Ken Gladdish

Ken Gladdish (mất năm 2003) là giảng viên ngành chính trị học so sánh châu Âu của Đại học Reading, Anh quốc, nơi ông là trưởng khoa chính trị học suốt bốn năm cho đến lúc ông nghỉ hưu vào năm 1994. Ông đã viết rất nhiều về Hà Lan, cũng như Bồ Đào Nha, chủ yếu về vấn đề tính đại diện, tính dân tộc, và khởi nguyên của khoa học chính trị. Bài viết này xuất hiện lần đầu trong số ra tháng 1 năm 1993 của Tạp chí Dân chủ.

***

Khoảng hơn ba thế hệ trước, nhà chính trị học nổi tiếng người Anh là Sir Henry Maine đã bàn đến một hiện tượng mà ông gọi là “chế độ dân chủ, một hình thức cực đoan của chính phủ nhân dân”. Ông viết không phải với tư cách một người bất đồng mà với tư cách một người đi tìm câu trả lời cho sự thành công của hiện tượng này, mà ông cho rằng “nó trỗi dậy là do đã khéo léo giới hạn những bốc đồng của dân chúng chứ không phải trao quyền tự chủ cho họ[1]. Luận điểm như vậy, trong bối cảnh ngày nay hiện lên với vẻ . Rất ít các chính phủ đương thời thấy cần thiết trong việc phản ứng lại từng sự dao động của dư luận quần chúng trong các cuộc đua nhằm xác định và hợp pháp hóa các giai đoạn cầm quyền của các chính trị gia cạnh tranh với nhau. Nhưng cách thức tiến hành những cuộc đua như vậy ra làm sao, mà về bản chất là phương pháp chuyển lá phiếu thành ghế quốc hội, vẫn gây ra rất nhiều tranh cãi.

Bằng chứng của vấn đề tranh cãi kinh điển này tồn tại xuyên suốt trong lịch sử chính trị dân chủ, từ thể chế dân chủ lâu đời ở Pháp và Anh, đến các nền dân chủ mới nổi ở Đông Âu và Trung Âu, và trong các nỗ lực xây dựng nền chính trị đa nguyên ở những quốc gia độc lập sau năm 1945 nhờ sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân châu Âu.

Trong cuộc tranh luận gần đây trên Tạp chí Dân chủ giữa Arend Lijphart, Guy Lardeyret, và Quentin L. Quade, ngay sau bài viết đặt vấn đề của Lijphart, giữa họ đã xác lập hai tư tưởng đối lập về hình thức bầu cử[2]. Lijphart ủng hộ tính tỷ lệ nghiêm ngặt trong việc phân bổ sự đại diện của quần chúng trong quốc hội. Hai nhà phê phán ông, Guy Lardeyret và Quentin L. Quade, đã chỉ ra những bất trắc tiềm ẩn trong việc tập trung vào việc hỗ trợ sự phát triển của các đảng phái vốn không thể kiểm soát được, và thay vào đó, hai ông ủng hộ hình thức bầu cử đa số tương đối. Tuy nhiên, lập luận của những người ủng hộ, dù ủng hộ hình thức bầu cử này hay hình thức bầu cử kia, vẫn hàm chứa một một chủ nghĩa hoàn hảo không tưởng, bởi tất thảy các lập luận mà họ đưa ra đều dựa trên một giả định cho rằng một hệ thống bầu cử có thể tiến hộ tới mức ưu việt hơn so với các hệ thống bầu cử khác dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Thực chất, vấn đề này đã được bàn đến trong một bài luận xuất hiện từ trước trên Tạp chí Dân chủ, của tác giả Larry Diamond. Trong bài viết “Ba nghịch lý của nền dân chủ”, Diamond đã gây sự chú ý bởi luận điểm “khả năng đại diện đối đầu với khả năng cai trị” và cho rằng: “Mỗi quốc gia phải tìm được con đường riêng để giải quyết mâu thuẫn mang tính phổ quát này”.[3]

Mục đích của tôi là mở rộng cuộc tranh luận rất nghiêm túc này, và tôi sẽ làm vậy theo ba cách: thứ nhất, đặt câu hỏi về sự quả quyết về các hệ thống bầu cử đã trình bày từ trước; thứ hai, hạn chế việc tách rời, một cách máy móc, hệ thống bầu cử khỏi chỉnh thể của một hệ thống chính trị; và thứ ba, xem xét một số ví dụ có thể đưa tới sự chính xác lớn hơn trong thẩm định các giá trị thay vì bấu víu vào sự cho phép dễ dàng của tình trạng chính trị nói chung.

Phạm vi của các công thức

Đầu tiên, sự lựa chọn không nằm gọn trong ranh giới của hệ thống đa số tương đối hay hệ thống đại diện tỷ lệ. Có một loạt các công thức đã được trình bày rõ ràng để mỗi một nhóm quốc gia có thể được phân loại riêng rẽ (sui generis)[4]. Ví dụ, khi quan sát một hệ thống vốn không đơn thuần tựa vào hình thức đa số tương đối (và phải lưu ý rằng các hệ thống đa số tương đối ngay từ đầu đã khác nhau ở những điểm rất quan trọng), chúng ta sẽ phải đối diện với những quy tắc rất đặc thù như hệ thống thành viên bổ sung (additional member system) của nền chính trị Đức, hình thức lá phiếu thay thế (alternative voting system) ở Úc, và hình thức lá phiếu chuyển nhượng đơn (single transferable voting system) ở Ireland[5]. Hơn nữa, ngay cả khi xem xét mục tiêu tỷ lệ cân xứng giữa số phiếu và số ghế, thì những trường hợp thực tiễn vẫn rất khác nhau, từ nền chính trị theo khu vực của Bồ Đào Nha, với một loạt biến thể tùy theo quy mô của khu vực bầu cử, đến hình thức bầu cử PR được áp dụng trên toàn quốc ở Hà Lan. Do đó, có một nguy cơ thực sự trong việc thiết lập một cuộc tranh luận mà ngay từ đầu đã giản lược rất nhiều những khái niệm cần thiết. Nhưng đó chỉ là một phần của vấn đề. Lijphart chắc chắn xứng đáng được tuyên dương bởi nghiên cứu rộng lớn mà ông đã thực hiện với những phép đo khách quan dành cho các kết quả của những hệ thống khác nhau. Tuy nhiên, đây là một sự khác biệt lớn so với nỗ lực khảo sát để quyết định lựa chọn xem giữa hai giải pháp bầu cử đâu mới là câu trả lời cuối cùng.

Điều này được đưa ra một cách rõ ràng bởi công sức của từng người trong ba nhà tranh luận ở trên. Có hai điểm khó khăn ở đây dường như không thể giải quyết. Vấn đề đầu tiên – và cũng là vấn đề mà cả ba ông đều thừa nhận – là không thể tách rời ảnh hưởng của hệ thống bầu cử khỏi những lực lượng có liên quan đến tổ chức xã hội theo thời gian. Thứ hai là hệ thống bầu cử cũng không thể đơn giản được lựa chọn theo kiểu người ta mở ngăn kéo và chọn một công thức nấu ăn. Hiện thực của mỗi quốc gia đương đại đều phụ thuộc vào hoàn cảnh và phản ánh cả một lịch sử trong mọi biểu hiện của nó, cụ thể hơn là mọi hệ quả của các mô hình cụ thể trong quá trình vận động chính trị.

