Joel D. Barkan

Joel D. Barkan là giáo sư danh dự về khoa học chính trị tại trường Đại học Iowa và là chuyên viên cấp cao tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ở Washington D.C. Tác phẩm của ông phần nhiều bàn về dân chủ và cải cách kinh tế ở Đông Phi, và các cuộc bầu cử tại châu Phi. Hiện tại, công việc của ông trong lĩnh vực này tập trung vào các ứng dụng công nghệ GIS nhằm giải quyết các vấn đề của quy trình xây dựng bầu cử và được báo cáo trên số ra tháng 11 năm 2006 của tạp chí Khoa học Chính trị Hoa Kì.

Bài viết này xuất hiện lần đầu tiên trên số ra tháng 10 năm 1995 của Tạp chí Dân chủ.

***

Sự kiện gần đây liên quan đến quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ tại Namibia và Nam Phi đã khiến những người ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ càng có cơ hội khẳng định một cách mạnh mẽ rằng hệ thống bầu cử này là hệ thống thích hợp nhất đối với các xã hội đa sắc tộc ở châu Phi và nhiều khu vực khác nữa. Tương tự với nội dung đã được trình bày bởi Andrew Reynolds và trước đó là Arend Lijphart, lập luận của họ cũng bao gồm 4 yếu tố quan trọng.1 Đầu tiên, bầu cử đại diện tỷ lệ là hệ thống “công bằng nhất”, giúp bầu ra các thành viên của cơ quan lập pháp quốc gia – đặc biệt khi so sánh với công thức bầu cử đa số tương đối với đơn vị bầu cử một thành viên (SMDs) – vì hệ thống đại diện tỷ lệ đảm bảo rằng tỷ lệ phần trăm số ghế giành được bởi một đảng chính trị là gần như tương đương với tỷ lệ phần trăm số phiếu phổ thông mà đảng đó giành được. Do vậy, nó có thể hạn chế được sự mất cân bằng và lạm dụng số lượng thành viên và quyền hạn trong cơ quan lập pháp: đảng nhận được nhiều phiếu nhất hoặc đa số phiếu sẽ không được quá mức số ghế mà họ xứng đáng, và các đảng giành được ít phiếu bầu vẫn có cơ hội đại diện trong quốc hội tương xứng với số phiếu họ đạt được. Từ đó, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ cũng có khả năng bảo vệ lợi ích của các nhóm thiểu số.

Thứ hai, bầu cử đại diện tỷ lệ có tính bao quát, vì hệ thống này đảm bảo rằng tất cả các bên tham gia hệ thống chính trị nếu có tiềm năng thì hoàn toàn có khả năng được đại diện trong cơ quan lập pháp. Do vậy, hệ thống này giúp gia tăng triển vọng rằng tất cả các bên sẽ hỗ trợ trật tự hiến pháp bằng cách tham gia vào cuộc bầu cử và các tổ chức chủ chốt. Sự hỗ trợ này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đầu của một nền dân chủ mới hoặc vừa cải tổ gần đây, khi không có các thể chế trật tự hiến pháp mới hoàn chỉnh. Thứ ba, bầu cử đại diện tỷ lệ tạo điều kiện cho các thỏa thuận về một nền dân chủ có sự chia sẻ về quyền lực hay liên minh lớn giữa chính quyền và các đảng phái, cho phép hầu hết các lực lượng chính trị tham gia vào hoạt động cai trị. Thứ tư – hay cũng có thể nói rằng: lợi ích cuối cùng này là hệ quả rút ra từ ba lợi ích trên – hệ thống bầu cử này giúp tăng cường triển vọng dân chủ trong xã hội đa sắc tộc vẫn đang tồn tại phân chia giai cấp chính trị sâu sắc, phản chiếu sự chia rẽ về dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo.

Mặc dù những ví dụ thực tế gần đây tại khu vực nam châu Phi có vẻ như đang giúp hệ thống bầu cử này thắng thế, thì những ưu điểm của hệ thống này – đặc biệt là đối với các khu vực còn lại của châu Phi và những xã hội tương tự khác – lại không được thể hiện ra một cách rõ ràng. Trong các xã hội nông nghiệp, ở đó đại đa số người dân phải kiếm kế sinh nhai từ đất đai, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ không đưa ra được kết quả bầu cử “công bằng hơn” hay tổng quát hơn các cuộc bầu cử đa số tương đối với các đơn vị bầu cử một thành viên. Do vậy, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ không phải là một điều kiện cần cho một chính phủ liên minh mà chỉ là một phương pháp tối ưu hóa việc chia sẻ quyền lực trong bộ máy hành pháp.

Hệ thống bầu cử này có các nhược điểm hết sức nghiêm trọng, một trong số đó cần được đặc biệt quan tâm trong bất cứ một hoạt động xây dựng hiến pháp cho xã hội nông nghiệp nào trong tương lai. Bởi vì dưới các hình thức đơn thuần nhất của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ, các ghế lập pháp được phẩn bổ từ danh sách các đảng theo tỷ lệ của mỗi bên trong tổng số phiếu quốc gia, bản thân các nghị sĩ không được xác định và cũng không chịu trách nhiệm trước các cư dân của một khu vực địa lý cử tri. Tuy nhiên, trong các xã hội nông nghiệp, sự thiếu liên kết giữa các đại diện và các cử tri đã làm giảm đáng kể những triển vọng của hoạt động củng cố dân chủ.

