CHƯƠNG 1 – SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG BẦU CỬ

Donald L. Horowitz là giáo sư với tước hiệu James B. Duke ngành Luật và Khoa học Chính trị tại Đại học Duke, và là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng, trong đó, cuốn sách mới đây nhất của ông có tên “The Deadly Ethnic Riot” (2001) (tạm dịch: Cuộc nổi loạn Sắc tộc Chết chóc). Bài tiểu luận sau đây dựa trên một bài nghiên cứu viết cho nhóm nghiên cứu về bầu cử tại Viện Nghiên cứu Malaysia và Quốc tế IKMAS tại Đại học Kebangsaan, Malaysia. Tiểu luận này được đăng lần đầu tiên vào tháng 10 năm 2003 trên Tạp chí Dân chủ.

***

Để đánh giá một hệ thống bầu cử hoặc chọn một hệ thống bầu cử mới thì cần phải hỏi xem người ta muốn hệ thống đó làm gì. Không một hệ thống bầu cử nào có thể dễ dàng phản ánh được nguyện vọng của cử tri hay mô hình phân hóa đang hiện diện trong xã hội hay cơ cấu của đảng chính trị đang chiếm ưu thế. Mỗi hệ thống bầu cử đều định hình và tái định hình những đặc điểm của môi trường chính trị, và mỗi hệ thống bầu cử lại làm việc đó bằng những cách khác hẳn nhau. Dưới đây, tôi muốn trình bày một vài mục đích khả thi của các hệ thống bầu cử có thể tìm thấy trong các tài liệu về đề tài này, và sau đó tôi xin đưa ra những nhận xét về các mục đích trên, cũng như nhận xét về các hệ thống bầu cử nhằm thúc đẩy những mục đích đó.

Tuy nhiên, trước tiên, tôi cần nhấn mạnh một vấn đề liên quan tới một giả định của nhiều người, đó là: hệ thống bầu cử tốt nhất là hệ thống phản ánh chính xác và trung thực nguyện vọng của cử tri. Bản chất của hệ thống bầu cử là tập hợp những lựa chọn của cử tri và biến chúng thành kết quả bầu cử, và không hệ thống nào có thể làm điều đó bằng cách thể hiện một cách thụ động những ưu tiên cá nhân thành lựa chọn của tập thể. Hơn nữa, mọi hệ thống bầu cử đều có những định kiến được tích hợp sẵn trong cơ chế đưa ra quyết định, và sau đó, những định kiến này tác động trở lại lên quyết định của cử tri, cản trở và làm thay đổi các quyết định đáng lẽ ra đã được thực hiện, nếu áp dụng các hệ thống bầu cử khác. Do đó, ngay từ đầu, các lựa chọn của cử tri không những bị phản ánh sai lệch đi mà mà còn bị định hình bởi hệ thống bầu cử. Có thể nói, các lưa chọn của cử tri không và không thể tồn tại độc lập với hệ thống bầu cử.

Thực tế là, mỗi hệ thống bầu cử đều chứa một loạt các định kiến khác nhau, có nghĩa là, người ta lựa chọn một trong số các hệ thống bầu cử, trên thực tế, chỉ là họ đang ưu ái một tập hợp những định kiến này so với tập hợp những định kiến khác mà thôi. Ưu ái hệ thống này hơn hệ thống kia chính là bạn đang lựa chọn chính sách. Do đó, người ta có thể nói về mục đích của hệ thống, mặc dù việc lựa chọn các định kiến không phải lúc nào cũng được làm một cách có ý thức. Từ đây, các mục tiêu khả dĩ của việc lựa chọn một hệ thống bầu cử cũng nhiều như các khả năng kết hợp của các định kiến và hệ thống. Vì vậy, bất kỳ một sự liệt kê các mục tiêu khả dĩ nào đó đều là một chức năng nhằm tìm ra mục đích mà những người dân sống trong một xã hội nhất định muốn đạt được hay né tránh, khi so sánh xu hướng của các hệ thống bầu cử nhằm tạo ra các kết quả theo hướng này hoặc hướng khác. Nói cách khác, có thể đưa ra nhiều danh sách các mục tiêu, và tất cả các danh sách này đều có yếu tố tùy ý.

Cảnh báo sơ bộ cuối cùng: Khi nói tới các mục tiêu cần phải đạt, chúng ta không nên nuôi ảo tưởng cho rằng hệ thống bầu cử, tự nó, có thể đạt được các mục tiêu đó. Các hệ thống bầu cử định hình và giới hạn cách thể hiện hành vi của chính khách và cử tri, nhưng chúng chỉ là một phần nhỏ trong số những lực lượng có ảnh hưởng đến toàn bộ các hành vi, kể cả hành vi chính trị. Thay đổi hệ thống bầu cử không thể tạo ra những điều kì diệu. Ngay cả khi cấu trúc của các động cơ bầu cử thay đổi, thì cũng không nên nghĩ rằng thay đổi sẽ diễn ra một cách nhanh chóng, thay đổi chỉ diễn ra từng bước một mà thôi. Tuy nhiên, đôi lúc, những bước thay đổi từ từ lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

SÁU MỤC TIÊU

Sáu mục tiêu của một hệ thống bầu cử có thể dễ dàng nhận thấy. Một số mục tiêu thì tương thích với nhau, nhưng một số mục tiêu khác thì xung khắc nhau, và đây chính là lý do vì sao phải hiểu thật rõ mục tiêu đang được lựa chọn. (Tất nhiên, sự lựa chọn còn phải phù hợp với những đặc điểm hiện có của môi trường chính trị, vì hoạt động của các hệ thống bầu cử thay đổi theo bối cảnh.) Đây là sáu mục tiêu khả thi: 1) Tỷ lệ của số ghế với số phiếu bầu; 2) trách nhiệm giải trình với cử tri; 3) chính phủ bền vững; 4) người giành được nhiều phiếu hơn so với tất cả các ứng viên khác là người chiến thắng (còn gọi là Condorcet winner); 5) hòa giải sắc tộc và tôn giáo; và 6) ưu tiên nhóm thiểu số. Tôi sẽ lần lượt bàn luận về từng mục tiêu này.

1. Tỷ lệ số ghế với số phiếu bầu

Các học giả và những người có trách nhiệm đưa ra quyết định ngày càng có xu hướng đánh giá các hệ thống bầu cử bằng cách dựa vào khả năng (hay không có khả năng) tạo ra kết quả bầu cử có tính tỉ lệ. Người ta tranh luận rằng, một đảng chính trị giành được 20% tổng số phiếu bầu thì cũng phải được 20% số ghế trong quốc hội, chứ không thể ít hơn hoặc là không có ghế nào; kết quả này có thể xảy ra nếu cuộc bầu cử được tổ chức trên cơ chế phân bố cử tri sao cho người ủng hộ một đảng phái nào đó nằm rải rác khắp nơi thay vì tập trung vào một vài khu vực nhất định. Theo quan điểm này, đảng với 50% số phiếu bầu sẽ chỉ được 50% số ghế chứ không phải là 60 hoặc 65% số ghế như khi áp dụng những hệ thống bầu cử với xu hướng tặng thêm một số ghế tùy ý cho đảng lớn nhất.