Ở Hà Lan, trường hợp mà Lijphart hiểu rất rõ, hình thức bầu cử PR được áp dụng trên toàn quốc bởi rất nhiều lý do.

Một trong các lý do nổi bật đó là sự thất bại trong nhận thức về việc hệ thống đa số tương đối không thể tạo ra kết quả thống nhất, do bản chất rời rạc trong cạnh tranh chính trị ở Hà Lan khởi phát từ thập kỷ thứ hai của thế kỷ XX. Tất nhiên, chúng ta cũng không thể vì thế mà dứt khoát kết luận rằng lựa chọn cuối cùng luôn do hoàn cảnh quyết định, bởi vì đến nay tranh luận vẫn tiếp diễn ở Hà Lan về tính hiệu quả và mong muốn đối với hệ thống PR trên toàn quốc. Nhưng trường hợp này vẫn cho thấy việc lựa chọn không phụ thuộc vào hoàn cảnh là hoàn toàn phi thực tế.

Hơn nữa, ngay cả khi người ta chứng minh được (mà những bằng chứng trước mắt của chuỗi tranh luận này còn xa mới làm được điều đó) rằng hệ thống PR hoàn toàn ưu việt hơn hệ thống đa số tương đối, hoặc ngược lại, thì cũng không có cơ sở để khẳng định rằng hệ thống tốt hơn ấy nên được thông qua rộng rãi.

Tất nhiên, như một nỗ lực nghiên cứu thực tiễn trong ngành chính trị học so sánh, người ta vẫn có thể khám phá cái phạm vi mà ở đó các hệ thống bầu cử có thể đóng một vai trò quan trọng về hiệu quả của các thể chế chính trị khác nhau. Nếu các phát hiện tổng quát này có tính thuyết phục, thì chắc chắn công trình này sẽ trở thành một tài liệu tham khảo đối với các chính trị gia và những người phải quyết định các “quy tắc” chính xác của “trò chơi” bầu cử trong quốc gia của họ. Điều này cũng nhấn mạnh lại rằng mỗi chính thể vẫn là độc nhất, và do đó phải tự tìm ra công thức riêng cho mình.

Ở nước Anh ngày nay, người ta đã tái khởi động tranh luận về sự khôn ngoan của việc duy trì hệ thống đa số tương đối dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên. Nhiều luồng tư tưởng thể hiện rõ quan điểm thuần ủng hộ hoặc phản đối, nhưng mối quan tâm chủ đạo vẫn là liệu hệ thống đa số tương đối “đơn giản” vẫn có thể tạo ra sự luân phiên cầm quyền hợp lý của các đảng phái trong chính phủ hay không. Nếu Đảng Bảo thủ gần đây không giành được bốn chiến thắng liên tiếp, và tạo nên cơ sở của nỗi ưu tư đặc biệt này, thì cuộc tranh luận đã không diễn ra sôi nổi như vậy trong chương trình nghị sự. Vậy nên, mối quan tâm hiện nay phản ánh một đặc điểm bị hoàn cảnh chi phối được thể hiện qua các kết quả bầu cử gần đây. Điều quan trọng nhất là không có sự đồng thuận trong việc tìm kiếm phương án thay thế cho hệ thống đa số tương đối truyền thống, bởi mỗi trường hợp chuyển đổi hình thức bầu cử đều có ảnh hưởng tới sự phức tạp của sự đại diện và chính phủ[6]. Có vẻ như, trong cái nhìn của Thượng đế, có một giải pháp bầu cử “hoàn hảo” cho nước Anh. Nhưng chúng ta không biết nó là gì, và ngay cả khi chúng ta biết, có thể có những cái giá mà các nhóm chính trị nòng cốt ở Anh chưa sẵn sàng trả đê đạt được nó.

Điểm thứ hai, cũng liên quan đến cái giá phải trả, là một tham số không thể bỏ qua khi chúng ta xét đến lý do tại sao những chính trị gia hoặc có hoặc không chấp nhận những thỏa thuận cụ thể. Bởi vì có một cơ chế lưỡng cực chính trị mang tính nền tảng hiện diện xuyên suốt mọi cuộc thảo luận về cách thức lá phiếu quyết định việc phân phối ghế trong cơ quan lập pháp: trong các thể chế dựa trên chính quyền nhân dân, người dân vừa cần được đại diện trong chính quyền, lại vừa cần được chính quyền cai trị. Trong mỗi nền dân chủ, mối quan hệ hợp lý giữa hai nhu cầu này phải được thiết lập; rõ ràng là các giải pháp được lựa chọn ở những quốc gia khác nhau sẽ khác nhau đáng kể.

Tuy nhiên, có một nguyên tắc chung về khác biệt căn bản giữa hệ thống đa số tương đối và hệ thống đại diện tỷ lệ mà chúng ta luôn có thể khẳng định dứt khoát, đó là: hệ thống đa số tương đối có xu hướng giới hạn đáng kể tính đại diện trong quốc hội ở mức hai đảng, tạo điều kiện để dẫn đến chính phủ một đảng cầm quyền, còn hệ thống đại diện tỷ lệ, tùy thuộc vào những giới hạn có thể được đặt ra, đưa ra các đại diện pháp lý cho tất cả mọi ứng cử viên. Tựu trung, hệ thống đa số tương đối sẽ hạn chế khả năng phân chia lập pháp; còn hệ thống đại diện tỷ lệ thúc đẩy khả năng này.

Trường hợp Hà Lan, Pháp, và Đức

Dựa trên việc đã nghi vấn các nền tảng mà cuộc tranh luận trong bài này được tiến hành trên đó, bây giờ tôi sẽ cố gắng chứng minh bằng các trường hợp cụ thể chứ không bằng lập luận lý thuyết. Chúng ta hãy bắt đầu với trường hợp Hà Lan mà tôi đã đề cập ở trên. Ngay khi quốc gia này bắt đầu áp dụng phổ thông đầu phiếu, Hà Lan đã thay thế hệ thống bầu cử theo các khu vực bầu cử bằng một hệ thống PR được áp dụng trên toàn quốc. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thay đổi này là xu hướng của quá trình vận động chính trị, nghĩa là cuộc cạnh tranh cho những chiếc ghế một thành viên đã trở nên không thể kiểm soát được[7]. Vào năm 1914, năm nhóm chính trị nòng cốt vốn đang cạnh tranh ngày càng căng thẳng trên cơ sở quốc gia, đã bất ngờ xây dựng một liên minh để huy động đa số cử tri, bởi nếu chỉ một trong năm nhóm này thì không thể giải quyết vấn đề khả năng đại diện nguyện vọng của nhân dân. Vậy nên, kịch bản tất yếu là họ phải thông qua một số hình thức bầu cử khác cho cuộc cạnh tranh cấp quốc gia.

