Andrew Reynolds

Andrew Reynolds là giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Bắc Carolina, Chapel Hill. Ông đã cố vấn cho nhiều vấn đề về thiết kế tổ chức và bầu cử cho nhiều quốc gia. Cuốn sách xuất bản gần đây nhất của ông có tên là Kiến trúc Dân chủ: Thiết kế Hiến pháp, Quản lí Mâu thuẫn, và Dân chủ (2002). Bài tiểu luận này lần đầu xuất hiện vào tháng 4 năm 1995 trên Tạp chí Dân chủ (Journal of Democracy).

***

Loạt phong trào dân chủ diễn ra trên thế giới kể từ cuối những năm 1980 đã làm nổ ra các cuộc tranh luận dai dẳng (thông tin về một số cuộc tranh luận đã được đưa lên mặt báo) về cách thức tốt nhất mà các nền dân chủ non trẻ có thể thiết lập hiến pháp để  hỗ trợ sự ổn định chính trị.1 Khi mà cuộc tranh luận về “kỹ thuật lập hiến” này diễn ra một cách sôi nổi, thiết kế hệ thống bầu cử ngày càng được công nhận là một đòn bẩy chủ chốt có thể được sử dụng để thúc đẩy các thỏa hiệp và ổn định chính trị trong những xã hội có sự chia rẽ về sắc tộc.

Đa số các học giả đều đi tới đồng thuận chung rằng việc lựa chọn hệ thống bầu cử gây tác động cực kì mạnh mẽ lên nền chính trị; và mỗi quốc gia với nền dân chủ còn non trẻ đều có các quy định cơ bản khác nhau về sự lựa chọn này. Các nền dân chủ mới nổi tại nam châu Phi là những bằng chứng mạnh mẽ nhất cho thấy một xã hội bị chia rẽ cần tới hệ thống bầu cử đại diện theo tỉ lệ hơn là hệ thống bầu cử đa số tương đối, và cần một chính phủ Nghị viện hơn là hình thức chính phủ Tổng thống. Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót nếu chỉ có trong tay một hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ kiểu nghị viện đơn giản: các nền dân chủ non trẻ này sẽ trưởng thành tốt hơn bằng một hệ thống bầu cử đại diện theo tỉ lệ giúp tối đa hóa tính đại diện theo địa lí của các nghị sĩ, cũng như trách nhiệm của họ đối với cử tri. Mặc dù sở hữu một luật bầu cử thích hợp vẫn chưa đủ để đảm bảo cho sự ổn định và cai trị một cách hợp lí trong các xã hội bị chia rẽ, nhưng chính pháp luật được thiết lập kém mới là nguyên nhân làm tăng nguy cơ chia rẽ xã hội và khiến các xung đột từ trước tới nay ngày càng trở nên trầm trọng hơn bao giờ hết.

Giới học thuật đương thời thể hiện rõ sự ủng hộ dành cho hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ, bài bác hệ thống bầu cử đa số tương đối trong các nhà nước bị chia rẽ sắc tộc. Theo khẳng định của Arthur Lewis trong chuyên đề về Bài giảng của Whidden năm 1965 thì, “Cách giết chết tinh thần dân chủ một cách chắc chắn trong một xã hội đa sắc tộc đó là thông qua kiểu bầu cử Ai-nhiều-phiếu-nhất-thì-thắng (FPTP) mà Anh và Hoa Kì đang áp dụng hiện nay”. Theo Lewis, thay đổi khó lường từ các cuộc bầu cử đa số tương đối sẽ tạo ra các chính phủ phân biệt chủng tộc và thiên vị địa phương và các chính phủ này sẽ lợi dụng “ủy quyền” từ đa số cử tri để phân biệt đối xử với các nhóm thiểu số một cách có hệ thống: “Nếu bạn thuộc về một nhóm thiểu số trong một nhà nước mới, và được yêu cầu phải chấp nhận nền dân chủ nghị viện, rất khó để bạn có thể đặt nhiều niềm tin vào hệ thống nếu bạn giành được 30% số phiếu nhưng chỉ giành được 20% số ghế, hoặc không giành được ghế nào. Nếu nhóm thiểu số được chấp nhận tại Nghị viện, họ phải được đại diện một cách tương xứng với số phiếu mà họ nhận được.”2

Ủng hộ quan điểm này là Arend Lijphart với lập luận rằng không chỉ xã hội bị chia rẽ cần tới hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ để bảo vệ lợi ích của nhóm thiểu số, mà hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ (kết hợp với chế độ nghị viện) “hầu như luôn luôn đạt hiệu quả tốt nhất, đặc biệt là theo tiêu chí về tính đại diện, sự tham gia của cử tri, và sự kiểm soát tình trạng thất nghiệp”. Timothy Sisk cũng đi tìm “một sự đồng thuận về hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ” trong các cuộc tranh luận về cách thiết lập hệ thống bầu cử tại Nam Phi, đó là một sự đồng thuận được sinh ra từ nhu cầu cấp thiết về cấu trúc chính phủ để tạo điều kiện cho các thỏa hiệp chính trị trong một quốc gia, ông cho rằng: “Mặc dù bị đe dọa bởi sự nổi dậy của các phe phái cực đoan li khai, các xã hội bị chia rẽ như Nam Phi cần các thể chế có khả năng mở ra các lối thoát vươn đến sự ổn định và thỏa hiệp”.

Tuy nhiên, một số học giả nổi tiếng lại không đồng ý với quan điểm trên. Theo lập luận của học giả Guy Lardeyret, cách tốt nhất để chống lại xu hướng cạnh tranh bầu cử theo sắc tộc là “buộc các thành viên của mỗi nhóm cạnh tranh với nhau trên nền tảng ý thức hệ và chính trị hệ trong các đơn vị bầu cử một đại biểu”, trong khi đó, “cách thức tồi tệ nhất là thông qua hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ, vì hệ thống này có xu hướng tái phân chia giai cấp sắc tộc trong cơ quan lập pháp”. Lardeyret tin rằng trong tương lai, Nam Phi sẽ hứng chịu một thảm cảnh kinh hoàng nếu không có sự phát triển của “các đảng phái đa sắc tộc lớn và trung bình” và thừa nhận rằng các cuộc bầu cử đa số tương đối sẽ có nhiều khả năng giúp các đảng phái này ngày càng lớn mạnh. Lí luận này được lặp lại bởi Donald Horowitz, một người cho rằng “phương thức hùn phiếu”, mà ở đó các bên đều được khuyến khích vận động bầu cử vượt ra khỏi các phân chia xã hội, “ chính là trọng tâm của thỏa hiệp liên nhóm trong các xã hội có sự chia rẽ nghiêm trọng”. Hình thức “hùn phiếu” này, theo lập luận của Horowitz, sẽ diễn ra thuận lợi nhất thông qua hệ thống bầu cử “lá phiếu thay thế”, một hình thức sửa đổi của phương thức bầu cử đa số tương đối một đại biểu với kỹ thuật phân bổ lại các lựa chọn ưu tiên thứ hai và các ưu tiên tiếp theo của cử tri cho đến khi một ứng cử viên giành được đa số phiếu bầu.