Hành vi bỏ phiếu trong quần thể nông thôn

Trong xã hội nông nghiệp, với mức chuyên môn nghề nghiệp và bản sắc giai cấp thấp, hầu hết cư dân đều xác định lợi ích của họ và phân chia bản sắc trên cơ sở nơi sinh sống, chứ không phải dựa trên công việc họ làm. Họ gắn bó chặt chẽ với khu vực cư trú và quan tâm đặc biệt đối với hàng xóm láng giềng. Khi bầu cử, họ tập trung vào các nhu cầu cơ bản của cộng đồng địa phương và khu vực xung quanh mình – rằng liệu họ sẽ có cơ sở vật chất đầy đủ, từ nguồn nước sinh hoạt, trường học, cho tới chăm sóc y tế hay không, rằng liệu có thể có được lưu thông tiện lợi từ nhà đến chợ hay không, rằng liệu giá sản xuất các mặt hàng nông nghiệp phát triển trong khu vực có mang lại lợi nhuận hợp lí cho nông dân địa phương hay không… Cư dân của một khu vực nông thôn nói riêng thường có chung các lợi ích chính trị, và họ bỏ phiếu vì dựa trên các nhu cầu lợi ích đó. Điều này giải thích cho mức độ bỏ phiếu tập trung cao theo khu vực địa lí của các bên tham gia vòng bầu cử đa đảng gần đây tại châu Phi. Ngoại trừ cư dân đô thị tới từ nhiều vùng miền khác nhau và có xu hướng ý thức mạnh mẽ về bản sắc nghề nghiệp và giai cấp, những cư dân sống trong cùng một khu vực thường bỏ phiếu cho cùng một đảng chính trị.2 Trong xã hội nông nghiệp, người ta đánh giá các bên và các ứng cử viên dựa trên tiềm năng, hoặc hồ sơ hoạt động trước đây, hay các hoạt động tranh cử.3

Tuy nhiên, hệ thống bầu cử đại diện không đáp ứng được kì vọng này của các cử tri. Các nghị sĩ vừa không chịu trách nhiệm giải quyết các nhu cầu của các địa phương cụ thể, mà ở đây còn do sự nghiệp chính trị của họ phụ thuộc chủ yếu vào việc đáp ứng vai trò lãnh đạo của đảng mà họ thuộc về, vì điều này quyết định thứ hạng của họ trong danh sách đảng cho cuộc bầu cử tiếp theo. Trong xã hội nông nghiệp, đặc biệt là ở châu Phi, việc sử dụng hệ thống bầu cử này đe dọa sự phát triển mà Goran Hyden đã đúc kết thành thuật ngữ “trạng thái treo” – trạng thái bị tách khỏi dân số, và cuối cùng mất đi quyền hạn và khả năng cai trị của mình.4

Công thức bầu cử và dân chủ hóa

Dân chủ hóa xoay quanh sự phát triển đồng thời của hai mối quan hệ khác nhau: 1) đại diện của các công dân thông qua lãnh đạo mà họ lựa chọn, là mối quan hệ đặc trưng bởi đối thoại và trách nhiệm; và 2) sự khoan dung, thương lượng và thỏa hiệp giữa các nhóm chính trị đối lập. Mối quan hệ đầu tiên kết nối giới tinh hoa và tầng lớp phi tinh hoa có cùng mối quan tâm chính trị, và tạo thành “chiều dọc” của nền dân chủ. Mối quan hệ thứ hai xảy ra giữa các nhà lãnh đạo của lợi ích đối lập, và tạo nên “chiều ngang” của nền dân chủ.

Trong suốt quá trình chuyển đổi sang dân chủ và củng cố dân chủ, tầm quan trọng tương đối của hai chiều kích này không giống nhau. Vì những quá trình chuyển tiếp liên quan đến việc thành lập một trật tự hiến pháp mới phải được chấp nhận bởi tất cả các phe phái liên quan, do vậy, các quá trình này được đánh dấu bằng các cuộc thương lượng gay gắt giữa các phe tinh hoa đối lập. Ở giai đoạn này, tính chất của đại diện hầu như không được chú trọng. Việc các tầng lớp tinh hoa chủ chốt bước lên bàn đàm phán thay mặt cho các cử tri của họ thường bị xem nhẹ. Ví dụ, trong các cuộc đàm phán về quá trình chuyển đổi dân chủ của Nam Phi, chỉ một số ít đặt câu hỏi về phạm vi mà Nelson Mandela và Cyril Ramaphosa phát biểu đại diện cho thành viên của đảng Đại hội Dân tộc Phi châu, hay FW de Klerk và Roelf Meyer phát biểu đại diện cho thành viên của Đảng Dân tộc.

Mặt khác, đạt được thống nhất là một quá trình dài hạn, và trong suốt quá trình này, các hoạt động dân chủ dần dần được thể chế hóa. Thật vậy, có thể nói rằng quá trình thống nhất sẽ kéo dài vĩnh viễn, bởi mục tiêu tồn tại của nền dân chủ, các thế hệ công dân và giới tinh hoa kế tiếp buộc phải tái khẳng định các cam kết với quá trình này.5 Do đó, quá trình thống nhất đòi hỏi sự hoàn bị liên tục của cả chiều ngang và chiều dọc của nền dân chủ, và bất cứ công thức bầu cử nào không có khả năng duy trì cả hai chiều kích này đều sẽ làm suy yếu triển vọng dân chủ trong thời gian dài. Vì thế, rõ ràng là hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ có cả lợi thế và bất lợi. Hệ thống này tạo điều kiện cho việc chuyển đổi sang thể chế dân chủ trong các xã hội đa sắc tộc, nhưng lại ngăn cản quá trình thống nhất trong xã hội nông nghiệp khi thất bại trong việc duy trì thành phần chiều dọc của nền dân chủ.