Lựa chọn áp dụng một công thức bầu cử PR trên toàn quốc là một lối ra cho bài toán sức mạnh của mọi đảng phái với cái giá phải trả là liên kết trực tiếp giữa cử tri và đại diện của họ ở quốc hội. Cái giá này không hề nhỏ, các cuộc tranh luận chính trị vẫn đang tiếp diễn ở Hà Lan về nhu cầu giải quyết rốt ráo vấn đề liên kết, vốn được đặt ra một cách quyết liệt từ nửa sau thập niên 1960. Dưới hệ thống bầu cử PR áp dụng trên toàn quốc, các nghị sĩ người Hà Lan hoàn toàn không có đơn vị cử tri và các cử tri Hà Lan cũng không có người đại diện địa phương trong cơ quan lập pháp. Theo như một số nhà bình luận đã giải thích, hiện trạng này đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối với việc thực hiện các chính sách của quốc gia[8].

Còn có một đòi hỏi khác nữa là cơ chế xác nhận tiềm lực của một đảng phái không hề có giới hạn tối thiểu, dẫn đến kết quả là một cơ quan lập pháp phân mảnh đến độ mà chính phủ gần như mạo danh[9], được thành lập sau một sự trì hoãn đáng kể và hoàn toàn không phản ánh nguyện vọng ban đầu của cử tri. Nhưng vì rất nhiều lý do khác nhau, mà điều này dường như không không làm gián đoạn tính liên tục của chính phủ[10]. Nhưng các lý do hầu như xuất phát từ thực tiễn chính trị của Hà Lan và một thứ mà không phải người ta lúc nào cũng đủ can đảm để nói đến – văn hóa Hà Lan. Đối với những nền chính trị khác, một quá trình thành lập nội các lâu đến bất thường, và thi thoảng kèm theo sự thành lập chính phủ một cách đau đớn mà người dân không ngờ tới bởi các nhà lãnh đạo đảng phải kiêm luôn nhiệm vụ của nữ hộ sinh khi các cuộc bầu cử bắt đầu, hoàn toàn có thể gây ra sự xáo trộn và bất mãn trên diện rộng.

Đến với trường hợp của nước Pháp, vốn đã được thảo luận rất nhiều, chúng ta tiếp tục nhìn thấy những trục trặc khác. Mặc dù việc phân loại cho chính xác hệ thống bầu cử kế tiếp ở Pháp đã trở thành một chuyên đề hàn lâm trong chính trị học, rõ ràng dưới nền Đệ ngũ Cộng hòa, các ghế trong cơ quan lập pháp được xác định bởi lá phiếu trong lần bầu cử thứ hai của hệ thống bầu cử một thành viên[11]. Giả thuyết đó được thể hiện một cách rõ ràng hơn bằng những gì diễn ra sau khi hình thức bầu cử PR chính thức được áp dụng trên toàn nước Pháp trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1986. John Frears cho rằng chuyển biến này “đã tạo ra một cơn bão trong giới tinh hoa chính trị, sự thờ ơ trong công chúng, và những cam kết từ chính phủ mới để thoát khỏi chuyện này một lần nữa[12]. Trong bối cảnh đó, Roy Pierce và Thomas Rochon cho rằng sự kiện này “được giải thích rộng rãi như một động thái nhằm ngăn chặn thảm họa bầu cử gây ra của đảng Xã hội Pháp, trong viễn cảnh hai lực lượng cực hữu của nền chính trị Pháp cùng giành được phần lớn số ghế trong Quốc hội[13].

Trong sự kiện này, quả thực lực lượng cánh hữu đã đảm bảo được vị thế trong các cơ quan lập pháp. Đảng Xã hội đã không bị đánh bại, mặc dù họ bị mất một phần tư số ghế. Tuy nhiên, diễn biến khiến dư luận chú ý nhất là việc đảng Mặt trận Quốc gia của Jean–Marie Le Pen đã có thể đảm bảo được số ghế tương đương số ghế của đảng Xã hội. Trong khi đó, theo Frears, “Nếu hệ thống bầu cử hai vòng được duy trì, đảng Mặt trận Quốc gia sẽ hầu như không thể giành được ghế nào trong quốc hội mặc dù đạt được số phiếu bằng với đảng Xã hội[14].

Đến đây chúng ta đối diện với luận điểm thường được viện dẫn để phản đối hình thức bầu cử PR, ngay cả với trường hợp còn khá trung tính như cơ chế định vị danh sách phòng ban của Mitterand. Lardeyret kết luận về sự thành công của đảng Mặt trận Quốc gia, cũng như sự trỗi dậy của những đối thủ cực đoan của lực lượng này, trong luận điểm: “Một nền chính trị bất cập như vậy rõ ràng là hệ quả của hình thức bầu cử PR”. Nhưng câu hỏi thực sự ở đây lại là một câu hỏi khác, đó là: loại trừ động cơ của đảng Xã hội, giải pháp nào sẽ mang lại công thức bầu cử tốt nhất để đối phó với không chỉ mối đe dọa của chủ nghĩa cực đoan, mà với tất cả trường hợp khác trong nền chính trị Pháp giữa thập niên 1980?

Như tôi đã khẳng định từ trước, mọi hệ thống bầu cử đều có cái giá của nó – và điều này đã không được nhấn mạnh bởi những nhà nghiên cứu trước đây. Trường hợp của nước Pháp có thể rất đặc biệt với người ngoài cuộc khi những kẻ nắm thực quyền dường như còn có thể xáo trộn hệ thống bầu cử theo ý muốn (Hy Lạp cũng là một trường hợp tương tự). Trong khi trên thực tế, hành động thao túng như vậy lại có thể được hình dung như một nỗ lực đáng tuyên dương để ứng phó với những cơn địa chấn chính trị, có nhiều bằng chứng cho thấy rằng không có nhiều hành động phản xạ đơn thuần như vậy lại có tác dụng ở cả hai nước (Pháp và Hy Lạp).

Rõ ràng, các vấn đề thâm căn sẽ nảy sinh khi người ta phải đối mặt với hệ quả của việc lựa chọn một giải pháp bầu cử nhất định. Một trường hợp đã rất thu hút sự chú ý của dư luận, với tư cách là kết quả của một quá trình chuyển đổi hệ thống bầu cử trong nhóm các nước sử dụng hệ thống đa số tương đối, là cách thức bầu cử bổ sung thành viên (additional member system) của nước Đức, cơ chế này được thông qua ngay thời điểm hình thành nhà nước Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 1949. Cách thức này vừa đảm bảo được cả khả năng đại diện ý chí của từng đơn vị bầu cử đối với một hệ thống đa số tương đối, vừa đảm bảo được khả năng đại diện cho ý chí của những đảng phái mạnh trên toàn quốc. Cấu trúc áp dụng một giới hạn cho cả cử tri và đảng phái được hỗ trợ toàn quốc, theo đó một đảng phải đạt được ít nhất 5% tổng số phiếu biểu quyết để đảm bảo ghế ngồi trong Quốc hội Liên bang Đức (Bundestag). Ở ngưỡng này, thực tế thường nhiều hơn một chút, Đảng Dân chủ Tự do (Free Democratic Party – FDP) đạt được thường xuyên, để họ vẫn đảm bảo được vị trí quan trọng đứng giữa thế lực vượt trội của Đảng Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo (Christian Democratic Union – CDU) và Đảng Dân chủ Xã hội (Social Democratic Party – SPD). Như Gordon Smith đã giải thích: “Chiến lược đảm bảo vị thế giữa hệ thống đảng phái của Đảng Dân chủ Tự do… đã mang lại cho lực lượng này một sức nặng vượt quá sự tương xứng với sự hiện diện trước Quốc hội Đức của nó.”[15] Bằng vị thế quan trọng này, Đảng FDP đã luôn có thể tạo ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và hoạt động của chính phủ Đức. Thực sự là tổ chức này đã có thể xáo trộn toàn bộ kếu cấu của chính phủ Đức mà không cần đến lợi thế lực lượng trong quá trình bầu cử, đặc biệt là khi FDP từ bỏ liên minh với SPD vào năm 1982 và mở ra liên minh với CDU.