Sự phát triển gần đây

Trong năm năm vừa qua, nam châu Phi đã chứng kiến sự thay đổi liên tục chưa từng có của hiến pháp kể từ khi chế độ thực dân châu Âu kết thúc trong những năm 1960. Namibia đã trở thành một nền dân chủ đa đảng vào năm 1989, với sự tuyên bố độc lập chính thức từ phía Cộng Hòa Nam Phi vào năm 1990; hệ thống chính trị của Zambia chuyển đổi sang hình thức dân chủ vào năm 1991. Cộng Hòa Nam Phi và Malawi hoàn thành quá trình chuyển đổi dân chủ ấn tượng của họ vào năm 1994, và Mozambique cũng góp tên vào danh sách các nước bắt đầu tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng vào cuối năm đó. Trong số các quốc gia còn lại tại khu vực Nam Phi: Zimbabwe, Botswana, và Lesotho đã trải qua các mức độ đấu tranh chính trị khác nhau, trong khi đó Angola đã có những bước thăm dò hướng tới một thỏa thuận hiến pháp mới và chấm dứt xung đột dân sự. Duy chỉ có Tổng thống Mobutu Sese Seko của Zaire tiếp tục củng cố xu hướng cai trị độc tài đang ngắc ngoải và duy trì quyền lực độc tôn dù đã hợp pháp hóa sự tồn tại của các đảng đối lập vào năm 1990.

Hiện nay, các quốc gia thực hiện “bầu cử dân chủ” thành công nhất ở khu vực Nam Phi là Malawi, Namibia, Cộng hòa Nam Phi và Zambia. Zimbabwe cũng đang trải qua nền bầu cử tương đối tự do, công bằng, và định kì từ năm 1980, nhưng hoạt động cạnh tranh trong bầu cử đã được rút ngắn từ năm 1987. Trong số năm nước này, Malawi, Zimbabwe và Zambia có thể được phân loại vào nhóm hệ thống bầu cử đa số tương đối – thể chế tổng thống theo phân loại “các loại hình dân chủ cơ bản” của Lijphart, trong khi Cộng hòa Nam Phi đi theo hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ – thể chế Nghị viện. Danh hiệu Tổng thống Nelson Mandela thực ra đã bị nhầm lẫn: mặc dù cuộc bầu cử Quốc hội Nam Phi năm 1994 gợi nhớ tới một chiến dịch tranh cử tổng thống, nhưng trong thực tế, Nelson Mandela không trực tiếp được bầu ra. Quyền lực cai trị tối thượng có tính chất cổ điển của ông xuất phát từ việc trước đây ông nắm vị trí lãnh đạo của các đảng lớn nhất trong Nghị viện. Namibia đã bắt đầu quá trình dân chủ hóa của mình trong một tình huống tương tự, với sự lãnh đạo của “Tổng thống” Sam Nujoma, và vào tháng 12 năm 1994, hệ thống bầu cử của nước này bắt đầu chuyển đổi thành hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ kết hợp với thể chế tổng thống thật sự.

Lập luận cho rằng các cuộc bầu cử đa số tương đối khiến cho sự phân cực trong khu vực và sắc tộc trở nên ngày càng trầm trọng đã được củng cố vững chắc từ những kinh nghiệm của các nền dân chủ non trẻ tại khu vực Nam Phi.

Malawi. Các kết quả của cuộc bầu cử đa đảng hồi tháng 5 năm 1994 tại Malawi đã cho thấy cả ba đảng chính trị chủ yếu đều có vị thế thống trị áp đảo tại khu vực trung tâm của mình, và cực kì yếu thế ở hai khu vực còn lại. Tuy vậy, số lượng ghế mà mỗi đảng giành chiến thắng trong một khu vực nhất định không phản ánh chặt chẽ tỷ lệ phiếu được thăm dò tại đó. Liên minh Dân chủ (AFORD), với sự lãnh đạo của Chakufwa Chihana, đã giành chiến thắng tất cả số ghế tại khu vực phía Bắc, mặc dù các ứng cử viên không thuộc Liên minh này đã giành được gần 15% số phiếu bầu tại khu vực này. Đại hội Đảng Malawi (MCP) của Tổng thống đương nhiệm Hastings Banda Kamuzu thắng hoàn toàn 75% số ghế tại khu vực miền Trung trong khi chỉ nhận được khoảng hơn 60% số phiếu bầu. Tại khu vực phía Nam, Mặt trận Dân chủ (UDF) của ứng cử viên tổng thống tiềm năng Bakili Muluzi giành 95% số ghế chỉ với 75% số phiếu bầu. Tỷ lệ tổng số ghế mà mỗi bên đã đạt được trong Quốc hội gần sát với tỷ lệ phần trăm số phiếu bầu, nhưng sự phân phối ghế tạo ra một hình ảnh sai lầm về sự đồng nhất trong khu vực, và rất có khả năng điều này sẽ phá vỡ nỗ lực xây dựng sự đoàn kết chính trị giữa các nhóm sắc tộc.

Zimbabwe và Zambia. Sự biến mất của một phe đối lập chính trị mạnh mẽ ở Zimbabwe và Zambia trong những năm gần đây cho thấy những mối đe dọa mà các cuộc bầu cử trối số có thể tạo ra cho sự xuất hiện của các đảng mới trong nền dân chủ non trẻ. Jonathan Moyo cho rằng tín hiệu cảnh báo nguy hiểm cho nền dân chủ ở Zimbabwe rõ ​​ràng nhất vào năm 1990, khi các đảng đối lập chỉ nhận được hai ghế trong Nghị Viện dù giành được 20% số phiếu phổ thông. Theo tính toán của Moyo, nếu các cuộc bầu cử được tiến hành dưới hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ kiểu danh sách, phe đối lập có thể kỳ vọng vào khả năng giành được 23 ghế trong Nghị viện – một nền tảng vững chắc hơn làm bàn đạp nhằm giám sát và phê bình chính sách của chính phủ. Trong cuộc bầu cử đa số tương đối năm 1991 của Zambia, Phong trào cổ vũ Dân chủ hóa Đa đảng (MMD) của Frederick Chiluba giành được 125/150 số ghế trong Nghị Viện, đủ để thực hiện sự cai trị mà không bị cản trở cũng như có thể đơn phương sửa đổi hiến pháp. Theo lời của nhà báo Jowie Mwiinga, “Tổng thống hầu như không chịu áp lực tổ chức nào về việc thanh lọc chính phủ, nhờ sự vắng mặt của đảng đối lập hoặc cơ quan báo chí độc lập.”

Nam Phi. Việc sử dụng một hệ thống bầu cử đa số tương đối trong các cuộc bầu cử Quốc hội Nam Phi năm 1994 có thể đã gây ra một số kết quả tiêu cực. Kết quả tức thì của hệ thống bầu cử đa số tương đối đó sẽ là sự phủ nhận lợi ích của nhóm thiểu số trong Nghị Viện. Bất chấp những đóng góp về mặt địa lí của họ cho chiến dịch bầu cử, Phe Mặt trận Tự Do (giành 9 ghế trong cuộc bầu cử thực tế), Đảng Dân chủ (7 ghế), Nghị viện châu Phi (5 ghế) và Đảng Dân chủ dòng Hồi Giáo châu Phi (2 ghế) có lẽ đã thất bại trong việc giành được một ghế trong Nghị viện. Mặc dù tất cả các đảng phái được liệt kê trên đây chỉ chiếm 6% trong cơ cấu Quốc hội Nam Phi, họ vẫn có một tầm quan trọng không thể phủ nhận trong cơ cấu chính phủ, dù vị trí này không tương xứng với lợi thế về số lượng của họ.