Các trường hợp thực tế tại nam châu Phi đã cung cấp một bằng chứng hết sức đáng kể về thiếu sót cơ bản của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ, và đã làm dấy lên lời kêu gọi bãi bỏ hoặc sửa đổi hệ thống này. Hệ thống này được sử dụng tại Namibia trong cuộc bầu cử toàn dân đầu tiên của đất nước này vào tháng 11 năm 1989. Mục đích của các cuộc bầu cử này là thành lập một Quốc hội Lập hiến, mà sau này gọi là Quốc hội (hay còn gọi là Hạ Viện) nhân ngày Namibia tách ra khỏi Nam Phi vào tháng 3 năm 1990. 72 ghế trong Quốc hội được phân bổ qua các số phiếu toàn quốc của các đảng tham gia – nói cách khác, là số phiếu của mỗi đảng trong một đơn vị cử tri quốc gia. Biến số tương tự của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ được sử dụng cho kì bầu cử Nghị viện lần thứ hai diễn ra vào tháng 12 năm 1994. Trong khoảng thời gian giữa hai kì bầu cử trên, người dân Namibia đã bầu ra 13 hội đồng khu vực (vào tháng 11 năm 1992) từ 95 đơn vị bầu cử một thành viên. Mỗi hội đồng lần lượt bầu ra hai thành viên của mình vào vị trí trong Thượng Viện, Hội Đồng Quốc Gia. Kết quả bầu cử mang lại nhiêu bài học quý giá.

Tổ chức Dân tộc Tây Nam Phi SWAPO đã giành được 57,3% và 73,9% số phiếu bầu trong hai đợt bầu cử Nghị viện đầu tiên, và đã nắm quyền cai trị kể từ thời điểm khu vực này giành độc lập. Đảng đối lập lớn mạnh nhất, Liên Minh Turnhalle Dân chủ DTA giành được 28,6% số phiếu năm 1989 và 20,8% vào năm 1994, trong khi Đảng Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất UDF chỉ giành được 5,6% và 2,7%. Số phiếu mà việc sử dụng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ dẫn tới sự phân bổ số ghế cho mỗi đảng tương đương với tỷ lệ phần trăm số phiếu bầu mà mỗi đảng nhận được.

Với hơn 2/3 số ghế trong Quốc Hội, Tổ chức Dân tộc Tây Nam Phi được trao quyền cải tổ Hiến pháp Namibia. Do vậy, bản thân hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ đã không thể cung cấp đủ đại diện thiểu số để ngăn chặn sự thay đổi Hiến pháp mà còn có nguy cơ gây hại tới lợi ích của nhóm thiểu số. Vì thế, hệ thống bầu cử này không đảm bảo được sự hiện diện của đại diện từ các nhóm thiểu số trong cơ quan lập pháp – tính chất thiết yếu của một nền dân chủ có sự liên minh giữa chính quyền và các đảng phái. Thay vào đó, đây là sự tiết chế của chính phủ do nhóm đa số nắm quyền của Tổng thống Sam Nujoma, cùng với áp lực quốc tế, đã chịu trách nhiệm bảo vệ lợi ích của các nhóm thiểu số, đặc biệt là quyền sở hữu tài sản của dân da trắng tại Namibia.6 Sự tiết chế và cam kết cho một chính sách hòa giải dân tộc cũng dẫn tới việc bổ nhiệm các thành viên của đảng đối lập vào các vị trí nhỏ lẻ trong chính phủ và các vị trí hành pháp nói chung.

Đáng nói nhất là việc các nhóm thiểu số ủng hộ cho Liên minh Dân chủ Turnhalle DTA và Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất UDF sẽ chẳng thể tệ hơn, thậm chí còn có khả năng sẽ tốt hơn hẳn khi áp dụng hệ thống bầu cử với các đơn vị bầu cử một thành viên. Bởi vì số phiếu bầu trong các cuộc bầu cử Nghị viện năm 1994 được tất cả 95 đơn vị cử tri tại mỗi hội đồng khu vực lập thành bảng kê và báo cáo, việc dự đoán sự phân bổ ghế trong Quốc hội hoàn toàn là khả thi nếu các cuộc bầu cử áp dụng công thức bầu cử với các đơn vị bầu cử một thành viên. Kết quả cho thấy Tổ chức Dân tộc Nam Phi giành được đa số phiếu bầu với 64% trên tổng số 95 đơn vị bầu cử, Liên minh Dân chủ Turnhalle DTA giành được 29% và Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất UDF giành được 3,2%.7 Do vậy, việc áp dụng hệ thống bầu cử nào cũng cho ra kết quả phân bổ ghế Quốc hội tương đương nhau. Phe ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ khẳng định: hệ thống đa số tương đối với các đơn vị bầu cử một thành viên mang tới sự đại diện quá mức cho các đảng giành được đa số tương đối phiếu bầu, tuy nhiên, trường hợp của Namibia lại cho thấy rằng hệ thống này cũng có thể mang tới sự đại diện dưới mức mà đảng có đa số tương đối phiếu lẽ ra phải được và do vậy hệ thống đa số tương đối trong trường hợp này có khả năng bảo vệ quyền lợi các nhóm thiểu số tốt hơn hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ.

Ví dụ, Liên minh Dân chủ Turnhalle DTA – đảng bao gồm cộng đồng người da trắng và các dân tộc thiểu số của Namibia – chỉ giành được 20,8% số phiếu bầu trong cuộc bầu cử năm 1994, nhưng lại “thắng” được 29,5% số ghế nếu mỗi đơn vị bầu cử bầu được một đại diện vào vị trí lập pháp. Hơn nữa, các hệ thống bầu cử với đơn vị bầu cử một thành viên có thể diễn ra suôn sẻ để giảm thiểu (hoặc duy trì) sự chênh lệch giữa số phiếu và số ghế mà mỗi bên giành được, như giải thích dưới đây:

