Trong lịch sử văn hóa nghệ thuật, Ý có hai đóng góp lớn. Đất nước hình chiếc ủng là nơi đánh dấu sự hoàn kết của văn minh Hy-La, thông qua Imperium Romanum (Đế quốc La Mã). Thứ nữa, nó là cái nôi khởi sinh phong trào Phục hưng tại châu Âu thế kỷ XV. Ngày nay, Ý đã đánh mất ít nhiều sự hấp dẫn mỹ miều của nó (thoáng đọc đâu đó người ta còn dám đưa ra phép loại suy Ý là “Việt Nam của châu Âu,” Napoli là thành phố rác, còn ở Rome thì xe cộ đỗ chật đường hơn cả… vỉa hè Hà Nội), nhưng những di sản lịch sử vẫn còn tồn tại vẹn nguyên, bảo chứng cho sự trác tuyệt toàn bích của nghệ thuật nhân loại.

Sự vận động phát triển của nghệ thuật, tất yếu phải luôn mang tính chất nội sinh. Khi nghệ thuật Gothic đang làm mưa làm gió bên kia dãy Alps, thì lúc này, những Brunelleschi hay Donatello ở Ý bắt đầu hồi quy trở về phong cách Cổ điển. Ở Ý, phong trào Phục hưng trong nghệ thuật kiến tạo hình thành nên ba trung tâm lớn là Florence, Rome và Venice. Tôi có may mắn, là ngoài những điểm người ta đã đến và cưỡi ngựa xem hoa nhiều như Milan, Pisa, Genoa, hồ Como thơ mộng… thì cũng được ghé thăm trọn vẹn ba trung tâm nghệ thuật lớn trên. Bởi lẽ, nếu ấp ủ trở thành một connoisseur (một người say mê nghệ thuật), mà chưa được tiếp xúc trực tiếp và đắm mình vào không gian nghệ thuật nơi đây, thì quả thực là tôi “chưa sạch nước cản” mất rồi.

Một thành phố ba chìm bảy nổi với biển cả, cùng chiếc gondola độc mộc thoải trôi trên những dòng kênh len lỏi giữa ngõ phố. Kiến trúc của Venice, khác với lối kiến trúc gạch tự nhiên của Pháp, không chỉ đậm chất gothic Ý đa màu sắc và tỉ mỉ chi tiết, mà còn có sự ảnh hưởng của phong cách Byzantine và Ottoman. Xen giữa thời Phục hưng và Baroque, ở Venice hình thành hẳn một trường phái nghệ thuật Venetian về kiến trúc, hội họa và thủ công mỹ nghệ (thủy tinh), sánh ngang hai trung tâm Phục hưng khác là Florence và Rome. Những con người làm nên trường phái Venetian ở đây là anh em Bellini, Giorgione, Titian, Tintoretto và Paolo Veronese.
Florence là trung tâm nghệ thuật lớn nhất của Ý thời Phục hưng, là nơi phát nguyên phong trào Phục hưng cách tân trên mọi lĩnh vực thi ca, hội họa, điêu khắc. Dòng họ Medici cai quản xứ này cũng chính là người bảo trợ cho các bậc thầy thiên tài Leonardo da Vinci và Michelangelo. Nhà thờ Duomo ở Florence, tuy không lớn hoành tráng như nhà thờ Duomo ở Milan, nhưng lại rất đỗi độc đáo. Ta có thể nhận thấy rõ sự thiên di biến dịch và ảnh hưởng của nghệ thuật Ả Rập ở công trình này, qua chất liệu cẩm thạch với màu sắc phóng khoáng, và cấu trúc vòm gạch theo hình bát úp (cupola – một đặc trưng của các nhà thờ Hồi Giáo).



Rome là nơi hạnh ngộ trùng phùng của các trường phái, đặc biệt là kiến trúc và mỹ thuật bên trong tòa thánh Vatican. Đỉnh cao của nghệ thuật phương Tây nói riêng và nhân loại nói chung, theo quan niệm phổ biến? Thời kỳ Phục hưng. Nhắc tới Phục hưng? Người ta nhắc tới tam vị Leonardo Da Vinci, Michelangelo và Raphael. Con người thứ hai ở đây, chính là một nghệ sĩ được đánh giá là vĩ đại nhất trong lịch sử nghệ thuật, tác giả của hàng loạt tác phẩm huyền thoại như tượng David, Đức Mẹ sầu bi (Pietà), thiết kế vương cung thánh đường St. Paul… “Tôi nhìn thấy thiên thần trong đá và tôi tạo tác để giải phóng chúng” là câu nói nổi tiếng hay cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của ông.