Đảng Mặt trận Tự Do của Tướng Constand Viljoe đại diện cho cử tri cư trú tại khu vực trung tâm của người Afrikaner rất dễ dao động và rất có thể sẽ rơi vào vòng cai trị của những chính trị gia tôn sùng chủ nghĩa người da trắng thượng đẳng như Eugene Terre’Blanche và có thể sẽ bị đẩy ra ngoài rìa của chính trường. Tương tự, Đảng Đại hội các Dân tộc Nam Phi (PAC) bị xé toạc giữa hòm phiếu và súng AK-47. Nếu Đảng này bị từ chối quyền đại diện nghị viện, cánh khủng bố vũ trang của Đảng này sẽ nổi dậy, đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định ở Nam Phi ngay trong thời kì hậu bầu cử. Tầm quan trọng của vị trí mà Đảng Dân chủ DP giành được trong Quốc hội Nghị viện cũng không thể bị đánh giá thấp. Các nhà lãnh đạo của Đảng này đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các yếu tố về tự do của hiến pháp tạm thời, và sự hiện diện của Đảng Dân chủ DP trong Quốc hội mới là rất cần cho việc đảm bảo rằng sự khoan dung như vậy vẫn là niềm tin chính thức của vùng đất này.

Hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ kiểu danh sách được áp dụng trong thực tế tại các cuộc bầu cử ở khu vực Nam Phi có vẻ như không phải là lợi thế hay bất lợi đối với Đảng Dân tộc và Đảng Tự Do Inkatha, vì bản chất “trưng cầu dân ý” của các chiến dịch đã dẫn đến một trận chiến tay đôi giữa cái cũ và cái mới: giữa Đại hội Dân tộc Phi và Đảng Tự do Inkatha ở tỉnh KwaZulu-Natal, giữa Đại hội Dân tộc Phi và Đảng Dân tộc tại các khu vực khác của quốc gia này. Xét đến tính chất sắc tộc đồng nhất của các khu vực bầu cử và sự tập trung hỗ trợ mạnh về mặt địa lí ở khu vực Nam Phi, khi áp dụng hệ thống bầu cử một thành viên, Đảng Dân tộc chỉ thắng ít hơn một số ghế và và Đảng Tự do Inkatha thì giành được nhiều ghế hơn một chút so với khi áp dụng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ. Tuy nhiên, những bất thường của hệ thống bầu cử Anh-Hoa Kì được tóm tắt trong tuyên bố Vernon Bogdanor rằng “số ghế mà một bên thắng trong cuộc tổng tuyển cử không chỉ phụ thuộc vào số phiếu nhận được mà còn vào địa điểm bỏ phiếu” – sẽ giúp Đại hội Dân tộc Phi giành được tất cả các ghế trong Nghị viện ở miền Bắc và Đông Transvaal, Tây Bắc và Đông Cape, chỉ trừ một trong những ghế của quốc gia Orange Free State. Tại tỉnh Western Cape, Đảng Dân tộc giành được 80% số ghế với chỉ hơn một nửa số phiếu phổ thông. Rõ ràng là những kết quả này sẽ khiến cho sự phân cực sắc tộc và khu vực ngày càng nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho sự phát triển của một hệ thống chính trị ổn định ở Nam Phi. Bầu cử đa số tương đối có thể đã gây ra tổn thất cực kì lớn vì đã loại bỏ sự xuất hiện của các nhóm thiểu số nhỏ hơn hoặc không phân biệt chủng tộc và không được nhắc tới trong hiến pháp cũ.

Bầu cử đại diện tỉ lệ trong thực tiễn

Đại diện tỷ lệ chắc chắn là một phần không thể thiếu trong các nỗ lực chia sẻ quyền lực và thỏa hiệp sắc tộc ở cả Nam Phi và Namibia. Tuy nhiên, chỉ riêng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ không thể đảm bảo sự tồn tại của một chính phủ đa đảng ở Nam Phi vì một đảng duy nhất chiếm ưu thế có thể đã hình thành được nên một chính quyền đơn phương nếu hiến pháp tạm thời không thể hiện được đặc trưng đa nguyên.12 Điều mà hệ thống bầu cử này đã làm được là thể hiện Điều 88 của Hiến pháp, tức là đảm bảo rằng những bên đã giành được 5% số ghế trong Quốc hội sẽ giành được một “chân” trong danh sách bộ của nội các. Do vậy, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ kiểu danh sách giúp Đảng Dân tộc của F.W.de Klerk giành được 6 trong danh sách bao gồm 27 chức vụ nội các, Đảng Tự do Inkatha thì giành được 3/27. Sự chia sẻ quyền lực thực tế được đảm bảo khi một thành viên của Đảng Quốc gia được xướng tên làm người đứng đầu Bộ Tài Chính và lãnh đạo Đảng Tự do Inkatha, ông Mangosuthu Buthelezi được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Nội vụ. Như vậy, tại Nam Phi, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ đã giúp thực hiện một trong những nguyên tắc cơ bản về kiểu dân chủ mà nhà khoa học Lijphart đã đề cập – một “chính phủ “liên minh lớn”, thành lập bởi một liên minh đại diện rộng rãi của tất cả các nhóm phe phái”.13

Trong cuộc bầu cử Namibia năm 1989 hay trong cuộc bỏ phiếu tại Cộng Hòa Nam Phi năm 1994, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ đã đảm bảo rằng hầu như không tồn tại bất cứ “lá phiếu bị lãng phí” nào. Tại Namibia, 99% số phiếu bầu đã được bỏ vào hòm; con số này còn cao hơn ở Cộng Hòa Nam Phi. Mức độ hiệu quả cao này chủ yếu là do ngưỡng mức đại diện cần thiết đủ thấp để giành được một ghế trong Nghị viện theo hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ kiểu danh sách trên toàn quốc (0,7% tại Namibia, 0,2% tại Nam Phi). Lijphart đã lập luận rằng, đối với những nền dân chủ non trẻ, “áp dụng hệ thống bầu cử này một cách hợp lí [với ngưỡng mức cao] và chế độ đa đảng vừa phải giống như ở Đức và Thụy Điển, sẽ cho ra các mô hình hấp dẫn hơn so với cách áp dụng triệt để hệ thống này [với ngưỡng thấp] và hệ thống đa đảng của Ý và Hà Lan”, lập luận rằng một hệ thống đảng phái rất phân tán sẽ rất bất lợi cho việc hình thành các liên minh và sự ổn định của chính phủ sau đó.14 Tuy vậy, các bằng chứng thực nghiệm từ khu vực nam châu Phi cho thấy rằng chi phí bỏ ra cho việc loại trừ các đảng phái nhỏ nhưng đáng kể thông qua một ngưỡng cao (5%) đã vượt quá lợi ích thu được. Thậm chí nếu ngưỡng chỉ dừng ở con số 3%, một số phe phái chính trị quan trọng đã có thể bị loại bỏ khỏi kì bầu cử Quốc hội Nam Phi đầu tiên, hầu như toàn bộ, trừ ba Đảng lớn nhất tại Namibia, sẽ bị tước quyền đại diện. Trong các giai đoạn ban đầu của một nền dân chủ mới, nhu cầu được tồn tại trong hệ thống của tất cả nhóm áp đảo mối lo ngại về những trở ngại mà các nhà tạo dựng liên minh phải đối mặt trong Quốc hội được bầu ra sau này.