Trường hợp tại Namibia cũng cho thấy thất bại của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ trong việc cung cấp đại diện thích hợp cho các cư dân trong xã hội nông nghiệp. Các cuộc phỏng vấn vào tháng 7 năm 1994 do tôi và hai đồng nghiệp cùng thực hiện liên tục với 36 người trong các hội đồng khu vực cho thấy các thành viên Quốc hội hiếm khi xuất hiện tại các khu vực nông thôn, vì họ không có cử tri đại diện tới các nơi mà họ vận động bầu cử. Chính các nhân vật trong hội đồng khu vực – chính bởi vì họ được bầu ra từ những hội đồng bầu cử được xác định theo khu vực địa lí và có thể tiếp xúc trực tiếp với các cử tri trong khu vực bầu cử của mình – họ là những người mà cư dân của khu vực ấy tin tưởng để chia sẻ những vấn đề cá nhân hay các vấn đề của cộng đồng xung quanh họ.8 Điều này không hề gây ngạc nhiên. Trong các xã hội nông nghiệp, nơi mà hầu hết các cư dân đều là những nông dân quen đi bộ, hay di chuyển bằng xe đạp hoặc phương tiện công cộng, người đại diện hiệu quả nhất lại là những người tiếp xúc trực tiếp với họ ở ngay làng quê hay các thị trấn nhỏ.

Không ngạc nhiên khi sự khác biệt trong chất lượng đại diện giữa hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ và hệ thống dựa trên đơn vị bầu cử đang trở thành vấn đề mang tính chính trị tại Namibia và bên trong Tổ chức Dân tộc Nam Phi. Vì sự thất bại của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ trong việc tạo điều kiện cho các cuộc đối thoại liên tục giữa thành viên Nghị viện và cư dân sống ở nông thôn, các thành viên hội đồng khu vực mong muốn chấm dứt việc áp dụng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ trong các cuộc bầu cử Quốc hội, cũng như việc phân tán quyền lực xuống các hội đồng khu vực. Một vài người tin rằng một sự thay đổi đối với hệ thống bầu cử SMD có thể cho phép họ thách thức các thành viên Quốc hội đương nhiệm một cách thành công trong kì bầu cử Nghị viện sắp tới. Cũng với các lí do này, các thành viên Quốc hội đương nhiệm và lãnh đạo Tổ chức Dân tộc Nam Phi lại lên tiếng phản đối việc thay đổi hệ thống bầu cử. Sự bất đồng về cách tiếp cận trong bầu cử cũng phản ánh vấn đề “khoảng cách thế hệ”: tuổi đời của thành viên hội đồng có xu hướng thấp hơn thành viên Quốc hội từ 5 tới 10 tuổi. Biên độ này có thể sẽ ngày càng sâu sắc hơn theo thời gian diễn ra các cuộc bầu cử tiếp theo trong năm 1999.

Chưa tới một năm sau các cuộc bầu cử toàn dân đầu tiên tại Cộng hòa Nam Phi vốn được thực hiện dưới các phiên bản hai vòng của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ, các thiếu sót của hệ thống bầu cử này đã dẫn tới những lời kêu gọi thay đổi cơ chế bầu cử với các đơn vị bầu cử tại quốc gia này. Dưới hệ thống dân chủ của Cộng hòa Nam Phi, 200 ghế trong Quốc hội đã được phân bổ dựa trên số phiếu bầu trên toàn quốc, và 200 ghế được phân bổ dựa trên số phiếu bầu ở mỗi khu vực trong tổng số 9 khu vực.9 Phiên bản này của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ đã dẫn tới việc mỗi đảng đều giành được tỷ lệ ghế tương đương với tỷ lệ số phiếu bầu, và các đảng lớn nhất đều bảo đảm phần tham gia vào quốc hội lớn tương đương với số phiếu mà họ nhận được.10 Tuy nhiên, ngay từ ban đầu, sự vắng mặt của liên kết các đại diện giữa những thành viên Quốc hội và các cử tri tại các khu vực địa lí cụ thể là hết sức rõ ràng. Nhận ra được những bất lợi của tình trạng này, vào tháng 10 năm 1994, Đảng ANC đã tuyên bố về sự thành lập một hệ thống đại diện tỷ lệ không chính thức tại các khu vực bầu cử bằng cách phân bổ các thành viên Quốc hội và bộ trưởng nội các tới các khu vực được chỉ định và hỗ trợ tài chính để họ duy trì sự hiện diện của mình tại các địa điểm đó.11 Trong lịch sử, ANC ủng hộ hệ thống bầu cử với đơn vị bầu cử một thành viên, nhưng sau đó nó đã thay đổi quan điểm và ủng hộ hệ thống bầu cử hiện tại khi tính toán rằng bản thân Đảng này sẽ không mất mát gì khi áp dụng hệ thống bầu cử đại diện hai vòng. Đảng Dân Tộc cũng tuyên bố phần nào quay trở lại bầu cử theo hệ thống sử dụng các khu vực cử tri vào năm 1999.12

Lãnh đạo của hai đảng lớn nhất Nam Phi cảm thấy hài lòng khi kêu gọi chấm dứt hoặc thay đổi hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ, phần lớn là do họ đã đi đến kết luận rằng một công thức bầu cử dựa trên khu vực cử tri cũng sẽ vẫn đưa ra kết quả rất tương đồng, đồng thời cũng không phải gánh chịu những bất lợi của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ. Các đảng nhỏ như Đảng Đại hội các Dân tộc Nam Phi PAC, Đảng Dân Chủ DP và Đảng Mặt trận Tự do FF có thể bị gạt sang một bên nếu hệ thống bầu cử với các đơn vị bầu cử một thành viên SMD được áp dụng, trong khi may mắn của Đảng Tự do Inkatha IFP vốn sở hữu một khu vực cử tri thì khó có thay đổi gì. Cũng có vẻ như Đảng Dân tộc NP vốn ủng hộ cho quá trình chia sẻ quyền lực sau năm 1999 nhận ra rằng sự sắp đặt như vậy không cần đến hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ. Thật vậy, sự sắp đặt chia sẻ quyền lực hiện tại ở Cộng hòa Nam Phi không dựa trên bản thân hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ mà trên số ghế mỗi bên giành được trong Quốc hội. Nếu công thức bầu cử từ các đơn vị bầu cử một thành viên thu được khả năng phân bổ sát sườn số ghế như hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ thì hoàn toàn có thể duy trì được nền dân chủ hợp nguyên.

