape Town: Maskew Miller Longman, 1993), trang 66–103.

* Ghế biên được cho là số ghế cần giành được để đạt chiến thắng ứng với chưa tới 10% tổng số phiếu bầu hợp lệ. Số liệu chỉ ứng với các Hạ viện Quốc hội.