Đại diện tỷ lệ cũng đã và đang cho phép Nghị viện Cộng hòa Nam Phi phản chiếu toàn bộ xã hội của nước này. Các danh sách quốc gia trong trạng thái “đóng” để cử tri không thể sửa đổi hay tái lập trật tự của danh sách này, đã cho phép các đảng ra mắt các nhóm ứng cử viên đồng nhất về mặt sắc tộc với sự hấp dẫn liên nhóm được dự đoán trước (cross-cutting appeal – tức là các ứng viên này nằm trong nhiều nhóm xã hội khác nhau chứ không chỉ phụ thuộc vào một nhóm duy nhất – ND). Kết quả tại Quốc hội là 52% người da đen, 32% người da trắng, 8% người Anh điêng và 7% người da màu, so với một lực lượng cử tri được ước tính như sau: 73% người da đen, 15% người da trắng, 3% người Anh điêng và 9% người da màu. Người Anh điêng tại Nam Phi giành được 30 ghế nghị viên, 4 ghế Bộ trưởng nội các. Bên cạnh đó, việc một loạt nghị sĩ nữ đại diện cho Đảng Đại hội Dân tộc Phi15 – hiện tại số nghị sĩ nữ chiếm tới gần 1/3 trong Nghị viện – đã nâng tổng số phần trăm phụ nữ trong Quốc hội lên tới 24% trong tổng số nghị sĩ, và đây là con số lớn nhất trên thế giới.16 Dựa vào các bằng chứng từ Anh và các quốc gia khác với hệ thống bầu cử ai-nhiều-phiếu-nhất-thì-thắng (FPTP), có vẻ như khá công bằng khi phỏng đoán rằng việc sử dụng bầu cử đa số tương đối tại Cộng hòa Nam Phi đã tạo ra một Quốc hội kém đồng nhất và đa cực hơn, với số ứng viên da trắng trong nhiều đảng đại diện cho đa số khu vực cử tri, người Xhosa đại diện cho dân Xhosa và người Zulu thì chỉ đại diện cho dân Zulu.

Một số chỉ trích và luận điểm bác bỏ

Lời chỉ trích gần đây nhất và kịch liệt nhất dành cho kế hoạch sử dụng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ trong các nền dân chủ mới nổi là của Lardeyret, người đã vạch ra 5 cách thức mà hệ thống bầu cử này có thể sẽ góp phần ngăn cản các giải pháp giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội bị chia rẽ.17 Theo lập luận của Lardeyret, đầu tiên, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ có xu hướng tạo điều kiện cho sự nổi lên của các nhóm phần tử cực đoan (ông lấy Đảng Mặt trận Quốc gia Pháp làm ví dụ thực tế), mà rất có thể các đảng cực đoan đối lập khác sẽ nhân cơ hội này mà lần lượt nắm quyền đại diện. Tuy nhiên, trong thực tế, hệ thống bầu cử này chỉ giúp đáp ứng nguyện vọng được đại diện của các nhóm thiểu số, chứ không giới thiệu các đảng nhóm mới, và phản ánh được quy mô thực tế chứ không hề thổi phồng bất cứ sự hỗ trợ nào của các đảng nhóm này. Hơn nữa, như đã nói ở trên, trong các xã hội bị chia rẽ sâu sắc nhất, việc cho phép các đảng nhóm bên ngoài chung tay giúp đỡ chính thể dân chủ kết nạp các nhóm cực đoan, cung cấp cho các nhóm này động lực để giải quyết vấn đề thông qua bầu cử, tránh bạo lực xung đột.

Lời chỉ trích thứ hai của Lardeyret tập trung vào việc chỉ ra rằng trường hợp thực tế tại Bỉ cho thấy hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ rất nguy hiểm cho các nước đang đối mặt với sự chia rẽ về văn hóa hay sắc tộc. Ông khẳng định rằng tại Bỉ, “các đảng phái mang tính ngôn ngữ đã nổi lên sau khi hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ được giới thiệu vào đầu thế kỷ 21”, khiến nền chính trị Bỉ: “khoét sâu mối quan hệ đối lập giữa hai phe: phe người Flemings và phe người Walloons nói tiếng Pháp”.18 Một lần nữa, Lardeyret lại bị nhầm lẫn phản ánh với nguyên nhân: Chính trị Bỉ vốn đã, đang và sẽ phát triển đồng hành với ngôn ngữ và, ở mức độ nhỏ hơn, với tôn giáo mà không hề liên quan tới việc lựa chọn hệ thống bầu cử cụ thể nào. Các bằng chứng ban đầu từ khu vực nam châu Phi chỉ ra rằng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ đã làm gia tăng áp lực lên các đảng phái khiến các đảng phải này ngày càng ít có xu hướng độc quyền về mặt sắc tộc. Trong Quốc hội Nam Phi mới, gần 1/3 trong tổng số 130 thành viên da trắng của Quốc hội đại diện cho Đảng Đại hội Dân tộc Phi ANC, và Đảng Dân tộc của F.W. de Klerk thì giành được nhiều phiếu bầu từ người da màu hơn là từ người da trắng.

Lời chỉ trích thứ ba của Lardeyret dành cho hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ trong nền dân chủ mới là các chính phủ liên minh đa đảng thường gây mất ổn định và không có khả năng để thực hiện các chính sách chặt chẽ. Lập luận này có lẽ có tính thuyết phục nhất. Chính phủ mới của Nam Phi chất lên mình gánh nặng kì vọng rất lớn, và bản chất chia rẽ của “nội các đoàn kết toàn quốc” do Mandela đề xướng có thể cản trở quá trình quyết định. Tuy nhiên, cũng như các nơi khác ở khu vực Nam Phi, việc thay thế kiểm soát bởi một đảng đơn lẻ, cộng thêm sự vượt quyền số đông của đảng đó sẽ khiến cho tình hình ngày càng xấu đi. Không chính phủ nào, thậm chí không một chính phủ độc đảng, sẽ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ nếu xã hội dân sự vẫn chênh vênh trên bờ vực sụp đổ vĩnh viễn. Hơn nữa, Lijphart đã chỉ ra rằng chính phủ được bầu thông qua hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ không hề kém hiệu quả hơn so với các chính phủ được lập nên bởi các hệ thống bầu cử khác. Thật vậy, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ giúp tạo ra một chính phủ có tuổi thọ cao hơn, có sự tham gia của cử tri, và hiệu suất kinh tế tốt hơn.19

Một chỉ trích khác của Lardeyret xoáy vào việc hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ không chỉ cho phép các đảng cực đoan bước chân vào quốc hội, mà còn góp phần làm bàn đạp phát triển của họ, vì các đảng này thường kiểm soát các ghế “xoay” có khả năng tác động hay phá vỡ thế liên minh đa số. Điều này có thể đúng, nhưng như các trường hợp của Nam Phi và Namibia cho thấy, việc đưa các đảng nhóm thiểu số – không quan trọng việc họ cực đoan tới mức nào – vào trật tự chính trị dân chủ là một lựa chọn thay thế đúng đắn hơn việc đẩy họ ra bên rìa của hệ thống.