Sự phân bổ số ghế tương ứng

Trớ trêu là một số bằng chứng tốt nhất về sự tương đồng trong việc phân bổ ghế lập pháp khi áp dụng hệ thống bầu cử với các đơn vị bầu cử một thành viên SMD và hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ đã được đưa ra bởi Andrew Reynolds, một người ủng hộ trung thành của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ. Trong một bài viết có giá trị mà ông mô tả lại các cuộc bầu cử gần đây tại Nam Phi và Malawi, Reynolds chỉ ra rằng sự lựa chọn công thức bầu cử trong xã hội nông nghiệp gần như không có ý nghĩa to lớn bằng sự lựa chọn công thức bầu cử trong xã hội công nghiệp hiện đại.13 Các dữ liệu của Reynolds cùng số liệu mà tôi thu thập được về các cuộc bầu cử Nghị viện gần đây nhất tại Kenya và Namibia, được thể hiện trong bảng dưới đây.14

Bảng dữ liệu này trình bày kết quả của bốn cuộc bầu cử trong bốn quốc gia châu Phi: Nam Phi (tháng 4 năm 1994), Namibia (tháng 12 năm 1994), Malawi (tháng 5 năm 1994), và Kenya (Tháng 12 năm 1992). Các cuộc bầu cử của Cộng hòa Nam Phi và Namibia đều áp dụng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ; còn Malawi và Kenya thì áp dụng hệ thống đa số tương đối sử dụng các khu vực bầu cử một thành viên. Bảng dữ liệu này cho phép so sánh tỷ lệ phần trăm số ghế mà mỗi bên thực sự giành được với tỷ lệ phần trăm số phiếu khi áp dụng một trong hai công thức bầu cử, cũng như với các tỷ lệ phần trăm số ghế mà các đảng đã có thể giành được nếu áp dụng công thức bầu cử còn lại. Như vậy sự phân bổ số ghế giành được khi áp dụng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ ở Nam Phi và Namibia có thể được so sánh với sự phân bổ số ghế đó khi áp dụng hệ thống đa số tương đối; trong khi sự phân bổ ghế giành được thông qua hệ thống đa số tương đối tại Malawi và Kenya có thể được so sánh với số phiếu mà các bên giành được – tỷ lệ phần trăm tương đương với hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ. Dữ liệu cho hệ thống đa số tương đối dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên được thể hiện trong một hoặc cả hai phiên bản thực tế (như đã xảy ra ở Malawi và Kenya) và kết quả ước lượng (đối với Nam Phi, Namibia, và Kenya) nếu tất cả các đơn vị bầu cử có cùng số lượng cử tri. Cuối cùng, bảng đưa ra Chỉ số Chênh lệch Tỷ lệ (ID) cho mỗi công thức tính toán sự phân bổ ghế, cũng như cho các cuộc bầu cử gần đây trong bốn nền dân chủ tiên tiến có sử dụng hệ thống đa số tương đối dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên. Chỉ số chênh lệch tỷ lệ càng gần con số 0, công thức bầu cử càng có khả năng chuyển đổi chính xác tỷ lệ số phiếu của mỗi bên thành tỷ lệ số ghế tương đương. Do đó, chỉ số chênh lệch tỷ lệ càng cao, tỷ lệ chênh lệch của kết quả thu được càng lớn. Chỉ số chênh lệch tỷ lệ thông thường dao động từ cận 0 cho tới 20.15

 

SỰ PHÂN BỔ SỐ GHẾ & SỐ PHIẾU BẦU KHI ÁP DỤNG HỆ THỐNG BẦU CỬ ĐẠI DIỆN TỶ LỆ VÀ HỆ THỐNG BẦU CỬ DỰA TRÊN ĐƠN VỊ BẦU CỬ MỘT THÀNH VIÊN*

Kì bầu cử

Đảng

Tỷ lệ phiếu bầu

Tỷ lệ ghế trong Quốc hội

Hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ – danh sách quốc gia

Hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên (SMDs) hiện tại

Hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên (SMDs) tương đương1

Cộng hòa Nam Phi (tháng 4 năm 1994)

Đại hội Dân tộc Phi (ANC)

62,7

63,0

70,8

Đảng Dân Tộc (NP)

20,4

20,5

17,0

Đảng Tự do Inkatha (IFP)

10,5

10,8

20,3

Đảng Mặt trận Tự do (FF)

2,2

2,2

Đảng Dân Chủ (DP)

1,7

1,8

Đảng Đại hội các Dân tộc Nam Phi (PAC)

1,3

1,3

Chỉ số chênh lệch tỷ lệ

0,3

6,7

Namibia (tháng 12 năm 1994)

Tổ chức Dân tộc Nam Phi (SWAPO)

73,9

73,6

67,4

73,9

Liên minh Dân chủ Turnhalle (DTA)

20,8

20,8

29,5

23,9

Mặt trận Dân tộc Thống Nhất (UDF)

2,7

4,2

3,2

2,2

Khác

3,1

1,4

Chỉ số chênh lệch tỷ lệ

1,1

7,7

2,2

Malawi (tháng 5 năm 1994)

Mặt trận Dân tộc Thống Nhất (UDF)

46,4

48,0

Đảng Quốc hội Malawi (MCP)

33,7

31,6

Liên minh Dân chủ châu Phi (AFORD)

18,9

20,3

Chỉ số chênh lệch tỷ lệ

2,1

Kenya (tháng 12 năm 1992)

Liên đoàn Quốc gia Phi châu Kenya (KANU)

29,7

53,2

44,6

Liên minh Dân chủ FORD – A

24,2

16,5

22,3

Liên minh Dân chủ FORD – K

20,8

16,5

17,0

Đảng Dân chủ (DP)