Có một số biện pháp nhằm tạo ra kết quả số ghế tỷ lệ với số phiếu bầu, trong đó có hệ thống đại diện tỷ lệ theo danh sách (hay gọi tắt là hệ thống PR, với hai biến thể chủ yếu là danh sách quốc gia và danh sách theo khu vực cử tri) và hệ thống lá phiếu khả nhượng đơn (single preferable vote- STV) (Xem thêm ở chương 2). Một số mục tiêu của hệ thống này có thể kết hợp với những mục tiêu khác, bên cạnh mục tiêu tỷ lệ giữa số ghế và số phiếu, nhất là nếu kết hợp với các hệ thống khác trong các mô hình bầu cử có tính lai ghép. Tuy nhiên, theo phân tích của tôi trong những phần sau, hệ thống PR thường không phù hợp với một vài mục tiêu trong quá trình lựa chọn hệ thống bầu cử. Tính công bằng của kết quả, theo nghĩa là tỷ lệ giữa số ghế với số phiếu nhận được, chỉ là một trong các mục tiêu và có thể không phải là mục tiêu quan trọng nhất. Tuy được đo đạc dễ dàng, nhưng tính tỷ lệ giữa số phiếu với số ghế lại có thể cản trở các mục tiêu khác. Tranh luận về tính tỷ lệ giữa số phiếu với số đại biểu không thể tiến hành bằng các giả thuyết chung chung, mà phải được tiến hành trong bối cảnh chính trị nhất định.

Đúng là có thể hạn chế sự sai lệch của tỷ lệ giữa số phiếu và số ghế đại biểu, tức là số ghế đại biểu không tỷ lệ với số phiếu thu được trong những hệ thống không phải là PR, nếu chú ý đến những nguồn gốc dẫn tới kết quả bất tương xứng mà hệ thống bầu cử này không có. Trong đó có phân bố đơn vị bầu cử sai (cần 2 đến 3 cử tri bỏ phiếu cho đại biểu này, trong khi đại biểu khác chỉ cần 1 cử tri bỏ phiếu) là nguyên nhân cực kì quan trọng của việc số ghế không tỷ lệ với số phiếu. Tương tự, trong các hệ thống PR, kết quả không có tính tỷ lệ thiên vị các đảng lớn, nếu các ứng viên cạnh tranh với nhau trong những khu vực cử tri nhiều đại biểu, tức mỗi khu vực bầu ra một vài nhà lập pháp.

2. Trách nhiệm giải trình trước cử tri

Trúng cử vào các cơ quan đại biểu của dân đòi hỏi trách nhiệm giải trình của nhà lập pháp trước những cử tri đã bầu họ. Mọi người thường nghĩ rằng các hệ thống bầu cử, nếu hạn chế quyền của những lãnh đạo chủ chốt của đảng trong việc lựa chọn các ứng viên, thì sẽ tạo ra những người đại diện có mức độ phản ứng tốt hơn. Hệ thống PR kiểu danh sách quốc gia thường cho các nhà lãnh đạo đảng quyền lực rất lớn trong việc quyết định ứng cử viên nào sẽ có vị trí triển vọng trong danh sách của đảng và nhờ đó sẽ có cơ hội được bầu cao hơn. Người ta nghĩ rằng khi các nhà lãnh đạo chủ chốt của đảng có quyền lực lớn như thế, thì quyền quyết định của cử tri  trong việc lựa chọn ra các ứng viên, chứ không phải lựa chọn giữa các ứng viên có sẵn, bị hạn chế.

Về điểm này, các hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị cử tri, ví dụ như hệ thống “người dẫn đầu giành ghế” (để cho ngắn gọn, từ đây sẽ sử dụng viết tắt tiếng Anh là FPTP) (Xem thêm ở chương 2) hay thậm chí là hệ thống PR kiểu danh sách khu vựccử tri(với các đơn vị bầu cử nhỏ, chỉ bầu 3 hay 4 đại biểu), được cho là thích hợp hơn cả. Nhưng có những biện pháp khác có thể làm giảm bớt quyền lực của các nhà lãnh đạo đảng trong hệ thống PR kiểu danh sách. Một trong những biện pháp đó là cho phép cử tri thay đổi thứ tự của các ứng cử viên trong danh sách, ví dụ, bằng cách bầu cho ứng cử viên số 6 chứ không bầu cho ứng cử viên số 3. Phương án này còn được gọi là hệ thống PR kiểu danh sách mở, tuy vậy, nó vẫn có thể gây ra các hậu quả hết sức éo le, đặc biệt là trong các xã hội đa sắc tộc.

3. Chính phủ bền vững

Hiển nhiên là, hệ thống bầu cử không thể phản ánh được toàn bộ các ý kiến riêng của mọi cử tri. Tuy nhiên, một số hệ thống có thể thể hiện nhiều quan điểm chính trị, thỉnh thoảng nhiều tới mức hệ thống lập pháp bị phân mảnh và không đảng nào giành được gần 50% số ghế. Đương nhiên là, trong những trường hợp như thế, liên minh giữa các đảng phái khác nhau là cần thiết. Khi cơ quan lập pháp bị phân mảnh quá sâu sắc thì có thể khó hình thành được những liên minh bền vững. Những hệ thống bầu cử khác có thể buộc các đảng phái cộng gộp những quan điểm đa dạng trong xã hội lại để có thể có một cuộc bầu cử thành công. Khi điều này xảy ra và các quan điểm khác nhau chỉ xuất hiện trong nội bộ đảng này hoặc đảng kia, chứ không phải xuất hiện rải rác trong nhiều đảng, thì sự giảm số lượng các đảng phái cho phép một chính phủ bền vững dễ dàng được thành lập.Và người ta nghĩ rằng chính phủ ổn định là điều đáng mong ước vì nó khuyến khích sự nhất quán trong chính sách, trách nhiệm và, quan trọng hơn, có thể tránh được những bất ổn có thể xảy ra trong thời kỳ chuyển tiếp hoặc do những liên minh lỏng lẻo và khó dự đoán gây ra. 

4. Chiến thắng của “Condorcet Winner”

“Condorcet winner” là ứng viên nhận được nhiều phiếu hơn trong một cuộc đấu tay đôihoặc đấu trực tiếp với mọi và từng ứng viên khác. “Condorcet winner” rõ ràng là ứng viên được nhiều người ưa thích nhất và chiến thắng này là hợp lý. Tuy nhiên, vẫn có một số trở ngại. Vì thường thì cuộc bầu cử nào cũng có từ hai ứng viên trở lên, do vậy, một vài hệ thống có thể cho ra các kết quả bất lợi đối với “Condorcet winner”. Hệ thống bầu cử FPTP đôi lúc cho ra kết quả như thế. Ví dụ, trong một cuộc đấu tay ba và các ứng viên nhận được số phiếu bầu là: X: 45%; Y: 40%; Z: 15%. Như vậy, với hệ thống bầu cử FPTP, ứng viên X sẽ là người chiến thắng. Nhưng nếu ứng viên Y đứng ra cạnh tranh trực tiếp với chỉ riêng ứng viên X, ứng viên Y có thể là ứng viên được nhiều cử tri ưa thích hơn; và ứng viên Y cũng có thể đánh bại ứng viên Z trong một cuộc đấu tay đôi. Đôi khi, người ta lại nghĩ rằng các hệ thống bầu cử bất lợi đối với “Condorcet winner” là hệ thống đáng mong muốn. Nhưng, tất nhiên, những hệ thống đó có thể có những phẩm chất khác.