Dạng đòn bẩy không cân xứng lấy cơ sở là “điểm tựa” tuy nhỏ nhưng chắc chắn trong chiến lược của đảng FDP thực chất không phải là một đặc trưng vốn có trong hệ thống bầu cử PR. Ví dụ, thủ thuật chính trị này ít xuất hiện ở các nước Bắc Âu. Hơn nữa, ngay cả khi những đảng phái như vậy có tồn tại, sức mạnh của họ chủ yếu đến từ quy mô cụ thể của khả năng huy động chính trị của họ (nghĩa là khả năng tạo ra tình huống chính trị khiến ngay cả đảng phái của lực lượng đa số cũng không thể được hình thành nếu không có sự đồng thuận của các lực lượng thiểu số), so với điểm tựa từ đặc trưng của hệ thống bầu cử PR. Nhưng hệ thống đa số tương đối, với xu hướng cách ly tác động của phe thứ ba, luôn khiến cho những đảng phái nhỏ như vậy ít có khả năng trỗi dậy, đó là lý do tại sao đến giờ nước Anh vẫn không mặn mà với hệ thống bầu cử PR.

Những thể chế mới ở Trung Âu

Nếu chuyển đề tài từ những thể chế đã hoàn thiện ở Tây Âu đến những thể chế còn trong thời kì phôi thai ở Trung Âu, chúng ta sẽ thấy một loạt trường hợp rất thú vị. Ở Cộng hòa Tiệp Khắc (bao gồm Séc và Slovakia), các cuộc bầu cử hậu cộng sản đã được tổ chức vào tháng 6 năm 1990 cho cả lưỡng viện của Quốc hội Liên bang và Hội đồng quốc gia cho từng quốc gia (Séc và Slovakia). Một hệ thống bầu cử dựa trên danh sách đảng đã được thông qua trong cả ba trường hợp, nhưng vẫn có nhiều bận tâm về hai vấn đề[16]. Một là nỗi sợ hãi trước sự tan rã của cơ quan lập pháp trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh (thế giới thứ nhất và thế giới thứ hai); hai là nỗi lo về những bộ máy đảng phái quá tự phụ, một đặc trưng đã có từ trước đó. Vậy nên đã có phương sách được thông qua để ngăn những khả năng như vậy. Các phương sách bao gồm giới hạn 5% số phiếu cho các đảng phái trong nghị viện Liên bang và Quốc hội Czech, và một điều khoản hỗ trợ cho phương pháp bầu cử ưu tiên trong danh sách đảng phái (preferential voting), dù thực tế còn phức tạp hơn nhiều.

Siêu tan rã chính trị đã thực sự tránh được, mặc dù diễn tiến này đạt được là do phần lớn công lao của Diễn đàn Công dân (Civic Forum) trong nỗ lực kêu gọi sự ủng hộ rộng rãi dành cho một phong trào chuyển tiếp chính trị gắn bó chặt chẽ với Cách mạng Nhung (Velvet Revolution)[17]. Đảng Diễn đàn Công dân đã đạt được khoảng hai phần ba số ghế trong mỗi viện của Quốc hội Liên bang cũng như trong Hội đồng Quốc gia Czech.

Mặc dù từ trước đã có những lời tiên đoán từ những cuộc thăm dò và giới bình luận, kết quả của cuộc bầu cử Quốc hội Liên bang, được tổ chức vào tháng 6 năm 1992, đã thể hiện sự hợp nhất của những liên minh chính trị đứng đầu cộng đồng Czech và Slovak (Đảng Dân chủ Công dân và Đảng Phong trào vì Slovakia Dân chủ)[18]. Tuy nhiên, cũng chính quá trình hợp tác này đã thúc đẩy sự chia rẽ sắp đến của một nhà nước liên bang 74 năm tuổi thành nhà nước Cộng hòa Czech và Slovakia riêng biệt. Vậy nên Hindsight tiết lộ rằng sự tan rã đảng phái không đáng sợ bằng sự chia cắt của quốc gia. Mặc dù vậy, thật không hợp lý khi cho rằng hệ thống được thiết lập nhằm tạo ra ít sự vững chắc hơn cho 2 bộ phận của liên bang (Séc và Slovakia) lại có thể mang đến cách tiếp cận có tính xây dựng hơn.

Trường hợp của Ba Lan, dù đã được cảnh báo, là một ví dụ rõ rang hơn về trục trặc trong cơ chế bầu cử. Tại đây, cuộc bầu cử tháng 10 năm 1991 của hệ thống nghị viện Sejm đã dẫn đến sự xuất hiện của 29 đảng trong quốc hội, trong đó đảng lớn nhất chỉ thu được khoảng 13% tổng số phiếu bầu và khoảng 14% tổng số ghế[19].  Lượng cử tri đi bầu cũng chỉ chiếm 42%. Cuộc bầu cử này được tổ chức trên cơ sở của hệ thống đại diện tỷ lệ, nhưng không có ngưỡng giới hạn, 37 đơn vị bầu cử, mỗi đơn vị bầu cử có từ 7 đến 17 ghế. Hơn 15% tổng số ghế (69 trong 460) được phân bổ trên toàn quốc với một ngưỡng 5% và một yêu cầu hỗ trợ từ ít nhất năm đơn vị bầu cử[20]. Phải mất gần hai tháng đàm phán chuyên sâu nội bộ trước khi một chính phủ mới có thể được hợp thành, và tiếp đến là một loạt thay đổi trong chính phủ.

Trường hợp của Czech và Ba Lan là những ví dụ điển hình cho sự bấp bênh, không ổn định trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ nền chính trị độc đảng sang nền chính trị đa đảng. Nhưng mỗi giai đoạn chuyển tiếp như vậy đều có vấn đề và đặc thù riêng, và các cơ chế bầu cử vẫn chỉ là một góc trong bức tranh toàn cảnh của cạnh tranh chính trị. Ở Hungary, bước tiến của quá trình chuyển đổi chính trị để thoát khỏi hệ thống độc đảng được xem là diễn ra vào khoảng giữa của cuộc tranh đấu kéo dài của Đảng Công đoàn Đoàn kết (Solidarity) ở Ba Lan và cuộc Cách mạng Nhung bùng lên trong khoảnh khắc ở Prague. Hơn ba năm đã trôi qua kể từ khởi điểm của cuộc tranh luận dữ dội, của những quá trình thương lượng và các công việc tổ chức vào giữa năm 1987, tới cuộc bầu cử quốc hội đa đảng đầu tiên trong tháng 4 năm 1990, khi Hungary chính thức từ bỏ chủ nghĩa cộng sản và đặt ra hiến pháp mới.