Không nơi đâu biểu kiến tường tận hội họa Phục hưng hơn là Nhà nguyện Sistine. Nơi đây quy tụ tranh của những bậc thầy Phục hưng minh tuệ như Sandro Botticelli, Pietro Perugino, Pinturicchio, Domenico Ghirlandaio, Cosimo Rosselli và Raphael. “Viên đá đính vòm” của nhà nguyện Sistine, chính là bức bích họa trần nhà “Sự phán xét cuối cùng” của Michelangelo, đứng trên tất cả các danh họa trên. Để thực hiện tác phẩm này, Michelangelo phải đứng vẽ thay vì nằm vẽ, ngay khi vữa còn tươi trong vòng 4 năm. Một kỹ thuật vô cùng khó trong hội họa, bởi chỉ cần một đường nét sai sót là bất khả sửa chữa và phá hủy hoàn toàn tổng thể họa phẩm. Nhưng cũng chỉ có duy nhất Michelangelo đủ bản lĩnh để đảm đương thực hiện nó, thực hiện sứ mệnh thiêng liêng của tôn giáo, và có lẽ thần thánh đã nhập ông. Đứng trước kiệt tác này, tha nhân chỉ biết chết lặng và thán phục.



Bên cạnh kiến trúc và hội họa, Michelangelo còn là một bậc thầy điêu khắc tạo hình. Bức tượng David chính là một chứng nhân sống động, với tỷ lệ cơ thể gần như hoàn hảo. Để lý giải điều này, có thể truy nguyên tới niềm say mê nghiên cứu giải phẫu học, cũng như đặc quyền được nhà thờ cho phép giải phẫu cơ thể của Michelangelo. Nếu như các điêu khắc gia khác chỉ chú trọng thao tác hình thù cơ thể bên ngoài và chi tiết gương mặt, thì Michelangelo thổi hồn cho toàn bộ xương, gân và các cơ quan bên trong của bức tượng, để cho sức sống bên dưới lớp da được trỗi dậy. Song có một đặc điểm mà người quan sát thấy tương đối “bất thường” ở tượng David, chính là kích thước của bộ phận sinh dục có vẻ như bị “làm nhỏ” đi. Điều này liên quan tới quan niệm thẩm mỹ của con người đương thời, rằng chỉ có động vật mới có kích cỡ lớn, và gán cho bộ phận sinh dục lớn ý nghĩa biểu trưng cho động vật man dã.
Nhưng sẽ thật là thiếu sót nếu không nhắc đến Leonardo da Vinci. Nói như triết gia Đức, Oswald Spengler, thì Leonardo không chỉ vượt qua cả những người đồng đại như Michelangelo hay Raphael, mà thậm chí ông đã vượt thoát khỏi quan niệm Phục hưng thời đại. Leonardo đã phát hiện ra sự lưu thông của máu trong cơ thể người, và nhờ vậy, ông hình dung được chức năng của các bộ phận cơ thể (trong khi tư duy giải phẫu của hai người đồng đại trên chỉ ở hình dạng và vị trí), một công việc đáng lẽ là của các thầy y, nhưng Leonardo vốn dĩ là một nhà bách khoa nên chuyện đó chẳng còn quá quan trọng. Tham vọng của Leonardo đâu còn là của một người nghệ sĩ đơn thuần nữa, ông mang khao khát của cả nhân loại, khao khát chinh phục không trung, chinh phục vũ trụ vô tận.