Có những hệ thống rất hiệu quả trong việc lựa chọn ra các “Condorcet winner”. Lá phiếu thay thế (AV) và nguyên tắc Coombs (sẽ được thảo luận ngay sau đây) đều có thể tìm ra lựa chọn ưu tiên thứ hai, trong khi hệ thống FPTP bỏ qua hoàn toàn. Tuy nhiên, cả hai hình thức bầu cử này đều có những khiếm khuyết khác. Một lần nữa, với các hệ thống bầu cử, cần phải hỏi xem người ta muốn gì và từ đó lựa chọn giữa các phương án khác nhau mà mỗi phương án đều có những điểm bất lợi.

5. Hòa giải sắc tộc và tôn giáo

Những hệ thống bầu cử tạo ra kết quả có tính tỷ lệ, hoặc chúng có thể tạo ra các đại biểu có ý thức trách nhiệm giải trình trước cử tri, hoặc chúng có thể tạo ra chính phủ bền vững, thì có thể có khả năng mà cũng có thể không có khả năng thúc đẩy hòa giải sắc tộc. Một trong những cách nghĩ về hệ thống bầu cử và hòa giải sắc tộc là hỏi liệu hệ thống đang được xem xét có mang tới cho các chính trị gia động cơ tranh cử vì hành vi ôn hòa hay không, tức là họ sẽ thỏa hiệp với các thành viên của các nhóm sắc tộc khác để có một cuộc bầu cử thành công. Một số hệ thống có thể làm được điều đó. Hệ thống bầu cử có xuất xứ từ Li-Băng (Lebanon) – với một số ghế dự trữ dành riêng cho các nhóm sắc tộc, các đơn vị bầu cử bầu nhiều đại biểu, và hệ thống đại diện tỷ lệ theo danh sách trên toàn quốc – tạo điều kiện để các chính trị gia hợp tác với những chính trị gia trong các nhóm khác, vì họ không thể giành chiến thắng nếu chỉ dựa trên số phiếu bầu từ nhóm cử tri ủng hộ mình.Họ phải hùn phiếu (còn được gọi là: hỗ trợ qua lại) với các ứng viên của các nhóm khác cũng đang tranh giành các ghế được dự trữ trong cùng đơn vị bầu cử. Tương tự, các hệ thống đòi hỏi các ứng viên phải giành được một lượng phân bổ phiếu bầu ở cấp khu vực, bên cạnh việc giành được đa số tương đối ở cấp quốc gia, có thể thúc đẩy hành vi hòa giải nếu khu vực bầu cử là đại diện cho sắc tộc bởi vì các nhóm đều sống tập trung theo khu vực. Nigeria là nước tiên phong thực hiện phương pháp này trong các kỳ bầu cử tổng thống của họ, và hiện nay Indonesia cũng sử dụng cùng một phương pháp trong các cuộc bầu cử tổng thống.

Mặt khác, các hệ thống bầu cử tạo điều kiện cho các chính trị gia giành chiến thắng mà không cần phải hành xử một cách ôn hòa sẽ có thể làm cho quá trình hòa giải hậu bầu cử trở nên khó khăn hơn. Liên minh hậu bầu cử chỉ thiết lập được chính phủ nhỉnh hơn 50% số ghế trong quốc hội một chút có thể sẽ bị lung lay khi những vấn đề bất đồng sắc tộc phát sinh. Vì vậy, để hòa giải sắc tộc, vấn đề đặt ra là các hệ thống bầu cử có ảnh hưởng như thế nào đến tính toán trước bầu cử của các đảng và các chính trị gia.

6. Ưu tiên nhóm thiểu số

Một số tác gia, người lập chính sách, những người tranh đấu cho quyền lợi của các nhóm sắc tộc cho rằng tỷ lệ nhóm nên là một mục tiêu của hệ thống bầu cử. Giả định (có thể gây tranh cãi) là nếu nhóm A chiếm 10% dân số thì phải có 10% tổng số đại biểu trong cơ quan lập pháp. Nhiều hệ thống bầu cử tạo ra kết quả là các nhóm thiểu số không có sự đại diện tương xứng trong cơ quan lập pháp, nếu ở đây sự đại diện tương xứng nghĩa là tỷ lệ người đắc cử tỷ lệ thuận với tỷ lệ dân số của các nhóm thiểu số. Ví dụ, trong các cuộc bầu cử áp dụng hệ thống FPTP, nếu các nhóm thiểu số phân bố đồng đều về mặt địa lý, thì những ứng viên trúng cử có thể là đều là người của cộng đồng dân cư chiếm đa số. Do vậy, mục tiêu của việc ưu tiên cho người thiểu số có thể được coi là một ví dụ của cùng một hiện tượng mà đã mang tới nỗ lực nhằm đạt được tính tỷ lệ giữa số phiếu và số ghế, ngoại trừ tính tỷ lệ trong trường hợp này là theo đảng phái chứ không phải theo nhóm.

Ở một số nước, nhất là ở Hoa Kỳ, đã có nhiều nỗ lực nghiêm túc nhằm gia tăng tỷ lệ nhóm thiểu số trong các cơ quan lập pháp. Trong bối cảnh hệ thống bầu cử đa số tương đối (Tiếng Anh: “plurality voting system” hay “plurality election”, là hệ thống bầu cử mà ứng viên nào nhận được nhiều phiếu nhất, không cần phải trên 50%, là người chiến thắng), Đạo luật về Quyền Bầu cử được giải thích để đòi phải vẽ lại ranh giới các đơn vị bầu cử theo chiều hướng đồng nhất hơn về mặt sắc tộc, giúp bầu ra đại diện của các nhóm thiểu số khi các nhóm thiểu số chiếm quá nửa cư dân trong khu vực bầu cử. Đã có những đề xuất về việc thay đổi chính hệ thống bầu cử để thực hiện mục tiêu này. Tuy nhiên, một vài người ủng hộ các nhóm thiểu số nói rằng nên nghĩ đến hệ thống bỏ phiếu dồn tích (cumulative vote), tức là hệ thống cho phép các cử tri trong đơn vị bầu cử bầu nhiều đại biểu (multimember constituency) dành một số hoặc toàn bộ lá phiếu của họ cho một ứng viên duy nhất, và bằng cách đó, có thể tối đa hóa khả năng là ứng viên của nhóm thiểu số sẽ thắng – trên cơ sở tích cóp – những ứng viên khác, dù họ được hỗ trợ lớn hơn nhưng phân bố không tập trung bằng. Nhưng, hệ thống bỏ phiếu dồn tích, trong khi khuyến khích các ứng viên giữ những quan điểm cực đoan nhằm nâng cao khả năng thu hút toàn bộ phiếu bầu từ một nhóm nhỏ cử tri cụ thể, có thể dẫn xã hội đến nền chính trị bị phân cực.1

Theo khả năng này, rất có thể cần thỏa hiệp giữa những mục tiêu ưu tiên nhóm thiểu số và hòa giải giữa các sắc tộc. Tương tự như thế, ưu tiên nhóm thiểu số theo tỷ lệ của họ không đảm bảo rằng quyền lợi của nhóm thiểu số sẽ nhận được sự chú ý trong tiến trình lập pháp. Thật ra, ưu tiên nhóm thiểu số có thể có nguồn gốc từ hy sinh quyền đại diện của nhóm thiểu số theo nghĩa rộng, vì sự ra đời của những đơn vị bầu cử đồng nhất hơn đồng nghĩa với việc không chỉ có thêm nhiều đơn vị bầu cử do các nhóm thiểu số chiếm ưu thế, mà còn thêm nhiều đơn vị bầu cử mà ở đó cử tri của các nhóm đa số sẽ chiếm ưu thế và các ứng viên của nhóm đa số không cần bận tâm về sự ủng hộ của nhóm thiểu số hay quyền lợi của thiểu số nữa.2

LỰA CHỌN GIỮA CÁC MỤC TIÊU

Rất nhiều người ra quyết định tìm cách thiết kế hệ thống bầu cử nhằm tối đa hóa từ hai mục tiêu trở lên. Ví dụ, Đức có một hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị cử tri, nhưng được bao trùm bởi tính tỉ lệ, để các nhà lập pháp có trách nhiệm giải trình trước các cử tri của họ, nhưng đồng thời các đảng phái cũng giành được tổng số ghế tỷ lệ với số phiếu mà họ giành được trên toàn quốc. Xu hướng áp dụng những hệ thống lai ghép nhằm đạt nhiều mục tiêu đang ngày càng gia tăng, các nước như New Zealand, Ý, và Nhật đều đã đi theo hướng này.