Các cuộc hội nghị bàn tròn đã diễn ra vào mùa thu năm 1989 nhằm xác lập hình thức của hệ thống bầu cử cho một cuộc bầu cử tự do đầu tiên ở nhà nước Hungary thời hậu cộng sản. Một nhà phân tích chính trị Hungary đã tổng kết tình hình như sau:

“Các đảng truyền thống (Tập hợp Tiểu thương (Smallholders), Dân chủ Xã hội (Social Democrats), Dân chủ Thiên Chúa giáo (Christian Democrats)) ủng hộ hệ thống đại diện tỷ lệ dựa trên danh sách đảng phái, từng được sử dụng trong năm 1945 và 1947. Tuy nhiên, tâm trạng chung trên cả nước, đặc biệt là của các nghị sĩ trong quốc hội, khiến chúng ta không thể bãi bỏ đại diện cử tri ở các địa phương. Bởi vì không có phong trào dân vận mạnh mẽ đằng sau các đảng chính trị mới thì tính hợp pháp của đảng đó cũng bị hạn chế. Giới trí thức địa phương và các công dân không muốn để cho quá trình bầu cử bị thao túng hoàn toàn bởi bộ máy quan liêu. Các cuộc tranh luận căng thẳng và tâm trạng chung đó  khiến cho việc thiết lập hệ thống bầu cử dựa trên nguyên tắc chung thống nhất là vô cùng khó khăn. Do đó hệ thống bầu cử mới phải là sự kết hợp của các nguyên tắc và cách thức khác nhau. Tổng số 386 ghế ngồi của Quốc hội độc viện Hungary đã được chia thành ba loại: 176 ghế được bầu trong nhóm các đơn vị bầu cử một thành viên, 152 ghế được bầu trong nhóm sử dụng hình thức bầu cử dựa trên danh sách đảng phái, và 58 ghế được bầu bởi hình thức bầu cử dựa trên danh sách đảng phái toàn quốc.”[21]

Trong khu vực bầu cử một thành viên, người ta sẽ cần đến lá phiếu ở vòng bầu cử thứ hai nếu không có ứng cử viên nào nhận được đa số phiếu tuyệt đối (trên 50%) ở vòng đầu tiên. Ở vòng bầu cử thứ hai, hình thức bầu cử đa số tương đối sẽ hạ màn cuộc bầu cử. Số ghế dựa trên danh sách đảng phái theo khu vực và số ghế dựa trên danh sách đảng phái quốc gia đều được áp dụng giới hạn 4%. Toàn bộ công thức này được lập ra là để ngăn chặn việc kết bè cánh. Nhưng rõ ràng nhìn vào cách thức này thì giới cử tri không mấy ấn tượng, và hầu như không có khu vực bầu cử nào xác định được kết quả trong vòng bầu cử đầu tiên. Do sự phức tạp của các quy định bầu cử, sẽ rất khó để xác định kết quả có thực sự phản ánh đúng tỷ lệ dựa trên tỷ số giữa ghế ngồi và lá phiếu trong vòng bầu cử đầu tiên hay không. Tuy nhiên, dẫu sao họ cũng đã thành lập được một Quốc hội với sáu đảng, thiết lập được một liên minh đa số hình thành bởi sự kết hợp của đảng lớn nhất và hai đảng lệ thuộc.

Ưu điểm và khuyết điểm

Những trường hợp tôi vừa trình bày nói lên rằng nếu lấy một chính phủ ổn định, đoàn kết và hiệu quả thì những hình thức bầu cử dựa trên cơ sở PR có xu hướng tạo ra kết quả không phải là tốt nhất. Tuy nhiên, không vì vậy mà chúng ta có thể kết luận một cách đơn giản đến ngớ ngẩn rằng PR luôn là lựa chọn sai. Hãy nhìn vào việc hình thức bầu cử PR có thể phát huy hiệu quả trong một số bối cảnh nhất định của các quốc gia (chẳng hạn như Na Uy, Thụy Điển và Hà Lan), và hệ thống bầu cử đa số tương đối (điển hình là ở Anh) thể hiện các khiếm khuyết chết người

Nền chính trị Anh, giống như Hoa Kỳ, là vùng đất của những đơn vị bầu cử một thành viên hợp pháp và sử dụng nguyên tắc kẻ-chiến-thắng-có-tất-cả trong các cuộc bầu cử. Để giành chiến thắng, một ứng cử viên không cần phải đảm bảo chiếm đa số phiếu bầu trong bầu cử. Tất nhiên đó sẽ là trường hợp chỉ có hai ứng cử viên cạnh tranh. Tuy nhiên, trong thực tế, ba hoặc nhiều ứng cử viên thường cạnh tranh trong hầu hết khu vực bầu cử ở Anh. Các ứng cử viên do đó có thể được lựa chọn với chỉ hơn một phần ba số phiếu bầu ở những nơi có ba ứng cử viên, hoặc chỉ hơn một phần tư ở những nơi có bốn ứng cử viên.

Có hai vấn đề nghiêm trọng phát sinh trong hệ thống bầu cử kiểu Anh. Vấn đề đầu tiên, và cũng là một trong những vấn đề phổ biến nhất thường được trích dẫn bởi các nhà phê bình, là hệ thống này thiếu sự đảm bảo tỉ lệ cân xứng giữa tổng số phiếu bầu cho danh sách đảng phái trên toàn quốc và số ghế trong quốc hội. Luôn luôn là đảng yếu nhất trong ba đảng quốc gia quan trọng, đảng Dân chủ Tự do (trước đây là đảng Tự do), chịu thiệt nhiều nhất. Cuộc bầu cử quốc hội tháng 4 năm 1992 là một kịch bản khá điển hình, đảng Dân chủ Tự do đạt được 17,8% trong tổng số phiếu quốc gia, nhưng chỉ giành chiến thắng đa số tương đối tại 20 khu vực bầu cử, nghĩa là họ chỉ đảm bảo được 3% số ghế trong Hạ viện. Bởi vì hệ thống đa số tương đối không được xây dựng để đảm bảo tính tỉ lệ, rất hiếm khi xảy ra trường hợp số phiếu và số ghế cân bằng nhau, ngay cả với hai đảng lớn nhất[22]. Mặt khác, hệ thống này luôn tạo ra chính phủ một đảng cầm quyền. Trong tất cả các cuộc bầu cử được tổ chức tại Anh kể từ năm 1945, chỉ có một lần duy nhất nó không cho ra kết quả với một đảng phái chiếm ưu thế tuyệt đối (là cuộc bầu cử tháng 2 năm 1974 đã đưa Harold Wilson đến số 10 đường Downing[23] với tư cách là người đứng đầu của một liên minh giữa Đảng Lao động và Đảng Tự do).

Lời chỉ trích ít được nhắc tới hơn về hệ thống bầu cử kiểu Anh nhấn mạnh đến sự thờ ơ trong phần lớn các cử tri, những người cho rằng họ có bỏ phiếu hay không cũng chẳng ảnh hưởng gì. Vào tháng 4 năm 1992, chỉ có 52 trong số 651 ghế trong quốc hội được chuyển từ đảng này sang đảng khác. Và có thể chỉ thêm 50 ghế nữa thôi là gây ra sự khó chịu trong toàn cảnh. Do đó, có khoảng hơn 500 ghế là hầu như không thay đổi; đây là hiện tượng luôn xảy ra trong mỗi cuộc bầu cử. Trong một hệ thống bầu cử hoàn toàn cân xứng về tỉ lệ giữa số phiếu và số ghế, tất cả các phiếu sẽ luôn có khả năng phân phối lại số ghế. Mặc dù có lẽ sẽ không có thay đổi tổng thể đến chấn động xuất hiện ngay giữa hai lần bầu cử, nhưng một cấu trúc công bằng sẽ đảm bảo khả năng biện minh tốt hơn cho hoạt động bầu cử.