22,2

12,2

15,4

Khác

3,1

1,6

0,5

Chỉ số chênh lệch tỷ lệ

19,1

12,0

Chỉ số chênh lệch tỷ lệ (trung bình) trong các nền dân chủ cụ thể sử dụng hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên SMDs

Canada

11,3

New Zealand

10,7

Anh

10,5

Hoa Kì

5,4

 

Bảng dữ liệu nhấn mạnh ba điểm cơ bản. Đầu tiên, ngoại trừ trong trường hợp của Kenya, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ và hệ thống đa số tương đối với đơn vị bầu cử một thành viên đều cho ra khả năng phân bổ ghế tương đương. Cả hai công thức đều hoàn thành nhiệm vụ điều chỉnh tỷ lệ phần trăm số phiếu tương đương với tỷ lệ phần trăm số ghế. Thứ hai, nếu việc thu được kết quả theo tỷ lệ là mục đích chính của cuộc bầu cử, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ sẽ là phương pháp tốt hơn. Tuy vậy, theo lập luận ở trên, sự điều chỉnh số phiếu thành số ghế theo phép toán không đảm bảo việc thiết lập một quá trình đại diện liên tục hậu bầu cử. Khi nói đến chất lượng của đại diên, hệ thống đa số tương đối với đơn vị bầu cử một thành viên lại là công thức vượt trội. Do vậy, câu hỏi đặt ra là liệu sự ưu việt của đại diện do hệ thống đa số tương đối đưa ra có đáng giá của một biến chuyển khiêm tốn trong việc điều chỉnh số phiếu thành số ghế hay không.

Thứ ba, những khiếm khuyết của hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên đã được giảm nhẹ khi tất cả các đơn vị bầu cử có cùng số lượng cử tri. Tại Namibia, số lượng cử tri trung bình mỗi huyện là 5.236 người, nhưng số lượng cử tri tại các đơn vị bầu cử có hội đồng khu vực hiện đã tăng từ 1.051 người lên đến 13.592 người. Ở đây, một hệ thống đa số tương đối dựa trên các đơn vị bầu cử có kích thước bằng nhau sẽ cho kết quả chỉ số chênh lệch tỷ lệ thấp ngang với hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ hiện thời. Một hệ thống như vậy cũng sẽ làm giảm mức độ chênh lệch tỷ lệ ở Kenya, nơi số lượng cử tri đăng ký trung bình mỗi huyện là 25.544 người, nhưng thực tế có thể tăng lên từ 2.872 đến 65.887 người. Trong khi các chỉ số chênh lệch tỷ lệ không thấp như ở Namibia, thì lại gần bằng chỉ số này ở một vài nền dân chủ tiên tiến. Quan trọng nhất, việc chia thành các đơn vị bầu cử có kích thước bằng nhau ở Kenya sẽ gây đảo ngược cho yếu tố thiếu sót nghiêm trọng nhất của hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên hiện tại (trừ việc “bảo vệ” lợi ích thiểu số của các thiểu số nhỏ nhất và ít phát triển nhất tại Kenya): nhóm đa số của một đảng chỉ nhận được có 30% số phiếu. Việc tạo ra nhiều đơn vị bầu cử nhỏ gọn hơn sẽ giúp làm giảm mức độ chênh lệch tỷ lệ liên quan tới hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên.

Giải thích về chênh lệch tỷ lệ

Mức chênh tỷ lệ phụ thuộc không quá nhiều vào sự lựa chọn công thức bầu cử mà phụ thuộc trên ba biến số khác: 1) mức độ tập trung hoặc phân tán của cử tri của các bên khác nhau về địa lí; 2) mức độ biến động về số lượng cử tri mỗi đơn vị bầu cử; và 3) số lượng và sự linh động của các đơn vị bầu cử. Đây là lí do tại sao, trong hoàn cảnh xã hội nông nghiệp, hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên mang lại (hoặc có thể được xây dựng để mang lại) sự phân bổ ghế tương đương với khả năng của hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ.

Như đã giải thích ở trên, các cử tri trong xã hội nông nghiệp có xu hướng bỏ phiếu theo nhóm địa lí có độ đồng nhất cao. Kết quả là, hoàn toàn không hề bất thường nếu như các bên giành được tới 90% số phiếu trong một số khu vực và chỉ giành được 10-15% số phiếu trong các khu vực khác. Những gì được coi là hệ thống đa nguyên trong thực tế lại là một tập hợp các hệ thống đơn nguyên theo khu vực. Malawi và Namibia là những ví dụ gần như hoàn hảo của xu hướng này. Ngược lại, hệ thống đa nguyên trong các xã hội công nghiệp tiên tiến được đặc trưng bởi sự phân tán về địa lí của cuộc bầu cử. Mặc dù mỗi đảng đều có một khu vực “bành trướng” riêng nhưng, mức độ “bành trướng” không thể so sánh với mức độ cai trị tại các nước đang phát triển, vì hầu hết các khu vực trong một nước đều tìm mọi cách để thu hút cử tri từ khắp các phe phái chính trị. Các nước công nghiệp mới (NICs) rơi vào đâu đó ở giữa hai thái cực này, vận hành một mô hình bỏ phiếu theo khối ở nhiều vùng nông thôn kết hợp với nhiều mẫu không đồng nhất ở những nơi khác.