Một vài hệ thống lai ghép như ở Đức, với những cuộc bầu cử đa số tương đối nhưng vẫn đảm bảo tính đại diện một cách tỷ lệ trong các cơ quan lập pháp dựa trên sự phân bổ tổng thể của phiếu bầu, trong khi các nước khác áp dụng các cuộc bầu cử theo đơn vị cử tri và các cuộc bầu cử theo hệ thống PR kiểu danh sách tách biệt hẳn với nhau. Nhật là nước làm theo cách sau. Mỗi đảng giành được số ghế theo phương thức PR kiểu danh sách cộng với số ghế theo phương thức đa số tương đối mà họ giành được trong những đơn vị bầu cử một đại biểu. Vì số phiếu theo phương thức đa số tương đối nhiều hơn số ghế theo tỷ lệ và việc chỉ định các đại biểu được thực hiện một cách riêng rẽ, do đó, khác với Đức, động lực của hệ thống bầu cử ở Nhật giống như hệ thống bầu cử FPTP. Tuy nhiên, đặc điểm của hệ thống tỷ lệ đó là khiến cho bất kỳ một đảng đơn độc nào cũng khó chiếm được đa số ghế trong quốc hội.3

Bất chấp xu hướng nghiêng về việc áp dụng hệ thống bầu cử lai ghép, vẫn có sự tiếp nối văn hóa mạnh mẽ trong quá trình dàn xếp các cuộc bầu cử. Các quốc gia như Anh, Mỹ, Canada, Ấn Độ, Malaysia hay nhiều nước châu Phi nói tiếng Anh đều áp dụng hệ thống bầu cử FPTP,vốn được coi là hệ thống được áp dụng phổ biến ở những nước nói tiếng Anh. Ngược lại, các nước châu Âu và các nước châu Phi nói tiếng Pháp lại ưa chuộng hệ thống PR kiểu danh sách. Người ta có thể đưa ra một số quyết định tồi tệ trên nền tảng của sự tương đồng văn hóa. Benin, thuộc địa cũ của Pháp, cũng áp dụng hệ thống bầu cử theo chế độ tổng thống như Pháp, tức là tổ chức thêm một vòng bầu cử nếu không có ứng viên nào nhận được đa số tuyệt đối trong vòng đầu tiên. Với cách làm như thế, Benin đã biến xung đột giữa ba sắc tộc tương đối vô hại thành xung đột giữa hai sắc tộc nghiêm trọng hơn rất nhiều. Lựa chọn thận trọng, chứ không phải sự tương đồng văn hóa, phải là nền tảng cho việc lực chọn hệ thống bầu cử.

Khi những quốc gia hậu thuộc địa xem xét lại cách thức tổ chức bầu cử, họ thường bỏ đi những hệ thống bầu cử được thừa kế từ mẫu quốc. Có một số bằng chứng về việc du nhập những hệ thống bầu cử từ những vùng lãnh thổ không có chung nền văn hóa hoặc không có quá khứ thuộc địa như nhau, nhưng nói chung, việc lựa chọn ra hệ thống bầu cử của các nước thuộc địa đều gần giống với hệ thống của mẫu quốc. Khi những nước nói tiếng Anh, ví dụ, Ireland hay Úc, lựa chọn hệ thống PR thì họ có xu hướng không chọn PR kiểu danh sách. Thay vào đó, họ thích chọn hệ thống lá phiếu khả nhượng đơn (single transferable vote – STV), đôi khi được gọi là phiên bản Anglo-Saxon của hệ thống PR. Và trong những trường hợp khác, khi không áp dụng hệ thống bầu cử FPTP nữa, họ vẫn duy trì hệ thống mỗi khu vực bầu cử một đại biểu (single-member constituency), ví dụ, hệ thống lá phiếu thay thế (AV), đã và đang được sử dụng ở Úc, Papua New Guinea, và Fiji.

Những hệ thống bầu cử mới có ảnh hưởng tới sự hình thành, hành vi và các hệ thống của các đảng phái. Sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu đưa nguyên xi cơ cấu đảng phái cũ vào tương lai, nếu hệ thống bầu cử mới được áp dụng. Khi hệ thống PR hỗn hợp (Mixed-member proportional representation: tức là hệ thống lai ghép, sử dụng hệ thống PR kiểu danh sách đảng cho toàn quốc và FPTP cho khu vực – ND) được áp dụng ở New Zealand, việc thiết lập một chính phủ sau cuộc bầu cử đầu tiên trở nên khó khăn hơn, và một đảng cánh hữu đã lên nắm quyền trong chính phủ liên minh, điều chưa từng xảy ra trong hệ thống bầu cử FPTP. Khi hệ thống AV được áp dụng ở Fiji, hai liên minh sắc tộc được hình thành, bao gồm hầu hết các đảng phái, và một liên minh đã giành được quyền thành lập chính phủ. Trong cả hai trường hợp, hệ thống mới đã làm thay đổi sức mạnh của các đảng tồn tại từ trước và làm thay đổi những sắp xếp của họ. Có thể cho rằng hệ thống mới nào cũng đều có thể tạo ra tác động mạnh mẽ ở bất kỳ khu vực nào, nhưng chỉ có thể đánh giá được một cách đầy đủ ảnh hưởng của hệ thống mới sau hai hay ba cuộc bầu cử, khi các chính trị gia và cử tri đã thích nghi với những động lực  của nó.

Thông thường, người ta cho rằng hệ thống FPTP sẽ thúc đẩy hệ thống đảng phái với tương đối ít đảng (đôi khi chỉ có hai đảng). Với hệ thống bầu cử này, một đảng giành được 48% số phiếu bầu thì gần như được đảm bảo sẽ có trong tay nhiều hơn 50% số ghế. (Kể cả 40% trên tổng số phiếu cũng có thể giúp đảng có cơ hội tốt để giành được đa số ghế tuyệt đối.) Do có những ghế cộng thêm này, hệ thống bầu cử FPTP thường góp phần làm cho quá trình thành lập chính phủ trở nên dễ dàng hơn so với các hệ thống khác, và thậm chí làm cho chính phủ trở nên bền vững hơn. Những người thích ổn định và thích sự nhất quán trong xây dựng chính sách thường thích hệ thống FPTP hơn. Nhưng tất nhiên, không phải ở đâu hệ thống này cũng có tác dụng như thế. Tại Ấn Độ, Malayasia, và Canada, hệ thống FPTP tương thích với các hệ thống đa đảng, vì sự phân chia trong xã hội làm cho việc tập hợp tất cả những khuynh hướng chính vào hai hoặc ba đảng là bất khả thi. Tuy nhiên, các hệ thống đa số tương đối vẫn thúc đẩy việc kết hợp những quyền lợi khác nhau vào một số ít đảng.