Lardeyret khẳng định rằng bầu cử đa số tương đối có khả năng thúc đẩy các đảng trung dung hơn bầu cử đại diện tỷ lệ, vì dưới một hệ thống như vậy, các đảng nhóm buộc phải cạnh tranh liên tục để giành lấy các lá phiếu hướng tâm vẫn chưa được quyết định. Không chỉ chính phủ của “bà đầm thép” Thatcher nước Anh (1979-1990) và chính phủ của Đảng Dân tộc tại Cộng hòa Nam Phi (1948-1994) đang vận hành bằng cách này, nhưng chúng ta khó có thể kỳ vọng nhìn thấy nhiều sự trung dung ở hệ thống đa số tương đối, nơi mà một đảng chiếm ưu thế có thể dễ dàng trông cậy vào chiến thắng đa số tuyệt đối, như tình hình hiện tại đang diễn ra ở Cộng hòa Nam Phi, Zimbabwe, Zambia và Namibia. Tại khu vực nam châu Phi, chỉ mỗi Malawi thiếu một đảng đứng đầu, và, như đã đề cập ở trên, cử tri tại Malawi chia thành hai nửa: phe khu vực và phe sắc tộc, ở giữa là nhóm cử tri chưa đi đến quyết định cuối cùng với số lượng không đáng kể.

Mức độ đại diện cao theo địa lí và trách nhiệm với cử tri trong các khu vực bầu cử từ lâu đã được coi là một lợi thế của hệ thống bầu cử đa đa số tương đối trước hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ. Đúng là kích thước khu vực bầu cử áp dụng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ – danh sách đa thành viên lớn có thể phá hủy mối liên kết giữa một đại diện và một khu vực địa lí cụ thể (với trường hợp của Cộng hòa Nam Phi, mỗi thành viên trong tổng số 20 thành viên đại diện cho trung bình 2,5 triệu cử tri). Roelf Meyer, Bộ trưởng phát triển Hiến pháp, đã khẳng định rằng điều này là một “điểm yếu nghiêm trọng”, và “bất cứ Hiến pháp mới nào cũng bắt buộc phải đưa ra các đại diện có phân chia rõ ràng”.20 Việc sử dụng danh sách đóng bao gồm các đảng tại Cộng hòa Nam Phi và Namibia thật sự có vấn đề, vì các nghị sĩ chịu sự kiểm soát của lãnh đạo các đảng tại các trụ sở đảng quốc gia hơn là chịu kiểm soát của cộng đồng địa phương hay toàn thể xã hội. Để khắc phục điều này mà không vi phạm quy tắc tỷ lệ cơ bản của Quốc hội, các nhà xây dựng Hiến pháp có thể sử dụng các khu vực bầu cử đa thành viên nhỏ hơn (có lẽ mỗi khu vực chỉ nên có từ 5 tới 12 thành viên) được thiết kế để khớp với giới hạn xã hội và giới hạn địa lí truyền thống, cũng như những danh sách mở mà ở đó, các cử tri lựa chọn các ứng cử viên cũng như các đảng. Tại Cộng hòa Nam Phi, mục tiêu chính của hệ thống này do các thành viên của Đảng Đại hội Dân tộc Phi đưa ra. Đảng Đại hội Dân tộc Phi đã từng tranh luận về việc bầu cử cho các cá nhân tranh cử thay vì các đảng nhóm sẽ cực kì phức tạp đối với rất nhiều các cử tri không biết chữ của đất nước này. Tuy nhiên, một hệ thống như vậy vẫn sẽ chỉ đưa ra cách bầu cử đơn giản nhất có thể: cử tri sẽ chỉ cần đánh dấu chấm cạnh tên và biểu tượng của một ứng cử viên yêu thích nhất, và mức độ bỏ phiếu hỏng thấp (ít hơn 1%) trong các cuộc bầu cử năm 1994 cho thấy tình trạng mù chữ trong giáo dục không nhất thiết đồng nghĩa với tình trạng thiếu nhận thức về chính trị.

Trong khi gia tăng tính đại diện và trách nhiệm về mặt địa lí, việc điều chỉnh hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ đơn giản như vậy cũng sẽ giúp duy trì các lợi ích tổng thể mà hệ thống này cung cấp cho xã hội đa sắc tộc. Các khu vực bầu cử đa thành viên vẫn sẽ có khả năng cung cấp lựa chọn đại diện để cư dân của mình có thể tiếp cận các vấn đề thực tế liên quan trong khu vực bầu cử. Trong thực tế, điều này cũng có nghĩa là các cử tri có thể tiếp cận một nghị sĩ Ndebele hoặc một nghị sĩ Shona tại Matabeleland, Zimbabwe; một nghị sĩ Chewa, Lomwe hoặc một nghị sĩ Yao tại Lilongwe, Malawi, hoặc một nghị sĩ Zulu, Xhosa, White hay Indian tại miền nam KwaZulu, Cộng hòa Nam Phi. Cuối cùng, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ kiểu danh sách dựa trên khu vực bầu cử sẽ đóng vai trò như một động lực cho các đảng gia tăng ủng hộ theo sắc tộc – nói cách khác, duy trì sự hiện diện đa dạng của các ứng cử viên và qua đó tối đa hóa số phiếu bầu lẫn số ghế trong Quốc hội.

Chế độ Tổng thống hay chế độ Đại nghị?

Sau khi lựa chọn hệ thống bầu cử, lựa chọn cơ bản thứ hai mà các nền dân chủ mới phải đối mặt là đi theo chế độ chính phủ tổng thống hay chế độ chính phủ đại nghị. Khi cuộc tranh luận được đặt lên bối cảnh của khu vực nam châu Phi, các quan điểm rất dễ bị tô điểm bởi màn thể hiện của các tổng thống các nước châu Phi tiền nhiệm, rằng liệu họ đã từng được bầu cử một cách dân chủ hay không. Đứng trước làn sóng dân chủ hóa gần đây nhất, uy tín chính trị của các tổng thống tại nam châu Phi đều rơi vào khoảng tệ xuống thậm tệ. Toàn bộ các nước được đem lên bàn thảo luận tại đây đều đã đang hứng chịu chuỗi lịch sử mô hình tổng thống đau thương, rất dễ khiến cho người ta nghĩ rằng chính sự đau thương mang tính lịch sử ấy khiến họ sẵn sàng tìm mọi cách né tránh việc mạo hiểm trao quá nhiều quyền lực cho bất kì một cá nhân nào đó. Tuy nhiên, vào năm 1985, Zimbabwe đã tổ chức bầu cử vị trí tổng thống trực tiếp và 9 năm sau, Malawi đã thực hiện hoạt động tương tự. Từ việc bầu cử tổng thống không trực tiếp, năm 1994, Namibia đã chính thức thực hiện kì bầu cử tổng thống trực tiếp, và Cộng hòa Nam Phi đã hiện thực hóa quyền kiểm soát của tổng thống, thực tế có thể không được như vậy, bằng cách gọi chức vụ tổng thống bằng danh xưng: “chủ tịch điều hành quốc gia”.