Xã hội càng có tính thuần nông, tỷ lệ tập trung phiếu bầu theo khu vực địa lí sẽ càng cao hơn và sự phân bổ số ghế khi áp dụng hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên sẽ càng có xu hướng gần với sự phân bổ tổng số phiếu bầu, cũng như sự phân bổ số ghế có thể thu được khi áp dụng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Ngược lại, xã hội càng công nghiệp hóa bao nhiêu, số phiếu bầu sẽ càng phân tán theo khu vực địa lí bấy nhiêu, và khoảng cách giữa sự phân bổ số ghế và sự phân bổ số phiếu sẽ càng lúc càng lớn. Tóm lại, hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên có thể tạo ra chỉ số chênh lệch tỷ lệ thấp trong xã hội nông nghiệp, nhưng sẽ là tầm trung và cao trong xã hội công nghiệp hóa.16 Hơn nữa, mức độ chênh lệch tỷ lệ kết hợp với hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên có thể được giảm thiểu bằng cách tạo ra nhiều khu vực bầu cử đơn vị bầu cử, do đó khiến tất cả các đơn vị bầu cử nhỏ gọn hơn. Điều này làm tăng mức độ đồng nhất xã hội trong tất cả các đơn vị bầu cử, và do đó có thể giúp gia tăng phạm vi ủng hộ của người dân đối với đảng này hay đảng kia.

Vì những người ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ và dân chủ hợp nguyên như Arend Lijphart có xu hướng tập trung kiểm định hệ thống bầu cử trong các nền dân chủ tiên tiến và sau đó là các xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp, hiển nhiên là họ đã thất bại trong việc đánh giá cao khả năng tạo ra kết quả tương đương của hệ thống bầu cử đa số tương đối dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên và hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ tại các nước phát triển. Vì cùng một lí do, họ cũng không nhạy cảm với phạm vi mà hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên trong xã hội nông nghiệp có thể được sửa đổi để làm giảm độ chênh lệch tỷ lệ. Sau cùng, những người ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ chưa hề xem xét cách thức tiếp cận quy trình bầu cử của các cử tri nông thôn một cách toàn diện. Những người ủng hộ hệ thống bầu cử này coi nhẹ tầm quan trọng của đại diện theo khu vực địa lí, bởi trong một xã hội bị chi phối bởi lợi ích nhóm, đại diện kiểu này không còn cần thiết trong quá trình duy trì một trật tự hiến pháp dân chủ.

Thừa nhận sự cần thiết của đại diện theo khu vực địa lí, Andrew Reynolds đã lập luận rằng một hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ được sửa đổi dựa trên các đơn vị bầu cử đa thành viên sẽ giúp khắc phục thiếu sót chính của hệ thống đại diện tỷ lệ trong xã hội nông nghiệp. Tuy nhiên, nếu một hệ thống như vậy tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa người dân và các đại diện, các đơn vị bầu cử nên có diện tích và số dân cư nhỏ để giảm thiểu số lượng đại diện tại mỗi khu vực bầu cử tới một mức nào đó khi việc phân bổ ghế dựa trên các nguyên tắc về tỷ lệ không còn cần thiết nữa hoặc không khả thi nữa. Ví dụ, nếu hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ được sửa đổi để phân bổ từ ba đến sáu ghế trong một loạt các khu vực bầu cử đa thành viên nhỏ, thế thì chẳng có gì phải đắn đo nữa. Việc phân bổ một số lượng ghế nhỏ như vậy có thể cho ra các kết quả với tính tỷ lệ thấp hơn so với kết quả mà các hệ thống đa số tương đối với đơn vị bầu cử một thành viên mang lại, và chắc chắn sẽ ít hơn so với kết quả mà hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ thông thường tạo ra.17

Những người ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ và những người bảo vệ quan điểm về hệ thống bầu cử với đơn vị bầu cử một thành viên có nguy cơ không thật sự quan tâm tới những gì đối phương đang phát biểu. Trong thực tế, mỗi công thức đều thích hợp cho riêng một nhóm phần tử của hệ thống chính trị, nhưng không nhất thiết phải thích hợp cho toàn bộ hệ thống. Đối với xã hội nông nghiệp – đặc biệt là tại châu Phi, châu lục kém phát triển nhất thế giới, và việc quay trở lại thể chế dân chủ đang diễn ra tại giai đoạn hết sức quan trọng – hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên có thể chưa cung cấp được yếu tố cấu thành quan trọng của nền dân chủ, đặc biệt là với quá trình hợp nhất: tính đại diện hiệu quả. Trong bối cảnh này, bất kì lời kêu gọi thay thế hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị cử tri bằng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ nào đều còn quá sớm.

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH: 