Mặt khác, hệ thống PR kiểu danh sách, được cho là tạo điều kiện thuận lợi cho đại diện của các tầng lớp xã hội. Những nhóm thiểu số bị lép vế trong hệ thống bầu cử đa số tương đối có thể có quyền đưa ra quan điểm, bởi vì nếu mỗi đảng giành được dù chỉ 5-10% tổng số phiếu bầu trên toàn quốc cũng đều giành được 5-10% tổng số ghế trong quốc hội. Tuy nhiên, ở những nơi có sự phân tầng xã hội phức tạp, việc áp dụng một hệ thống PR kiểu danh sách sẽ khuyến khích tạo ra nhiều phân hóa xã hội chứ không phải là hợp nhất của các khuynh hướng chính trị. Nếu nhiều nhóm xã hội được tổ chức thành các đảng riêng biệt, mỗi nhóm sẽ giành được một phần nhỏ trong tổng số ghế, và các khác biệt chính trị đó có khả năng sẽ bị khuếch đại lên chứ không thu nhỏ lại. Việc thành lập chính phủ có thể sẽ gặp khó khăn, cơ cấu chính phủ sẽ biến đổi khó lường, và rất khó giữ được ổn định. Giovani Sartori gọi tình trạng thái này là “đa số tương đối phân cực” (polarized plurarity), một trạng thái được thúc đẩy bởi hệ thống PR và có thể dẫn tới tình trạng bất ổn. Các đảng phái chỉ chăm chút cho những người ủng hộ họ và rất khó thỏa hiệp.4

Không phải tất cả mọi người đều đồng ý với những phán đoán trên. Những nhà lý luận về dân chủ thoả hiệp đa nguyên (Consociational democracy) lập luận rằng sự khác biệt sắc tộc có thể được hình thành từ các liên minh một khi tất cả các nhóm chính đã có đại diện trong quốc hội thông qua bầu cử đại diện tỉ lệ (và thông qua việc áp dụng các cơ chế quản lý mâu thuẫn, bên cạnh đại diện tỉ lệ). Tuy nhiên, như tôi đã nói bên trên, hệ thống bầu cử không chỉ đơn thuần đại diện cho những khuynh hướng đã có; mà còn định hình những khuynh hướng ấy. Các phe phái – trong những hệ thống khác – còn nằm trong một đảng chính trị vì sợ tự mình không thể giành được ghế trong cuộc bầu cử, trong hệ thống PR có thể muốn thành lập đảng riêng. Trong xã hội bị phân hóa gay gắt, với nhiều nhóm và các liên minh tiểu nhóm với nhiều quan điểm khác nhau, hệ thống PR kiểu danh sách có khả năng tạo ra quá nhiều phân hóa đảng phái.

Bằng cách đại diện cho nhiều sắc thái quan điểm khác nhau – và bằng cách làm gia tăng những sắc thái quan điểm này – hệ thống PR kiểu danh sáchkhông quan tâm tới mục tiêu chọn Condorcet winner. Và ngược lại: những hệ thống nào có khả năng chọn được Condorcet winner lại bỏ qua những quyền lợi do nhiều ứng viên thất cử đại diện, trong khi hệ thống PR làm được như thế. Tuy nhiên, hãy xin nhớ rằng Condorcet winner dường như thường là người ôn hòa. Mặt khác,  chiến thắng trong hệ thống PR có thể là người ôn hòa mà cũng có thể không ôn hòa. Động lực của hệ thống PR là đại diện cho tất cả mọi quan điểm, bất kể vị thế của họ trên đấu trường chính trị. Cụm từ của Sartori “đa số tương đối phân cực” rất thích hợp với đấu trường chính trị rộng hoặc có nhiều đấu trường khác nhau, đấy là khi, sự phân chia giai cấp cùng tồn tại với, nhưng không trùm lên phân chia sắc tộc, tôn giáo và vùng miền.

Do đó, hệ thống lựa chọn Condorcet winner cũng có khả năng thúc đẩy tinh thần hòa giải giữa các dân tộc, đơn giản là bằng cách ủng hộ các ứng viên ôn hòa hoặc thỏa hiệp nhiều hơn là ủng hộ các ứng viên cực đoan. Hệ thống bầu cử của Li-Băng (Lebanon) dường như làm được việc này, bằng cách ưu ái những ứng viên có thể tranh thủ được sự ủng hộ từ các cử tri bên ngoài nhóm của họ. Điều tương tự cũng xảy ra đối với những hệ thống đòi hỏi sự ủng hộ từ cử tri phân bố đều cộng với số phiếu trội hơn để có thể giành được chiến thắng: Các hệ thống này đảm bảo rằng ứng viên nào đáp ứng cả hai yêu cầu trên là người có sức hấp dẫn đối với đông đảo quần chúng và như thế, đấy khó có thể là người cực đoan, nổi tiếng chỉ bởi một nhóm dân cư của ông ta/bà ta ủng hộ mà thôi.

Lá phiếu thay thế cũng có lợi cho những ứng viên ôn hòa. Khác với hệ thống bầu cử FPTP, hệ thống AV là một hệ thống đòi hỏi người chiến thắng phải có 50% cộng với ít nhất một phiếu bầu nữa. (Mỗi lá phiếu kiểu AV bao gồm tất cả các ứng viên mà cử tri có thể bầu. Các cử tri sẽ sắp xếp các ứng viên theo thứ tự ưu tiên từ 1 tới 2 rồi 3 và cứ tiếp tục như vậy cho tới khi không còn ứng viên nào trên lá phiếu bị bỏ qua. Quá trình kiểm phiếu sẽ bắt đầu bằng cách để các lá phiếu vào hòm kiếm phiểu của các ứng viên được tích là ứng viên ưu tiên số một – ND). Nếu không có ứng viên nào nhận được 50% ưu tiên hạng 1, hệ thống AV sẽ loại bỏ ứng viên nhận được ít ưu tiên hạng 1 nhất, và với những lá phiếu có ưu tiên hạng 1 được dành cho ứng viên bị loại này, AV sẽ kiểm tra ưu tiện hạng 2 và chuyển tất cả các lá phiếu có ưu tiện hạng 2 đó sang cho các ứng viên được chọn tương ứng. Đếm xem có ứng viên nào đạt được 50% tổng số phiếu chưa. Quá trình kiểm phiếu tiếp tục được diễn ra giống như vòng đầu tiên. Quy trình được lặp lại cho đến khi có ứng viên nhận được 50% số phiếu bầu. Theo cách này, ứng viên giành chiến thắng là ứng viên có những người bỏ phiếu bên ngoài nhóm nòng cốt của họ, tức là những người đã bỏ phiếu cho họ với lựa chọn hạng 1. Một biến thể của dạng này là nguyên tắc Coombs: nếu không ứng viên nào giành được 50% ưu tiên hạng 1 trong vòng kiểm phiếu đầu tiên thì ứng viên nào nhận được nhiều ưu tiên hạng cuối nhất trong vòng đầu sẽ bị loại, chứ không phải ứng viên giành được ít ưu tiên hạng 1 nhất, và quá trình này sẽ được tiếp tục cho tới khi tìm được ứng viên có hơn 50% số phiếu. Người ta khẳng định rằng nguyên tắc Coombs tốt hơn AV trong việc lựa chọn Condorcet winner.5