Từ cách nhìn chỉ quan tâm một cách thuần túy đến quá trình chuyển đổi tương xứng từ phiếu bầu thành số ghế, một hệ thống bầu cử với tỷ lệ cân xứng có thể được tạo dựng, ít nhất về nguyên tắc, để đảm bảo những lợi ích của nền dân chủ. Nếu đảng phái là phương tiện duy nhất để xác lập khả năng đại diện nhân dân, và nếu chính phủ là nền tảng trong vấn đề này, như là trong tất cả các hệ thống nghị viện hợp pháp, và phụ thuộc vào sức mạnh của đảng phái trong cơ quan lập pháp, dường như chúng ta còn rất ít lí luận khả dĩ biện minh cho bất kỳ hệ thống nào thu hẹp phạm vi lựa chọn bầu cử. Tuy nhiên, trong thực tế, có những lập luận đáng kể, cả khát quát lẫn cụ thể, chống lại hệ thống đại diện tỷ lệ.

Lập luận phổ biến nhất trong số này nhấn mạnh mối đe dọa mà kết quả bầu cử theo hình thức PR có thể gây ra cho sự đoàn kết trong chính phủ. Quá trình hình thành một chính phủ đại chúng sau khi một cuộc bầu cử với tỷ lệ cân xứng đã tạo nên hệ thống cơ quan lập pháp phân mảnh gây ra rất nhiều khó khăn khác nhau. Vấn đề đầu tiên là sự trì hoãn thời gian thành lập nội các do thời gian thương lượng nội bộ kéo dài. Tại Hà Lan, như chúng ta đã thấy, quá trình thành lập nội các bị trì hoãn đã trở thành một thông lệ nhưng không phải là một đặc điểm quá phiền hà của nền chính trị quốc gia. Một ví dụ đáng lo ngại hơn về sự chậm trễ trong việc hình thành nội các là trường hợp nước Bỉ gần đây, nơi mà phải sau 5 tháng tính từ cuộc bầu cử quốc hội được tổ chức vào tháng 11 năm 1991 thì chính phủ mới được thành lập. Hiện tượng tê liệt nghiêm trọng như vậy không thể được đơn thuần quy kết cho hình thức bầu cử PR, tất nhiên điều đó cũng không có nghĩa rằng một hệ thống đa số tương đối sẽ tốt hơn hẳn cho trường hợp nước Bỉ. Nhưng đây vẫn là trường hợp cho thấy một nền chính trị phân mảnh phát sinh những giai đoạn phiền hà, tiềm ẩn rủi ro như thế nào.

Vấn đề thứ hai phát sinh khi các liên minh kỳ quặc được tạo ra hoàn toàn từ mục đích vụ lợi, điển hình là sự kết hợp giữa Đảng Xã hội Bồ Đào Nha (Portuguese Socialist Party) với đối thủ truyền kiếp của nó là Đảng Trung tâm Dân chủ Xã hội (Social Democratic Center Party), trong giai đoạn 1977–1978. Điều thú vị nhất trong trường hợp Bồ Đào Nha là thông qua chính hệ thống đại diện tỉ lệ (dựa trên danh sách đảng phái ở những đơn vị bầu cử đa dạng về quy mô) mà người ta lại tạo ra được một chính phủ đại chúng một đảng cầm quyền sau cuộc bầu cử năm 1987 và 1991[24].

Vấn đề thứ ba nổi lên khi chứng minh được rằng hoàn toàn không thể thành lập một chính phủ đa số, và kết quả là phải thành lập chính phủ thiểu số. Các trường hợp đáng chú ý là nhóm nước Scandinavia, điển hình là Đan Mạch, với chỉ ba chính phủ đa số được thành lập từ năm 1945, cho thấy rõ những đặc trưng của hiện tượng thiếu minh bạch này. Ba Lan hiện nay cũng là một trường hợp đáng chú ý.

Một vấn đề khác nảy sinh từ sự hình thành liên minh trong một cơ quan lập pháp phân mảnh đó là trách nhiệm với cử tri khi liên minh chỉ hình thành sau khi cuộc bầu cử kết thúc. Có rất nhiều bình luận về việc này trong trường hợp đặc thù của Hà Lan[25]. Các tranh luận ở đây xoay quanh hai chủ đề. Đầu tiên là các cử tri trong hoàn cảnh như vậy không thể biết được đầy đủ hệ quả của sự lựa chọn đảng phái của họ. Vấn đề này có thể được chấp nhận bởi quan điểm cho rằng thực chất trong tất cả các hệ thống bầu cử, cử tri đều không thể chắc chắn được kết quả chính xác của lá phiếu của mình. Vấn đề thứ hai – chính những liên minh được thành lập một cách bất ngờ như vậy lại không bảo đảm được trách nhiệm dân chủ với người dân – luận điểm này lại rất khó để bác bỏ vì nó hướng thẳng vào cốt lõi của khái niệm phổ biến về chính quyền nhân dân. Quá trình kết nối hai hoặc nhiều đảng phái, mà mỗi phe trong đó lại đại diện cho một nguyện vọng riêng của những cử tri của họ, trong khi chính họ lại không nắm chắc được nội dung của những thỏa thuận ngầm này, rõ ràng đặt ra câu hỏi thích đáng về tính hợp pháp của chính phủ.

Rõ ràng trường hợp Hà Lan cũng minh họa cho vấn đề này, và cả trường hợp nước Đức, nơi những đòn bẩy chính trị mạnh mẽ đã giúp một số đảng phái nắm được quyền lực ở trung tâm. Các đảng mạnh nhất ở Hà Lan, hợp nhất kể từ năm 1975 theo tuyên ngôn của Đảng Christian Democratic Appeal, áp dụng hầu hết những thủ thuật vận động liên minh ngầm trong chính trị của phần lớn thế kỷ này. Cho đến những năm 1960, họ vẫn thường xuyên cho thấy khả năng thu hút khoảng một nửa số phiếu bầu và số ghế, khiến họ trở thành đảng phải chính yếu. Tuy nhiên, ngay cả trong tình trạng bị suy giảm quyền lực, khi để mất khoảng một phần ba số phiếu, họ cũng không đánh mất khả năng thao túng đòn bẩy quyết định này, và do đó, họ vẫn có thể làm chủ tình thế.