Hiến pháp được thiết kế tốt cho xã hội bị chia rẽ không ủng hộ tổng thống được bầu trực tiếp trong xã hội dân chủ hóa mới nổi tại khu vực Nam Phi. Lijphart cảnh báo rằng, trong khi “sự kết hợp của chính thể nghị viện với bầu cử đại diện tỷ lệ nên là yếu tố gây thu hút đặc biệt đối với các quốc gia mới dân chủ và đang dân chủ hoá”, thì kinh nghiệm từ khu vực Mỹ Latin cho thấy cần tránh không bầu cử tổng thống bằng hệ thống đại diện tỷ lệ.21 Matthew Shugart và John Carey đã xác định ba đặc điểm cơ bản của chế định tổng thống thường gây ra các hậu quả tiêu cực như: sự cứng nhắc tạm thời, đa số nắm quyền và hợp pháp dân chủ kép.22 Trong ba đặc điểm này, đa số nắm quyền gây tổn hại nghiêm trọng nhất tới sự ổn định của các xã hội bị chia rẽ sắc tộc. Bản chất “người-chiến-thắng-có-tất-cả” của văn phòng điều hành được bầu trực tiếp có tính đối nghịch với chế độ tổng thống tại khu vực nam châu Phi. Trong một xã hội bị chia rẽ chưa bao giờ có một nền dân chủ ổn định, không có gì đảm bảo được rằng kẻ thua cuộc hay những kẻ bại trận trong cuộc đua vào chức vụ tổng thống sẽ chấp nhận thất bại trong cuộc chơi có tổng bằng không (zero-sum game). Như các bằng chứng gần đây tại Angola và Nigeria cho thấy, hầu như không có chút hy vọng nào cho một cơ chế Hiến pháp tinh vi được xây dựng nhằm đẩy mạnh hoạt động chia sẻ quyền lực nếu nền dân chủ non trẻ sụp đổ ngay tại chặng đua đầu. Ann Reid, thành viên Bộ Ngoại giao Hoa Kì, dồn hết trách nhiệm lên sự sụp đổ của các kế hoạch hòa bình tại Angola và cuộc xung đột đẫm máu với phần lớn nguyên nhân thuộc về hệ thống tổng thống của nước này: bởi vì “cả  [José Eduardo] Dos Santos và [Jonas] Savimbi đều ra sức ganh đua giành vị trí đáng giá duy nhất”, việc Savimbi sẽ tiếp tục đấu tranh bạo lực sau khi thua trong cuộc tranh cử là điều không thể tránh khỏi.23 Tại Nigeria, tính chất “được ăn cả ngã về không” của cuộc tranh cử tổng thống năm 1993 đã gần như bị kết thúc bởi quân đội trước khi kết quả được công bố: các ứng cử viên và các phe phái chính trị thất bại không đạt được lợi ích gì nhiều khi cuộc bầu cử kết thúc, và rất nhiều người sẵn sàng nhượng bộ cuộc can thiệp của quân đội với hy vọng sẽ có thể tranh cử một lần nữa. Hơn nữa, Ian Campbell khẳng định, rằng chế độ tổng thống đã làm tăng đáng kể nạn nham nhũng trong cuộc chạy đua số phiếu bầu. “Vấn đề ở đây có thể là do “kích thước giải Jackpot” (Jackpot: giải thưởng dành cho người thắng cuộc tại casino, được cộng thêm từ số tiền của người thua cuộc – ND), với quá trình sàng lọc (dành cho ứng viên ứng cử vị trí tổng thống) được nhìn nhận là “cơ hội đầu tư” và vị trí tổng thống là “nguồn lợi ngay tức thì.”24

Mối nguy hiểm khác của chính thể tổng thống là một tổng thống được bầu trực tiếp có xu hướng bị gây sức ép theo hướng độc đoán về mặt dân tộc hay khu vực. Những tổng thống như vậy có động lực lớn cho việc đưa ra các ưu đãi đặc biệt cho nhóm dân tộc hoặc khu vực riêng của họ như một phương tiện đảm bảo tái tranh cử thông qua đa số tương đối phiếu. Nền dân chủ ở Malawi, Namibia và Zimbabwe có nguy cơ lớn bị đe dọa. Ở Malawi, Bakili Muluzi thắng cử tổng thống năm 1994 với 47,2% số phiếu bầu, hầu hết đến từ phần cổ phiếu khổng lồ tại khu vực phía Nam quê hương ông. Ở miền Nam, nơi chiếm một nửa dân số đi bỏ phiếu, Muluzi giành được 78% số phiếu bầu, trong khi ở khu vực trung tâm, Malawi chỉ giành được 27,8% và 4,5% số phiếu tại phía Bắc. Như đã đề cập ở trên, chính trị Malawi đang bị chia cắt sâu sắc dọc theo các đường ranh giới khu vực, và bất kì cấu trúc hiến pháp nào vĩnh viễn tước bỏ quyền lực của một khu vực địa lý nào đó, toàn bộ quốc gia này sẽ rơi vào tình trạng bất ổn. Tổng thống Muluzi cũng có thể ủng hộ chiến lược xây dựng quốc gia, phân phối đều nguồn lực trên cả nước, nhưng kết quả tích cực như vậy không phải là do cơ cấu tổ chức của chính quyền mà là do tố chất của người đàn ông này. Cơ chế của chính thể tổng thống tại Malawi mong muốn Muluzi ưu ái khu vực phía Nam, chỉ hành động đủ để duy trì một phần ba số phiếu từ các khu vực trung tâm, và phần lớn bỏ qua các cử tri ở miền Bắc.

Tại Namibia, Dirk Mudge, cựu lãnh đạo của đảng đối lập Liên minh Dân chủ Turnhalle (DTA), bày tỏ sự lo lắng tương tự về chế độ tổng thống:

Về chính trị, đề xuất thực hiện chế độ bầu cử tổng thống trực không hề tốt đẹp và rất nguy hiểm, vì đề xuất này phủ nhận sự tồn tại của hệ thống đa đảng. Người đứng đầu nhà nước theo chế độ đại nghị được ủy thác của quốc hội đã trở thành biểu tượng của sự đoàn kết và hòa giải, vì trong quá trình thực hiện quyền hành pháp của mình, người này cần phải làm theo những mong muốn của các đại diện của nhân dân.25

Trong thực tế, trong cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên của Namibia vào năm 1989, 70% trên 57,3% tổng số phiếu bầu quốc gia của Sam Nujoma đến từ khu vực dân tộc của ông Ovamboland. Tại 22 quận bầu cử ngoại vi Ovamboland, với 181.000 lá phiếu, Liên minh Dân chủ Turnhalle đánh bại Tổ chức Dân tộc Tây Nam Phi của Nujoma với 159.000 lá phiếu. Trong cuộc bầu cử tổng thống tháng 12 năm 1994, một lần nữa Nujoma chiến thắng áp đảo sau khi tận dụng phần chia số phiếu tại Ovambo, với 72% số phiếu phổ thông tập trung ở khu vực đông dân cư phía Bắc Ovambo

Những hành động của Robert Mugabe tại Zimbabwe cho thấy rõ ràng cách thức mà một tổng thống được bầu cử trực tiếp nắm trong tay nhiều quyền lực có thể dùng biện pháp chính trị đẩy một nhóm dân tộc ra ngoài rìa. Bảy năm sau lần đầu tiên bước chân lên “ngai” nắm quyền vào năm 1980, Đảng Mặt trận Yêu nước-Liên đoàn Quốc gia Phi châu-Zimbabwe (ZANU-PF) trên cơ sở dân tộc Shona đã thành công trong việc đẩy Liên đoàn Dân tộc Phi châu-Zimbabwe-Mặt trận Yêu nước trên cơ sở dân tộc Ndebele (PF-ZANU) ra khỏi chính trường. Vào năm 1987, họ đã ký một thỏa thuận đoàn kết, trao cho ba lãnh đạo PF-ZAPU các vị trí trong nội các để đổi lấy sự phục tùng của họ với thể chế độc đảng. Trong thực tế, chế độ tổng thống, kết hợp với sự bành trường vô hạn của dân Shona đã giúp Mugabe duy trì chính phủ độc đoán trong vấn đề dân tộc, ngay cả khi không có sự đồng thuận của Nkomo.