Tuy nhiên, xin lưu ý rằng cả hệ thống AV và nguyên tắc Coombs đều không thể tạo ra kết quả theo tỷ lệ, tức là tỷ lệ giữa số phiếu trong vòng bầu đầu tiên với số ghế trong cơ quan lập pháp. Nhưng, tất nhiên, trong những hệ thống có thứ tự ưu tiên như vậy, việc đánh giá tính tỷ lệ chỉ dựa vào ưu tiên hạng 1 là hoàn toàn vô nghĩa. Đặc điểm tổng quát của hệ thống này là đếm ưu tiên hạng 2 và các ưu tiên tiếp theo, chứ không chỉ tính ưu tiên hạng 1 như hệ thống FPTP và hệ thống PR. Tính tỷ lệ thường lờ đi tính ôn hòa và tính ôn hòa thường lờ đi tính tỷ lệ. Đấy là hai mục tiêu hoàn toàn khác nhau.

Nếu những hệ thống ưu tiên như hệ thống AV hoặc nguyên tắc Coombs là nhằm để phản ánh toàn bộ mong muốn của cử tri, thì những hệ thống này cũng có khả năng định hình những mong muốn đó, và đồng thời định hình hành vi của các đảng phái cạnh tranh khi áp dụng các hệ thống này. Điểm mấu chốt cho vấn đề này là ngưỡng 50% để giành thắng lợi ở mỗi đơn vị cử tri. Khi các đảng phái nhận ra rằng tự họ có thể không thu được 50% số phiếu tại một đơn vị cử tri hoặc tại một số đơn vị cử tri, có khả năng là họ sẽ thiết lập liên minh trước khi diễn ra bầu cử để trao đổi ưu tiên hạng 2 và các hạng tiếp theo với nhau, vì nếu họ không làm như vậy, các đối thủ của họ chắc chắn cũng sẽ làm. Những hiện tượng tương tự như thế (nhưng thường ở mức độ thấp hơn) cũng xảy ra trong hệ thống FPTP, vì đảng nào muốn chiến thắng nhờ đa số tương đối có thể cố gắng để trở thành một tổ chức có sức thu hút rộng rãi với nhiều tập hợp quan điểm, xu hướng và nhóm xã hội hết sức đa dạng. Tuy vậy, ngưỡng đa số tương đối và đa số tuyệt đối có thể tạo ra cả những động lực khác cho các đảng phái trong hệ thống đảng phái bị phân mảnh. Trong cuộc cạnh tranh có bốn đảng tham gia theo nguyên tắc đa số tương đối, một đảng có thể chiến thắng chỉ với 26% hoặc 30% hoặc 35% số phiếu; và trong những cuộc cạnh tranh có ba đảng và bốn đảng, đảng này có thể giữ được tới 40 % hoặc thậm chí là 50% số ghế sau khi giành được thêm tỷ lệ nhỏ hơn rất nhiều của tổng số phiếu bầu. Một đảng như vậy không cần phải thu hút thêm ủng hộ một cách quá mức, và không cần phải thỏa hiệp với các nhóm xã hội khác để giành chiến thắng. Tuy nhiên, ở những nơi có ngưỡng giành chiến thắng tại mỗi đơn vị bầu cử là 50% và hệ thống đảng phái bị chia rẽ thì các đảng phái này sẽ cần thỏa thuận với các đảng phái khác nhằm trao đổi số phiếu từ vòng bầu cử thứ hai trở đi. Thành công của những phi vụ trao đổi rất có khả năng xác định được người chiến thắng cuối cùng.

Do vậy, các hệ thống ưu tiên khuyến khích thành lập liên minh trước bầu cử, và những liên minh đó, đến lượt mình, lại phụ thuộc vào khả năng của các đảng phái trong việc thỏa hiệp những khác biệt của họ. Vì thế, động lực hòa giải của các hệ thống kiểu này phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể.

Một hệ thống theo kiểu ưu tiên khác đó là hệ thống lá phiếu khả nhượng đơn (STV) tạo được ít động lực hơn những hệ thống vừa nói, vì ngưỡng chiến thắng bị khống chế theo một cách tính khác. STV được áp dụng với những đơn vị bầu cử được bầu nhiều đại biểu trong cơ quan lập pháp. Để trúng cử, một ứng viên phải giành được hạn ngạch theo công thức sau:

Nói cách khác, một ứng viên được cho là đã trúng cử trong đơn vị bầu cử bốn đại biểu nếu như người này giành được 20% phiếu bầu cộng với một phiếu nữa. Ngưỡng chiến thắng thấp như vậy hầu như không khuyến khích quá trình chuyển nhượng phiếu bầu, mặc dù ghế cuối cùng trong một đơn vị bầu cử có thể được quyết định bởi số phiếu được chuyển nhượng, bởi vì các phiếu vượt qua hạn ngạch chiến thắng được chuyển nhượng bằng cách kiểm tra lựa chọn ưu tiên hạng 2 và các ưu tiên sau đó của các cử tri bỏ những phiếu thêm này rồi chuyển chúng sang cho các ứng viên khác và cứ tiếp tục quá trình kiểm phiếu như vậy cho tới khi tìm đủ số đại biểu. Do vậy, hệ thống STV không khuyến khích người ta thỏa hiệp mạnh bằng các hệ thống ưu tiên với ngưỡng là đa số tuyệt đối (50% trở lên – majority thresholds).

Nếu các đảng không tìm kiếm phiếu bầu (trong trường hợp này là khi xét các lựa chọn ưu tiên từ thứ 2 trở đi) từ các cử tri đã bỏ phiếu ưu tiên hạng 1 cho các đảng khác, thì sẽ có hệ quả quan trọng. Trong những môi trường bị phân cực về mặt xã hội, các đảng có thể không cần làm cho quan điểm của mình trở thành ôn hòa hơn, và những người ủng hộ các đảng này cũng không cần bận tâm tới những đòi hỏi của các nhóm xã hội khác. Tất nhiên, sau bầu cử người ta có thể tạo liên minh để thành lập chính phủ. Khi áp dụng hệ thống PR kiểu danh sách hay hệ thống STV, hay FPTP trong điều kiện các đảng phái bị phân mảnh, có thể sẽ cần những liên minh hậu bầu cử, nhưng các liên minh này sẽ không dựa trên hiểu biết mà các đảng lập ra liên minh trước bầu cử cần phải có nhằm tối đa hóa tỷ lệ phiếu bầu của họ, mà chỉ đơn giản là liên kết với nhau để giành đủ ghế nhằm thành lập chính phủ.