Tôi nghĩ, để lý giải cho đẳng cấp biểu đạt và sự giàu có đề tài trong các tác phẩm nghệ thuật Phục hưng, phải liên hệ tới kho tàng quy điển tôn giáo (canon). Khi mà nghệ thuật vẫn chưa bước sang giai đoạn nghệ thuật ý niệm (conceptual art), thì chủ đề vẫn đóng một vai trò quan yếu. Như đã nói ở trên, sáng tạo nghệ thuật thời Phục hưng là thực hiện sứ mệnh của thần thánh thiêng liêng, phần lớn kiệt tác đỉnh cao của giai đoạn này gắn liền với những công trình mang chức năng tôn giáo. Nghệ thuật thường được trưng bày trong không gian thiêng thay vì không gian phàm, thế tục. Cảm hứng đề tài đến từ các văn bản thiêng như Thánh Kinh, bao gồm Kinh Cựu Ước và Kinh Tân Ước, từ đức tin và sự sùng bái thánh thần. Một ví dụ điển hình là mọi nhiệt tâm đều hướng tới Mary, Nữ vương Thiên đàng và Đức Mẹ Đồng trinh. Hình ảnh Mary được tấn phong trên thiên đàng là một trong những motif xuất hiện sớm nhất trong nghệ thuật Gothic. Bà là một hình tượng ánh sáng, khiết trinh, trong trang phục trắng, xanh và vàng, bao quanh bởi các thiên sứ. Bà vươn tới đứa con mới sinh của mình; bà cảm nhận được thanh kiếm trong tim của mình; bà đứng dưới chân cây thập tự và nâng lấy cơ thể người con đã chết của mình (tức Jesus), mà hiện thân tiêu biểu nhất chính là Đức Mẹ sầu bi của Michelangelo.

Song, có lẽ nghệ thuật thời Gothic và Baroque mới thực sự mang cá tính của linh hồn Âu châu. Phục hưng, thực chất là tìm về Cổ điển, hay tìm cách hồi sinh nghệ thuật thời Hy-La Cổ đại. Điêu khắc tạo hình Hy Lạp mang đậm tính cơ/hình thể (σωμα), của cái bên ngoài, bởi nó thể hiện thế giới quan cổ điển – vật liệu đơn thuần, cơ thể vô hồn, phi không gian. Nói khác, nó biểu kiến tinh thần con người Apollonian đằng sau những kiệt tác cổ điển, vốn cảm nhận bản thân là một cơ thể trong rất nhiều cơ thể và chỉ thừa nhận những gì hiện diện tức thì trong không gian lẫn thời gian là thực tế. Bởi vậy, nghệ thuật cổ điển bị giới hạn bởi các rào cản giác quan, được thể hiện rõ ràng nhất trong bích họa (fresco), hoàn toàn thiếu vắng phối cảnh và chỉ tập trung vào mô tả hình thể người. Nó xuất phát từ não trạng ataraxia (αταραξια), hay sự tĩnh tại tâm linh của con người Apollonian, một linh hồn tĩnh. Người ta thường đánh giá cao văn hóa Phục hưng như một đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại, nhưng đối với Spengler, nó không hơn gì một sự quay trở về cổ điển, hay đổi mới cảm nhận thế giới cổ điển.

Có một điều không thể phủ nhận, những nghệ sĩ Phục hưng là mẫu người độc nhất vô nhị, và không thể có trở lại. Họ đã chuyên chở nghệ thuật vẫy vào không trung, trên đôi cánh của đức tin mãnh liệt nhất. Nietzsche đúng khi nói họ, với tư cách là những nhà nhân văn chủ nghĩa, là những người tấn phong tôn giáo và những sai lầm triết học của nhân loại, và họ không thể thực hiện điều này nếu không có niềm tin vào chân lý tuyệt đối của những sai lầm. “Nếu niềm tin vào chân lý như vậy dập tắt, nếu quang phổ cầu vồng bên bờ tận cùng của nhận thức và trí tưởng tượng con người mờ nhạt dần: thì chủng loại nghệ thuật, giống như Divina commedia (Thần khúc của Dante – ND), tranh của Raphael, bích họa của Michelangelo, nhà thờ Gothic, vốn bao hàm không chỉ một vũ trụ mà còn là cả một ý nghĩa siêu hình đối với các tác phẩm nghệ thuật, sẽ không bao giờ trổ nở trở lại. Một câu chuyện xúc động rồi sẽ được thuật lại, rằng đã từng có một nghệ thuật như vậy, một đức tin của những nghệ sĩ như vậy” (Nietzsche, Menschliches, Allzumenschliches: Ein Buch für freie Geister, 1878)./.
Tác giả: Phạm Minh Quân
Nguồn bài: https://www.facebook.com/theneoemperor/posts/340213062322178