Nếu chúng ta chấp nhận giả thuyết của Lijhart cho rằng cần tới sự đồng thuận chứ không phải là dân chủ số đông trong xã hội bị chia rẽ (hay còn gọi là xã hội đa nguyên), thì việc trao toàn bộ quyền hành vào tay một cá nhân duy nhất rõ ràng là rất bất lợi cho các thỏa thuận chia sẻ quyền lực mang tính xây dựng. Hiến pháp Nam Phi tạm thời đã phần nào khắc phục vấn đề này bằng cách tạo ra một “bộ ba” lãnh đạo từ các bên đại diện cho hơn 80% cử tri. Sát cánh bên Tổng thống Mandela trong quá trình điều hành là hai Phó Chủ tịch, Thabo Mbeki của Đảng Đại hội Dân tộc Phi ANC và F.W. de Klerk của Đảng Dân tộc NP. Cơ chế chia sẻ quyền lực sáng tạo này tồn tại trong một hệ thống đại nghị có thể tạo ra sự khác biệt giữa dân chủ ổn định và vòng xoáy xung đột sắc tộc.

Shugart và Carey đã đưa ra “chế độ tổng thống-thủ tướng” để thay thế cho chế độ tổng thống thông thường. Trong các hệ thống này, sự hiện diện của thủ tướng sẽ làm giảm sự lạm quyền của tổng thống. Hơn nữa, tổng thống có thể giải tán quốc hội và kêu gọi kì bầu cử mới khi cuộc khủng hoảng xảy ra, điều này có thể giúp giảm thiểu các vấn đề của một nhiệm kì khó khăn. Tuy nhiên, vì tồn tại thể chế đa số quyết định, tương tự với chế độ tổng thống thông thường, chế độ tổng thống – thủ tướng cũng không hề phù hợp với các nền dân chủ của các nước tại khu vực nam châu Phi. Như Shugart và Carey đã lưu ý, “Vì nội các nằm trong vòng kiểm soát của Quốc hội, nên nội các sẽ không có tính đại diện hẹp cho các quyền lợi của tổng thống như một nội các tổng thống, tất nhiên trừ phi có hỗ trợ đa số trong quốc hội cho quyền lợi hẹp của tổng thống”.26

Khi kết quả của cuộc bầu cử ở Malawi, Namibia, Zimbabwe và Nam Phi được giải thích lại theo một hệ thống giả thuyết tổng thống – thủ tướng, không thể nghi ngờ gì về việc một hệ thống như vậy sẽ vẫn cho phép một đảng nắm quyền cai trị cả cơ quan hành pháp lẫn cơ quan lập pháp của chính quyền theo lối độc đoán về mặt sắc tộc. Sự hiện diện của nội các đa đảng theo luật định, như tại Nam Phi hiện thời, có thể làm dịu vấn đề, nhưng theo quan sát của Scott Mainwaring, cơ chế này cũng không hấp dẫn trong thực tế: “Chế độ tổng thống đa đảng có nhiều khả năng tạo ra các bế tắc hành pháp/lập pháp hơn hệ thống đại nghị, thậm chí là hơn cả chế độ tổng thống lưỡng đảng”.27 Bế tắc này dẫn tới nguy cơ về sự bất mãn lan rộng đối với chính phủ chia sẻ quyền lực mới này, và nó sẽ áp đảo bất cứ thành tựu hành pháp nào trong vấn đề thỏa hiệp dân tộc.

Có lẽ việc Cộng hòa Nam Phi bầu ra một chính phủ nghị viện với thủ tướng đứng đầu, và sau đó mới gán danh hiệu tổng thống cho vị lãnh đạo này là lối đi mang tính xây dựng nhất xứng đáng để tiếp tục theo đuổi trong tương lai.

Cùng với tính đại diện tỷ lệ toàn diện và những sắp xếp chia sẻ quyền lực giữa đa số và thiểu số trong nội các, đất nước này do đó cũng có được một vị lãnh tụ có khả năng đoàn kết dân tộc về một mối. Tính hợp pháp của Tổng thống Mandela có được là dựa trên cương vị lãnh đạo đảng nghị viện chiếm đa số và một nhánh hành pháp đại diện cho hơn 90% cử tri của ông – một nền tảng vững chắc hơn nhiều so với tính đa số tương đối đơn thuần của tổng thống được bầu cử trực tiếp.

Tìm kiếm các hệ thống ít khiếm khuyết nhất

Không có hệ thống bầu cử hoặc cơ chế hiến pháp nào khác là hoàn hảo. Nhiệm vụ của các nhà xây dựng hiến pháp là tìm ra hệ thống ít khiếm khuyết nhất và sau đó điều chỉnh hệ thống này sao cho phù hợp với nhu cầu của một nền dân chủ đang nổi lên, đạt được sự cân bằng giữa một quốc hội đại diện và một chính phủ thống nhất; một lá phiếu dễ hiểu và một dải lựa chọn rộng cho cử tri; một quốc hội có tính tỷ lệ và nhiều liên kết vững chắc giữa đại diện và các khu vực địa lí cụ thể. Mặc dù xây dựng hệ thống bầu cử chỉ là một mắt xích trong bộ máy hiến pháp phức tạp, nhưng một mắt xích bị hỏng sẽ có thể khiến toàn bộ cấu trúc rơi vào trạng thái đình trệ.

Xã hội bị chia rẽ và xã hội chưa từng trải qua nền dân chủ vững mạnh có thể đặc biệt nhạy cảm với sự bất ổn nếu việc xây dựng hệ thống bầu cử không đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

Tính đại diện. Nếu một hệ thống bầu cử muốn tối đa hóa tính hợp pháp và đảm bảo mức độ đồng thuận của cử tri với mọi hình thái chính phủ, hệ thống này buộc phải thực hiện ý muốn của toàn bộ, chứ không chỉ là đa số cử tri.

Khả năng tiếp cận. Cơ quan lập pháp phải có tính đại diện ở mức độ giúp người dân có cảm giác được tham gia vào tiến trình chính trị. Khi tất cả người dân cảm thấy rằng lá phiếu của họ tạo ra sự khác biệt, họ rất có thể sẽ gắng sức ủng hộ sự thay đổi của hệ thống thay vì ủng hộ các đảng và các tổ chức chống lại hệ thống gây ra sự bất ổn trong xã hội.

Tạo ra động lực cho các hành vi hòa giải. Hệ thống bầu cử phải thúc đẩy một môi trường thỏa hiệp và hòa giải, chứ không được phép làm trầm trọng thêm cuộc xung đột hiện tại. Điều này không đồng nghĩa với sự đồng thuận cưỡng ép, mà là sự công nhận lẫn nhau giữa các quan điểm đối lập.

Trách nhiệm. Hệ thống bầu cử phải phát huy cao độ trách nhiệm của chính phủ và các nghị sĩ với cử tri. Tầm ảnh hưởng của các cử tri lên đại diện của họ phụ thuộc vào cả kích thước của khu vực cử tri và phạm vi lựa chọn ứng viên của cử tri, chứ không phải chỉ là lựa chọn các đảng.