Điều đó không có nghĩa là nói rằng hệ thống STV không có chức năng hữu ích nào. Nói chung, nó tạo ra kết quả là số ghế tỷ lệ với số phiếu bầu, nếu tính ngay trong lần bỏ phiếu đầu tiên, mặc dù tỷ lệ giữa số phiếu và số ghế phụ thuộc rất nhiều vào số đại biểu mà mỗi đơn vị bầu cử được bầu (số đại biểu càng nhiều, tỷ lệ càng chính xác). Và vì hệ thốngSTV dựa trên các đơn vị cử tri, do vậy, nó cũng tạo ra trách nhiệm trước cử tri đoàn tương tự như hệ thống FPTP hay hệ thống AV, mặc dù, tất nhiên, việc bầu nhiều đại biểu và ngưỡng đắc cử thấp có thể làm cho các ứng viên ít quan tâm tới quyền lợi của những nhóm cử tri mà ông ta/bà ta cho rằng mình không phải là thành viên. Hệ thống PR kiểu danh sách khu vực cử tri (consituency-list PR) cũng là hệ thống tạo ra trách nhiệm giải trình trước các cử tri và chú trọng tới địa phương mà hệ thống PR kiểu danh sách quốc gia (national-list PR) không thể làm được.

CHÚ TRỌNG ĐẾN CÁC CHI TIẾT THIẾT YẾU

Tôi đã thảo luận về các hệ thống bầu cử từ quan điểm mục tiêu, xem xét những khác biệt lớn trong kết quả bầu cử hoàn toàn từ những khác biệt giữa những tính chất vốn có của những hệ thống đó. Nhưng tôi phải đưa ra một số cảnh báo quan trọng như sau. Kết quả bầu cử không chỉ được tạo ra bởi hệ thống bầu cử, mà còn bởi mô hình phân tầng xã hội đã tồn tại từ trước đó, dù đấy có là phân tầng đơn giản hay phức tạp, dù lưỡng cực hay đa cực thì cũng thế. Có phải chỉ có một trục khác biệt trong xã hội được phản ánh trong hệ thống đảng phái hay còn có nhiều hơn thế nữa? Phân hóa xã hội chồng chéo lên nhau đến mức độ nào? Có hai, ba hay nhiều hơn nữa các quan điểm để cử tri tự định vị theo mỗi trục khác biệt? Và sau đó, là những đặc điểm đặc thù của công việc tổ chức bầu cử trong chính thể. Những đặc điểm này có thể lái kết quả theo hướng này hay hướng khác. Với những hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị cử tri, ranh giới và sự phân chia đơn vị cử tri là những vấn đề hết sức quan trọng. Ranh giới đơn vị cử tri có được vạch ra nhằm tối đa hóa tính đồng nhất hay tối đa hóa tính hỗn hợp theo những trục khác biệt liên quan. Nhu cầu cấp bách về việc đảm bảo bầu cử sẽ phải thay đổi một cách tương ứng. Liệu ranh giới có được vạch ra sao cho một số nhóm cử tri lãng phí phiếu bầu khi bầu cho những ứng viên được các đa số tuyệt đối lớn ủng hộ trong khi các nhóm cử tri khác có thể sử dụng lá phiếu của họ một cách hiệu quả hơn? Các đơn vị bầu cử có bình đẳng hay bất bình đẳng với nhau về dân số? Chia đơn vị bầu cử sai – nghĩa là bất bình đẳng về dân cư của cử tri đoàn – là nguồn gốc chính của bất công trong bầu cử.

Đối với hệ thống PR kiểu danh sách, vấn đề tương tự là nên đặt ra ngưỡng thấp (từ 1% đến 2%) hay ngưỡng cao (từ 5% trở lên) để cho một đảng nào đó đảm bảo được quyền đại diện? Hệ thống mà bất cứ đảng nào giành được 1% phiếu bầu cũng có thể giành được một ghế hoặc một số ghế trong quốc hội, sẽ có khả năng khuyến khích các đảng chia thành phe cánh và việc chia tách này có thể tạo điều kiện cho các đảng rất nhỏ, tức là những đảng có thể thành lập hoặc phá vỡ chính phủ, có ảnh hưởng quá mức trong quá trình lập chính sách và nhận bảo trợ như các đảng nhỏ ở Israel đang làm. Trớ trêu là, nếu tính tỷ lệ được tích hợp vào hệ thống như vậy càng hoàn hảo thì kết quả cuối cùng của chính sách càng có khả năng bất tương xứng.

Ngưỡng quá cao trong hệ thống PR thậm chí còn tạo ra nhiều kết quả khó lường hơn nữa. Nếu toàn bộ cử tri đoàn bị phân hóa, một số đảng có thể không đạt được ngưỡng và không có đại biểu nào trong quốc hội, và vô tình đẩy rất nhiều ghế sang phía các đảng vượt qua được ngưỡng. Ví dụ nổi bật là kỳ bầu cử năm 2002 ở Thổ Nhĩ Kỳ, khi Đảng Công lý và Phát triển có nguồn gốc Hồi giáo giành được đại đa số ghế chỉ với một lượng nhỏ phiếu bầu, và rất nhiều đảng thất bại khi không thể vượt qua ngưỡng 10%, và 46% trên tổng số phiếu đã bị lãng phí.6

Điều này đủ để thấy các chi tiết này hết sức quan trọng. Các hệ thống bầu cử cần được thiết kế gần nhất với điều mà người thiết kế muốn chúng thực hiện. Tất nhiên, trong nhiều trường hợp, những người thiết kế muốn các hệ thống có thể cho ra những kết quả đủ sức đảm bảo những lợi ích mà họ quan tâm. Tôi cho rằng có nhiều cách để đánh giá các hệ thống bầu cử và những dàn xếp đặc biệt phù hợp với chúng. Và rất có thể, ý định của người thiết kế hệ thống dù đi theo chiều hướng nào, thì vẫn sẽ có một số hệ quả nằm ngoài dự kiến.

Trong mọi phân tích, cách thức tiến hành là đặt câu hỏi xem cần chú ý thúc đẩy mục tiêu nào, cần ưu tiên những mục tiêu nào hơn, và nếu phải sử dụng tới các phương thức thay thế, tác động của việc thay thế này sẽ ra sao. Không ai có thể trả lời những câu hỏi này khi chưa có bản phân tích toàn diện liên hệ giữa luận điểm bầu cử với hệ thống đảng và mô hình phân hóa xã hội.

Có rất nhiều cách bóp méo ngay cả những hệ thống bầu cử đã được chọn lựa cẩn thận nhất. Cách phổ biến nhất liên quan đến ranh giới và quy mô của các đơn vị cử tri. Những đơn vị cử tri với số lượng cử tri chênh lệch nhau quá lớn là nguyên nhân chính gây ra các kết quả bất cân đối. Những đơn vị cử tri mà ranh giới được mở rộng để tạo nhiều lợi thế hơn cho nhóm sắc tộc này so với nhóm sắc tộc khác có thể làm mất đi những ảnh hưởng tích cực của các hệ thống bầu cử với đặc tính hòa giải sắc tộc. Các ranh giới được đặt ra với mục đích ủng hộ những người đang nắm quyền có thể làm cho những thay đổi chính trị cần thiết trở thành bất khả thi. Do vậy, điều cực kỳ quan trọng là, không chỉ chọn ra một hệ thống bầu cử thích hợp mà còn phải đảm bảo rằng nếu các ranh giới được mở rộng ra bởi các cơ quan của chính phủ thì các cơ quan này phải có tính trung lập, chuyên nghiệp và càng độc lập thì càng tốt.

Ở những nơi mà việc hòa giải sắc tộc hoặc tôn giáo được coi là mục tiêu chính thì việc mở rộng đơn vị bầu cử phải tuân theo một số yêu cầu đặc biệt. Dù chọn hệ thống AV hoặc nguyên tắc Coombs hoặc hệ thống như ở Li-Băng (Lebanon), các đơn vị bầu cử phải được phân chia để đảm bảo sự đa dạng về thành phần.