Thử nghiệm tính thực tiễn

Một vấn đề khác đặt ra cho chuỗi tranh luận này là vấn đề mối liên kết, hoặc thiếu liên kết, giữa cử tri và đại diện của họ. Cấu trúc cơ bản của quốc hội Anh đã được thành lập từ lâu, từ khi những đảng lớn dựa trên sức mạnh của đám đông hoặc phổ thông đầu phiếu còn chưa xuất hiện. Mặc dù cấu trúc này đã được sửa đổi trong thời gian gần đây nhưng những yếu tố căn bản của hệ thống vẫn dựa vào tính địa phương. Điều này có nghĩa là mỗi người dân, dù có bỏ phiếu hay không và bỏ phiếu như thế nào, thì anh ta luôn có một đại diện trong cơ quan lập pháp và người đó có thể trực tiếp giải quyết những bất bình của anh ta. Lý thuyết này xuất phát từ giả định rằng mỗi nghị sĩ phục vụ cho tất cả lợi ích và nguyện vọng trong khu vực bầu cử của mình. Với tính ưu việt hiện tại của chiến lược duy trì đảng quốc gia, giả định này có vẻ còn nhiều nghi ngại, nhưng vẫn tồn tại trong tâm trí của cả người dân và các nhà lập pháp. Thật vậy, trong một cuộc khảo sát gần đây về thái độ của các nghị sĩ Anh hướng tới cải cách bầu cử, đa số người được hỏi đã xếp giả định này ở đầu danh sách của họ về những đặc trưng của hệ thống đại diện tỷ lệ[26].

Những lợi ích cụ thể của hệ thống đại diện tỷ lệ ở địa phương có thể được đánh giá theo nhiều cách khác nhau, nhưng chúng ta vẫn không thể phủ nhận rằng khi chúng ta không dựa trên tính đại diện địa phương thì mối quan hệ giữa công dân và các cơ quan lập pháp sẽ bị ảnh hưởng. Đây là một trong những lý do tại sao khái niệm “hệ thống hỗn hợp”, điển hình là hệ thống thành viên bổ sung ở nước Đức, đã thu hút sự quan tâm của các nhà cải cách hệ thống đa số tương đối như ở Anh.

Một điểm cuối cùng trong kho vũ khí mà các nhà phê bình đề cập đến để chống lại hệ thống đại diện tỷ lệ là tiềm năng duy trì quyền lực cho phe phái ở ngoại biên (như đã phân tích ở trên trong trường hợp nước Pháp). Các tài liệu về chủ đề này thực sự rất phong phú và đa dạng, từ những nghiên cứu về sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít trong giai đoạn giữa hai cuộc Thế chiến tới những ghi nhận về mối đe dọa đến từ cả lực lượng cực tả và cực hữu (và bây giờ còn đến từ cả chủ nghĩa cơ yếu – fundamentalism[27]) từ sau năm 1945. Các tài liệu thì chỉ có thể ngày càng dày thêm, các cuộc tranh luận thì mãi mãi không kết thúc. Nếu một hệ thống bầu cử được vận hành nhằm loại trừ mọi biểu hiện của xu hướng phản dân chủ, thì phải chăng làm như vậy cũng có nghĩa là bịt miệng cả những phe thiểu số vốn không hề phản dân chủ? Phải chăng vấn đề cần được giải quyết bằng các phương tiện khác, chẳng hạn như Luật cơ bản của nước Đức nhằm bài xích mọi đảng phái phản dân chủ? Dù những sự phán xét vô tư cho vấn đề này có thể đi xa đến đâu, những người đã sống dưới một thể chế được vận hành từ lâu bởi hệ thống đa số tương đối luôn có thể chắc chắn rằng một phong trào chống dân chủ có rất ít khả năng trỗi dậy và đạt được ảnh hưởng đáng kể trong cơ quan lập pháp ở quốc gia của họ.

Bất kì tòa án công bằng nào khi xét đến cả những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống đại diện tỉ lệ (trong nhiều hình thức khả dĩ khác nhau) và hệ thống đa số tương đối (cũng trong nhiều hình thức khả dĩ khác nhau) đều sẽ từ chối phán xét mà chỉ dựa trên lí thuyết căn bản. Bài kiểm tra tốt nhất luôn là bài kiểm tra của thực tiễn và tương thích với hoàn cảnh từng quốc gia. Và nền tảng trọng yếu trong những điều kiện đặc thù của quốc gia – một yếu tố phải luôn có được ảnh hưởng nhất trong mọi đánh giá về các phương án xây dựng cơ chế bầu cử cho quốc gia – chính là mô hình của quá trình vận động chính trị hiện hành. Không một hình thức cải cách nào, dù được chứng minh toàn diện bởi một lý thuyết, có thể được áp dụng một cách máy móc vào một nền chính trị, khi mà các yếu tố biến động của nền chính trị ấy có thể làm giải pháp cải cách đó trở nên hoàn toàn bất khả thi, trở thành yếu tố gây hại, trở thành một điều phi lý, trở thành yếu tố gây rối loạn, hoặc thậm chí trở thành một thảm họa. Nhiệm vụ phân tích tác động của các cơ chế bầu cử khác nhau chắc chắn là một trong những nhiệm vụ thiết yếu của các nhà khoa học chính trị, nhưng chắc chắn không một công thức bầu cử nào luôn có thể được đề xuất như một giải pháp vạn năng.

Nhu cầu xây dựng môi trường cạnh tranh tự do, công bằng và cởi mở cho những cuộc chạy đua vì quyền lực chính trị thường đặc biệt sống động ở các quốc gia còn non trẻ, nhưng thiếu tài nguyên. Trong hoàn cảnh như vậy, người ta sẽ phải vượt qua được giới hạn của phương pháp để đề xuất được giải pháp chung cho khả năng đại diện ý chí của nhân dân. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể nuôi dưỡng một niềm hy vọng rằng chuỗi tranh luận mà bài viết này góp ý sẽ trở thành tài liệu có giá trị đối với giới hoạch định chính sách trong những xã hội mà khái niệm chính phủ đại diện vẫn còn mới mẻ trong chương trình nghị sự.

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH: 

[1] Nguồn: Sir Henry Maine, Popular Government (London: John Murray, 1885).

[2] Nguồn: Arend Lijphart, “Constitutional Choices for New Democracies”, Journal of Democracy 2 (mùa đông năm 1991); Guy Lardeyret, “The Problem with PR”, Quentin L. Quade, “PR and Democratic Statecraft”, và Arend Lijphart, “Double-Checking the Evidence”, Journal of Democracy 2 (mùa hè năm 1991).

[3] Nguồn: Larry Diamond, “Three Paradoxes of Democracy”, Journal of Democracy 1 (Summer 1990), trang 54.

[4] Một quan chức của Cộng đồng Cải cách Bầu cử Anh quốc gần đây tuyên bố rằng ông ấy biết đến ba trăm công thức bầu cử khác nhau.

[5] Cả ba hệ thống đặc thù này đều dựa vào cử tri. Hệ thống thành viên bổ sung phân phối ghế ngồi bổ sung tương ứng với danh sách quốc gia về các đảng phái được hỗ trợ. Hệ thống lá phiếu thay thế là một hệ thống ưu tiên cho phép cử tri xếp hạng ứng cử viên theo thứ tự ưu tiên và sau đó tái định vị lần hai (hoặc lần tiếp theo) lựa chọn của những người đã bỏ phiếu cho các ứng cử viên yếu nhất để tập hợp được đa số phiếu. Hệ thống lá phiếu chuyển nhượng đơn cũng hoạt động tương tự như hệ thống lá phiếu thay thế, nhưng áp dụng ở những khu vực bầu cử nhiều thành viên.