Khuyến khích các đảng liên nhóm. Triển vọng ổn định được tối đa hóa nhờ một hệ thống bầu cử có thể sinh ra các đảng phái được hình thành từ các quan điểm chung về các vấn đề và giá trị chính trị chứ không phải được hình thành từ các nhóm dân tộc, ngôn ngữ, hay địa lí.

Bằng chứng ban đầu từ khu vực nam châu Phi cho thấy hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ hoạt động tốt hơn các hệ thống đa số tương đối khác xét trên ba tiêu chí đầu tiên được liệt kê ở trên. Rõ ràng, trách nhiệm là một vấn đề được đặt ra khi áp dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ với danh sách đóng tại các đơn vị cử tri lớn; việc sử dụng các khu vực cử tri nhỏ hơn theo hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ đa thành viên liên kết với danh sách mở có thể giúp giảm thiểu mặt tiêu cực của vấn đề này. Cho đến nay, hầu như không có bằng chứng nào được đưa ra về sự khuyến khích hình thành các đảng liên nhóm khi áp dụng hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ hoặc đa số tương đối ở khu vực nam châu Phi, nhưng sự phát triển của các đảng liên nhóm rất có thể được tạo điều kiện tốt nhất bởi các danh sách đảng có nền tảng rộng và điều này lại cần thiết dưới hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ. Cuối cùng, những kinh nghiệm của Malawi, Zimbabwe và Nigeria cho thấy việc đầu tư toàn bộ sự kiểm soát hành pháp đáng kể vào tổng thống được bầu cử trực tiếp là mối đe dọa cho sự ổn định của một chính phủ đa đảng. Vì những lí do này, hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ – nghị viện là lựa chọn tốt nhất cho các nền dân chủ còn non nớt tại khu vực nam châu Phi cũng như cho các nước chưa thực hiện việc chuyển đổi sang dân chủ tại châu Phi như Angola, Mozambique, và Zaire.

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH: 

Bài tiểu luận này dựa trên một nghiên cứu được hỗ trợ bởi một tài trợ từ Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (SBR-9321864).

  1. Đọc Arend Lijphart, “Constitutional Choices for New Democracies,” Journal of Democracy 2 (Mùa đông 1991): 72–84; Guy Lardeyret, “The Problem with PR,” Journal of Democracy 2 (Mùa hè 1991): 30–35; Quentin L. Quade, “PR and Democratic Statecraft,” Journal of Democracy 2 (Mùa hè 1991): 36–41; Ken Gladdish, “The Primacy of the Particular,” Journal of Democracy 4 (Tháng 1 năm 1993): 53–65; Vernon Bogdanor, “Israel Debates Reform,” Journal of Democracy 4 (Tháng 1 năm 1993): 66–78; và Timothy Sisk, “South Africa Seeks New Ground Rules,” Journal of Democracy 4 (Tháng 1 năm 1993): 79–91.
  2. W. Arthur Lewis, Politics in West Africa (London: Allen and Unwin, 1965), 71, 72.
  3. Arend Lijphart, “Constitutional Choices for New Democracies,” 81.
  4. Timothy Sisk, “South Africa Seeks New Ground Rules,” 88.
  5. Guy Lardeyret, “The Problem with PR,” 35.
  6. Donald Horowitz, A Democratic South Africa? Constitutional Engineering in a Divided Society (Berkeley: University of California Press, 1991), 167.
  7. Arend Lijphart, “Constitutional Choices for New Democracies,” 74.
  8. Jonathan N. Moyo, Voting for Democracy: Electoral Politics in Zimbabwe (Harare: University of Zimbabwe Publications, 1992), 158.
  9. Jowie Mwiinga, “Chill for Chiluba,” Africa Report 39 (March–April 1994): 60.
  10. Phân tích theo sau được trình bày chi tiết hơn trong bài viết của Andrew Reynolds, “Re-running the South African and Malawian Parliamentary Elections Under Al- ternative Electoral System Formulae” (một bài nghiên cứu sẽ được trình bày tại hội thảo về “Bầu cử tại châu Phi” được tài trợ bởi United States Institute of Peace, Washington, D.C., tháng 5 năm 1995). Các kết quả được trình bày ở đây được tính toán dựa trên nền tảng các khu vực bầu cử một thành viên có kích thước bằng nhau tại chín tỉnh thành, và dữ liệu bầu cử từ 343 khu vực bầu cử được sử dụng trong bầu cử thực sự. Giả định rằng các ưu tiên bầu cử không bị ảnh hưởng lớn bởi các động lực khác nhau được cung cấp bởi các hệ thống bầu cử khác nhau.
  11. Vernon Bogdanor, What Is Proportional Representation? (Oxford: Martin Robertson, 1984), 44.
  12. Phạm vi mà hiến pháp tạm thời của Nam Phi mang tính đa nguyên có thể là tiêu điểm của một cuộc tranh luận quan trọng. Mặc dù phương pháp cấu thành một “chính phủ của hợp thể toàn quốc” có đặc điểm đa nguyên một cách kinh điển, các đảng đa số không có quyền phủ quyết ngăn chặn chính thức, và sự thiếu vắng sự chia sẻ quyền lực hành pháp trong bất kỳ một hiến pháp mới nào đều có thể khiến cho chính phủ có tính đa số hơn bản chất.
  13. Arend Lijphart, “Prospects for Power-Sharing in the New South Africa,” in Andrew Reynolds, ed., Election ’94 South Africa: The Campaigns, Results and Future Prospects (New York: St. Martin’s, 1994), 222.
  14. Arend Lijphart, “Constitutional Choices for New Democracies,” 81.
  15. Trong quá lập danh sách quốc gia và tỉnh thành, đảng ANC đã sử dụng hệ thống quota cho phép phụ nữ chiếm một phần ba số ghế.
  16. Trong số các nền dân chủ đã được thiết lập, chỉ bốn quốc gia bán đảo Scandinavi và Hà Lan có tỉ lệ nữ nghị sĩ cao hơn Nam Phi. Đọc Wilma Rule, “Women’s Underrepresentation and Electoral Systems,” PS: Political Science and Politics 27 (tháng 12 năm 1994): 689–92.
  17. Guy Lardeyret, “The Problem with PR,” 32–33.

  18. Guy Lardeyret, “The Problem with PR,” 32.

  19. Arend Lijphart, “Constitutional Choices for New Democracies,” 81.
  20. Editorial, Natal Witness (Pietermaritzburg), 18 tháng 8 năm 1994.

  21. Arend Lijphart, “Constitutional Choices for New Democracies,” 72.
  22. Matthew Shugart and John Carey, Presidents and Assemblies: Constitu- tional Design and Electoral Dynamics (New York: Cambridge University Press, 1992), 28–43.
  23. Ann Reid, “Conflict Resolution in Africa: Lessons from Angola,” INR For- eign Affairs Brief (Bureau of Intelligence and Research, U.S. Department of State, Washington, D.C., 6 tháng 4 năm 1993), 2.
  24. Ian Campbell, “Nigeria’s Failed Transition: The 1993 Presidential Elec- tion,” Journal of Contemporary African Studies 12 (1994): 182.
  25. Quoted in Lionel Cliffe et al., The Transition to Independence in Namibia (Boulder, Colo.: Lynne Rienner, 1994), 208.
  26. Matthew Shugart and John Carey, Presidents and Assemblies, 49–51.
  27. Scott Mainwaring, “Presidentialism, Multipartism, and Democracy: The Difficult Combination,” Comparative Political Studies 6 (tháng 6 năm 1993): 200.