Việc chú trọng tới chi tiết như thế là yêu cầu bắt buộc để làm cho hệ thống bầu cử tổng thống theo kiểu Nigeria hoạt động một cách hiệu quả. Hệ thống bầu cử của Nigeria năm 1978 đòi hỏi ứng viên chiến thắng phải giành được đa số tương đối và cộng thêm 25% phiếu trong ít nhất hai phần ba tổng số các bang. Hệ thống này vừa khuyến khích việc tìm những người ủng hộ phân bồ đều khắp, vừa đảm bảo rằng không có ứng viên nào chỉ có một số vùng ủng hộ lại trúng cử. Vì vậy, việc cần làm là cung cấp các phương án dự phòng rõ ràng và dứt khoát để chọn ra một tổng thống nếu tình huống bất ngờ này xảy ra. Các nhà lập hiến ở Indonesia mới đây đã áp dụng ngưỡng 50% + 1 cùng với yêu cầu phân bổ theo tỉnh, điều này khiến các ứng viên khó giành được thắng lợi trong vòng đầu tiên nếu có một vài ứng cử viên. Điều quan trọng ở đây là không nên đặt ra ngưỡng quá cao để không xóa bỏ những lợi ích của hệ thống đang được áp dụng. Tóm lại, phương án bầu cử không thể dừng lại chỉ ở mức độ hệ thống bầu cử mà còn phải bao quát tất cả các chi tiết về vận hành để có thể thu được những lợi ích của hệ thống được ưa thích hơn.

Mặc dù ở trên tôi có nhắc tới cụm từ “hệ thống được ưa thích hơn”, nhưng không phải tất cả những người tham gia lựa chọn đều ưa thích cùng một hệ thống. Nhóm người nhận được lợi thế từ hệ thống này sẽ thích hệ thống đó hơn, và ngược lại, những người gặp bất lợi khi hệ thống đó vận hành sẽ thích các lựa chọn thay thế khác, điều này phụ thuộc vào sở thích riêng và dự đoán của họ về tác động của từng hệ thống. Khi Nhật Bản thay đổi hệ thống bầu cử vào năm 1994, nhiều nhà chính trị đối lập đã ủng hộ hệ thống đa số tương đối, tức là hệ thống có thể tạo ra hệ thống hai đảng cạnh tranh với nhau, nhưng những người khác lại muốn hệ thống tỷ lệ, tức là hệ thống có khả năng đảm bảo cho các đảng thiểu số sống sót được. Kết quả là nước Nhật đã áp dụng hệ thống lai ghép như đã mô tả bên trên.

Vì vậy, việc lựa chọn một hệ thống bầu cử chắc chắn là sẽ kéo theo những ưa thích mâu thuẫn với nhau và những dự đoán không chắc chắn về tác động của hệ thống này. Và chính quá trình lựa chọn hệ thống mới cũng có những yêu cầu riêng của nó. Việc cần phải có đa số để thông qua có thể làm cho một vài nhà lập pháp với những quyền lợi đặc thù gây ra ảnh hưởng quá mức và vì vậy mà có thể lái cuộc cải cách sang hướng này hay hướng kia. Dù mục tiêu có rõ ràng đến mức nào, cũng khó mà có thể thực hiện được một cuộc cải cách hoàn hảo.

DịchBook Hunter
Biên tập và hiệu đính: Nguyễn Thế Anh và Lê Duy Nam

Tìm hiểu thêm về dự án dịch sách Hệ thống bầu cử và Dân chủ tại đây: https://foxstudy.org/san-pham/du-an-dich-sach-he-thong-bau-cu-va-dan-chu/

CHÚ THÍCH

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới IKMAS và giám đốc IKMAS – Giáo sư Ragaya Mat Zin, vì lòng mến khách trong thời gian chấp bút bài báo này, và cũng xin cám ơn Chương trình Fulbright Senior Specialist vì đã hỗ trợ nơi ăn chốn ở cho tôi trong suốt thời gian hoàn thành bài nghiên cứu.

  1. Bỏ phiếu dồn tích đã được mô tả như một hệ thống bao gồm những khuyến khích phân quyền – là những lý do khiến các ứng viên tạo nên khác biệt bằng việc nhận lấy những vị trí xa khỏi trung tâm chính trị. Gary W. Cox, “Khuyến khích Hướng tâm và Ly tâm trong các Hệ thống Bầu cử (Centripetal and Centrifugal Incentivé in Electoral systems),” Tạp chí Chính trị học Hoa Kỳ 34 (tháng mười một năm 1990): 903-35.
  2. Muốn có một trong số nhiều bài đánh giá, hãy đọc Charles Cameron và những người khác, “Có phải khu vực bầu cử Đa số – Thiểu số tối đa hoá đại diện da đen đáng kể trong Quốc hội? (Do Majority – Minority Districts Maximize Substantive Black Representation in Congres?)”Review Chính trị học Hoa Kỳ (tháng mười hai năm 1996): 794-812.
  3. Xem Micheal F. Thies, “Thay đổi cách người Nhật Bầu cử: Hứa hẹn và Cạm bẫy trong Cải cách Bầu cử 1994 (Changing How the Japanese Vote: The Promise and Pitffalls of the 1994 Electoral Reform),” trong John Fuhsheng Hsieh và David Newman, eds., Châu Á Bầu cử thế nào (How Asia Votes)(London: Nhà xuất bản Chatham, 2002), 92-117.
  4. Sartori đưa ra quan điểm này trong “Các đảng phái Chính trị Châu Âu: Trường hợp của Đa số tương đối phân cực (European Political Parties: The Case of Polarized Pluralism,” trong Joseph LaPalombara and Myron Weiner,eds., Các Đảng Chính trị và sự Phát triển Chính trị (Political Parties and Political Development) (Princeton: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 1996), 137-76. Sartori đã theo đuổi chủ đề này trong Các Đảng và các Hệ thống đảng: một Khung hình cho Phân tích (Parties and Party Systems: A Framework for Analysis) (New York: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1976), và gần đây có nhiều tranh luận về chủ đề này hơn trong Kỹ thuật So sánh Lập Pháp: một Điều tra về các Cấu trúc, Khuyến khích và Kết quả tái bản lần hai (Comparative Constitutional Engineering: An Inquiry into Structures, Incentives and Outcomes 2nd) (New York: Nhà xuất bản Đại học New York, 1997). Xem thêm cả Gary W. Cox, “Khuyến khích Hướng tâm và Ly tâm trong các Hệ thống Bầu cử, (Centripetal and Centrifugal Incentives in Electoral Systems)” 921-22.
  5. Bernard Grofman và Scott Feld, “Nếu Bạn Thích Lá phiếu Thay thế (còn gọi là Bỏ phiếu chung cuộc tức khắc-Instant Runoff), Thì Bạn sẽ Thực sự Thích Nguyên tắc Coombs” (If You Like the Alternative Vote (a.k.a the Instant Runoff), Then You’ll Really Like the Coombs Rule), bài viết chưa xuất bản, Đại học California-Irvine, ngày 1 tháng ba năm 2002.
  6. Soli Özel, “Thổ Nhĩ Kỳ khi Bầu cử: Sau cơn Sóng thần (Turkey at the Polls: After the Tsnami),” Tạp chí Dân chủ 14 (tháng tư 2003): 80-94.