[6] Các đề xuất nghiêm túc nhất hiện nay bao gồm ba hệ thống nêu trên. Có rất ít sự ủng hộ rõ rệt dành cho lối tiếp cận dựa trên danh sách đảng phái, dù lấy cơ sở khu vực hay quốc gia.

[7] Nguồn: H. Daalder, Extreme Proportional Representation: The Dutch Experience (London: Anthony Wigram, 1975).

[8] Nguồn: K.R. Gladdish, Governing from the Centre: Politics and Policy-Making in the Netherlands (London: C. Hurst, 1991), chương 6.

[9] Bài viết của Guy Lardeyret và Quentin L. Quade đều khẳng định luận điểm này.

[10] Nguồn: K.R. Gladdish, “Governing the Dutch”, Acta Politica 25 (October 1990), trang 389 đến 402.

[11] Nguồn: Alistair Cole and Peter Campbell, French Electoral Systems and Elec-tions Since 1789 (Aldershot, England: Gower, 1989).

[12] Nguồn: Howard Penniman, France at the Polls, 1981 and 1986 (Durham, N.C.: Duke University Press, 1988), trang 211.

[13] Nguồn: Howard Penniman, France at the Polls, trang 181.

[14] Nguồn: Howard Penniman, France at the Polls, trang 214.

[15] Nguồn: Gordon Smith, William Paterson, và Peter Merkl, Developments in West German Politics (London: Macmillan, 1989), trang 71.

[16] Nguồn: Judy Batt, “After Czechoslovakia’s Velvet Poll”, World Today 46 (August–September 1990), trang 141–143.

[17] Cách mạng Nhung (tiếng Séc: sametová revoluce; tiếng Slovak: nežná revolúcia) là một cuộc cách mạng bất bạo động tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Tiệp Khắc diễn ra từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 29 tháng 12 năm 1989 và dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa đã kéo dài 41 năm tại nước này. Sự kiện này nằm trong chuỗi sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa tại khắp các nước Đông Âu khác trong năm 1989. Ngày 17 tháng 11 năm 1989, cảnh sát đã đàn áp cuộc biểu tình hòa bình của sinh viên thủ đô Praha kỉ niệm 50 năm Ngày Sinh viên Quốc tế. Bắt đầu từ ngày 19 tháng 11 năm 1989, hàng loạt những cuộc biểu tình của người dân Tiệp Khắc đã diễn ra trên khắp đất nước cho đến tận cuối tháng 12. Đặc biệt vào ngày 20 tháng 11, số lượng người tham gia biểu tình tại Praha đã tăng từ 200.000 người của ngày hôm trước lên đến nửa triệu người. Ngày 27 tháng 11, một cuộc đình công phản đối đồng loạt trên toàn quốc đã diễn ra trong hai giờ đồng hồ. Cùng với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa tại hầu khắp các nước Đông Âu khác cũng như sức ép của quần chúng nhân dân ngày càng dâng cao, vào ngày 28 tháng 11 Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã tuyên bố từ bỏ quyền lực và giải tán chế độ một đảng duy nhất nắm quyền. Vào đầu tháng 12, những hàng rào dây thép gai trên biên giới với Tây Đức và Áo được dỡ bỏ. Ngày 10 tháng 12, chủ tịch nước Gustav Husak đã chỉ định một chính phủ phần lớn không là cộng sản rồi sau đó từ chức. Alexander Ducek, người từng lãnh đạo phong trào Mùa Xuân Praha trước đây được cử làm phát ngôn viên của chính phủ nước Cộng Hòa Tiệp Khắc, vào ngày 28 tháng 12. Vaclav Havel được bầu làm tổng thống mới của Tiệp Khắc.

[18]Nguồn: Economist, 13 June 1992.

[19] Nguồn: 17. David Warszawski, “The Elections: Don’t Let’s Be Shocked”, East Euro-pean Reporter, January–February 1992, trang 19 đến trang 21.

[20] Krzysztof Jasiewicz, “From Solidarity to Fragmentation”, Journal of De-mocracy 3 (April 1992): trang 55 đến trang 69. Trong công trình này, Jasiewicz đã hỏi rằng liệu những hệ thống bầu cử bị thao túng có thể tránh kịch bản siêu phân mảnh, mặc dù xét trên những tính toán của ông về giải pháp thay thế thì có vẻ nguy cơ dẫn đến kịch bản này có thể giảm đáng kể.

[21] Nguồn: Bài viết “The Hungarian Parliamentary Elections 1990” của A. Körösényi trong công trình Post-Communist Transition: Emerging Plu-ralism in Hungary (London: Pinter, 1992) của A. Bozóki, A. Körösényi, và G. Schopflin.

[22] Trong trường hợp của cuộc bầu cử tháng 4 năm 1992, John Curtice đã kêu gọi dư luận chú ý đến một trường hợp số học chính trị đáng ngạc nhiên: “Đây là lần đầu tiên hệ thống này hoàn toàn thất bại trong việc cung cấp ghế ngồi bổ sung cho người chiến thắng. Thay vào đó, cho đến nay rõ ràng Đảng Bảo thủ và Đảng Lao động có liên quan, và đã hành động tương ứng với nhau cho kịch bản này”. Bình luận này xuất hiện trên tờ Guardian, 13 Tháng 4 năm 1992. Rõ ràng chuyện này, bề ngoài có vẻ như lần đầu tiên nhưng thực chất luôn có thể xảy ra trong mọi trường hợp trước đó. Điều này thúc đẩy luồng tư tưởng khẳng định rằng tính tỷ lệ cũng không phải không đạt được trong hệ thống trội số. Chỉ là nó rất khó có khả năng xảy ra mà thôi.

[23] Dinh của Thủ tướng Anh.

[24] Một cựu thành viên của quốc hội Bồ Đào Nha đã đánh giá như sau về hệ thống bầu cử: “Bốn đảng chủ chốt… chống lại cuộc bầu cử dựa trên những quy định làm giảm khả năng đại diện cá nhân về nhiều hơn với vai trò đại diện cho phe đảng chứ không phải đại diện cho đơn vị bầu cử”. Sau đó bà ấy đã cảnh báo: “Thật vậy, cách vận hành của hệ thống đại diện tỷ lệ ở Bồ Đào Nha sẽ là một bài học thiết thực dành cho đám người Anh ngờ nghệch tin rằng việc áp dụng hệ thống này này có thể cải thiện thể chế ở Anh”. Nguồn: Patricia Lança, “The Land of Mild Customs”, Salisbury Re-view, June 1992, trang 29.

[25] Nguồn: K.R. Gladdish, “Two-Party versus Multi-Party: The Netherlands and Britain”, Acta Politica 7 (July 1972), trang 342 đến 361, K.R. Gladdish, “Two-Party versus Multi-Party: The Netherlands and Britain”, Parliamentary Affairs 26 (June-August 1973), trang 454 đến 470.

[26] Nguồn: 23. K.R. Gladdish, A.T.W. Liddell, and P.J. Giddings, “MPs’ Perceptions of the British Electoral System” (University of Reading Politics Group Research Paper, No. 1, 1984).

[27] Fundamentalism: Tư tưởng xác lập niềm tin tuyệt đối vào kinh Thánh.