  1. Đọc Andrew Reynolds, “Constitutional Engineering in Southern Africa,” Journal of Democracy 6 (tháng 4 năm 1995): trang 86–99; và Arend Lijphart, Power-Sharing in South Africa (Berkeley, Calif.: Institute of International Studies, 1985) và Electoral Systems and Party Systems (New York: Oxford University Press, 1994).
  2. Đọc Joel D. Barkan, “Kenya: Lessons from a Flawed Election,” Journal of Democracy 4 (tháng 7 năm 1993): trang 85–99; và Andrew Reynolds, “Re-running the 1994 South African and Malawian Parliamentary Elections Under Alternative Electoral System Formulae,” in Timothy Sisk and Andrew Reynolds, eds., Elections and Conflict Resolution in Africa (Washington, D.C.: U.S. Institute of Peace Press). Trong khi yếu tố sắc tộc không còn nghi ngờ gì chính là một nhân tố quan trọng trong sự tập trung lá phiếu theo địa lý tại nhiều quốc gia châu Phi, có những bằng chứng mạnh mẽ – từ Kenya và một vài nơi khác – cho thấy nó không phải là duy nhất.
  3. Joel D. Barkan, “Legislators, Elections and Political Linkage,” in Barkan, ed., Politics and Public Policy in Kenya and Tanzania (New York: Praeger, 1984), trang 71–101.
  4. Goran Hyden, No Shortcuts to Progress: African Development Management in Perspective (Berkeley: University of California Press, 1981), trang 7.
  5. Như Samuel P. Huntington đã viết ba thập kỷ trước, sự thiết chế hoá mọi hành vi chính trị – dù là dân chủ hay khác đi – cũng đòi hỏi mỗi thành phần hành vi (ví dụ như bầu cử, quá trình lập pháp, tư pháp…) phải được đánh giá bởi những người tham gia vào các hành vi đó cũng như bởi những người bên ngoài. Đọc Samuel P. Huntington, Political Order in Changing Societies (New Haven: Yale University Press, 1968).
  6. Các nhà tài trợ và đầu tư quốc tế đã làm rõ rằng đối với chính phủ Namibia rằng mọi sự đảo ngược sự đảm bảo của hiến pháp về quyền sở hữu tài sản hoặc tính đa đảng sẽ khiến tài trợ và viện trợ biến mất.
  7. Nên nhớ rằng 95 khu vực bầu cử này không đóng vai trò gì trong việc áp dụng hệ thống đại diện tỷ lệ hiện nay, mà chỉ phục vụ như các khu vực đếm phiếu mà thôi. Do đó, số lượng ghế trong Quốc hội không phải là 95 mà là 72. Để hỗ trợ sự so sánh các khả năng mà hệ thống đại diện tỷ lệ hoặc đa số tương đối SMD mang lại, mọi sự phân bố thực sự hoặc giả thiết về số ghế đã được biểu thị bằng phần trăm.
  8. Joel D. Barkan, Gretchen Bauer, và Carol Lynn Martin, The Consolidation of Democracy in Namibia: Assessment and Recommendations (báo cáo được chuẩn bị cho United States Agency for International Development by Associates in Rural Development, Inc., Burlington, Vermont, tháng 7 năm 1994).
  9. Các ghế bên trong 9 khu vực lập pháp được phẩn bổ dựa trên lượng phiếu bầu cho các đảng tại mỗi khu vực bầu cử.
  10. Một vị trí trong nội các được phân bổ cho tương ứng 20 ghế do một đảng nắm giữ.
  11. Sunday Times (Johannesburg), ngày 9 tháng 10 năm 1994, trích dẫn trong South Africa News Update, 11–17 tháng 10 năm 1994.

  12. Citizen (Johannesburg), 20 tháng 1 năm 1995, trích dẫn trong South Africa News Update, 17–23 tháng 1 năm 1995.

  13. Andrew Reynolds, “Re-running the 1994 South African and Malawian Parliamentary Elections.”
  14. Tôi muốn gửi lời cảm ơn tới Andrew Reynolds vì đã chia sẻ với tôi những phát hiện và dữ liệu. Tôi cũng xin cảm Judith Geist vì đã chia sẻ với tôi dữ liệu về cuộc bầu cử năm 1992 của Kenya.
  15. Bảy phương pháp tồn tại để đo đạc phạm vi các công thức bầu cử đạt được trong việc phân bổ số ghế khác khỏi sự phân bổ số phiếu. Phỏng theo cả Andrew Reynolds và Arend Lijphart, tôi sử dụng chỉ số bình phương tối thiểu được phát triển bởi Michael Gallagher. Để đọc toàn bộ thảo luận về các phương pháp tính toán sự bất tương xứng khác nhau, đọc giả có thể đọc Arend Lijphart, Elec- toral Systems and Party Systems, chương 3.
  16. Các ngoại lệ duy nhất đối với nguyên tắc này là những trường hợp mà hỗ trợ đối với các đảng phái thi đấu được phân tán từ hệ quả của một nhân tố nào đó, ví dụ như tôn giáo hay ngôn ngữ, phân chia dân số trong cùng các cộng đồng nông thôn. Tác động của chế độ đẳng câp ở Ấn Độ hoặc từ hệ thống tôn giáo ở Uganda có thể là các ví dụ của hiện tượng này. Ngược lại, sự tập trung mang tính địa lý cao về số phiếu tại Nam Phi, quốc gia có tính công nghiệp hoá cao nhất tại châu lục này, phần lớn là di sản thừa kế từ luật lệ phân biệt chủng tộc apartheid 9ví dụ như đạo luật Group Areas), mà trong đó yêu cầu nơi sống cụ thể của các người dân từ của các nhóm sắc tộc hay chủng tộc khác nhau.
  17. Có thể đọc, ví dụ, tính toán của Andrew Reynolds để nắm được sự áp dụng của lựa chọn này đối Malawi trong “Re-running the 1994 South African and Malawian Parliamentary Elections.”

* Dữ liệu về Cộng hòa Nam Phi dựa trên kết quả các kì bầu cử được báo cáo tại 341 đơn vị bầu cử, như trình bày trong bài nghiên cứu “Tái hiện các kì bầu cử Quốc hội tại Cộng hòa Nam Phi và Malawi năm 1994 dưới ảnh hưởng của công thức hệ thống bầu cử thay thế” trong cuốn Bầu cử và giải pháp cho các tranh chấp liên quan tại châu Phi của các tác giả Timothy Sick và Andrew Reynolds (Washington D.C.: Viện Nghiên cứu Xuất bản vì Hòa bình Hoa Kì).

Dữ liệu về Namibia dựa trên kết quả các kì bầu cử được báo cáo tại 95 đơn vị bầu cử đã được điều chỉnh về các biến số dân cư giữa các đơn vị bầu cử. Dữ liệu về Kenya dựa trên kết quả các kì bầu cử được báo cáo tại 188 khu vực bầu cử Quốc hội được điều chỉnh về các biến số dân cư giữa các đơn vị bầu cử. Dữ liệu về các nền dân chủ hiện hành lấy từ tác phẩm của Arend Lijphart: Các hệ thống bầu cử và hệ thống các đảng (New York: Nhà xuất bản trường Đại học Oxford, 1994), trang 160 – 162.

Lưu ý thêm: Dữ liệu về tỷ lệ phần trăm không phải lúc nào cũng tròn 100% theo vào từng vòng.