Hà Nội bắt đầu đưa ra các con số cho thấy sự hoàn thành chỉ tiêu tiêm vaccine với niềm hi vọng rằng dịch bệnh sẽ được đẩy lùi theo cách này. Mới đây, nhà tôi nhận được một lời “nhắc nhở nhẹ” là sang tuần nếu gia đình không hoàn thành tiêm vaccine thì sẽ phải ký cam kết chịu trách nhiệm với cộng đồng và pháp luật.

Tôi được biết rằng, tại phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai (Hà Nội), lãnh đạo phường yêu cầu người dân ký cam kết rằng sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu từ chối tiêm vaccine phòng ngừa Covid-19 và là nguyên nhân lây lan dịch bệnh. Có thể nhiều người dân đã ký hoặc vội vàng đi tiêm vaccine vì sợ hãi với cụm từ “chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Tuy nhiên, toàn bộ quá trình thúc ép người dân ký cam kết này, bản thân nó, cũng là sự vi hiến và chưa hề được quy định theo pháp luật.

Trước tiên, chúng ta hãy cùng nhau làm rõ một số vấn đề cụ thể xoay quanh những yêu cầu mang tính dọa nạt với những cá nhân từ chối hoặc trì hoãn tiêm vaccine.

Khi thông tin về vaccine và chương trình tiêm thiếu sự minh bạch

Hiện nay, tất cả các thông tin liên quan đến vaccine tại Việt Nam dường như đều thiếu sư minh bạch, ngay từ các kết quả khoa học tại phương Tây. Từ niềm tin rằng vaccine sẽ là giải pháp cho đại dịch Covid-19 và mở cửa kinh tế, những nghiên cứu về tác dụng phụ của vaccine gần như bị bỏ qua. Tuy nhiên, chúng ta khoan hãy bàn đến vấn đề này, vì đó là một chủ đề dài và gây nhiều ý kiến tranh cãi, thế nên, chúng ta cứ tạm thời thỏa thuận chung với nhau một tiên đề để đi tiếp các vấn đề mà tôi sẽ đề cập dưới đây, rằng “Thôi được, cứ cho rằng vaccine là giải pháp để phòng ngừa Covid-19”.

Trong quá trình triển khai chương trình tiêm vaccine tại Việt Nam vẫn có rất nhiều điểm thiếu minh bạch mà một trong số ấy khiến nhiều người dân gây bực bội nhất, đó là: Không hề báo trước loại vaccine cho người dân tại địa phương. Dẫu rằng sợ người dân “kén cá chọn canh”, các chính quyền địa phương cũng nên thông báo trước loại vaccine sẽ tiêm cho người dân, cùng với cảnh báo những tác dụng phụ có thể gặp phải đã được các nhà nghiên cứu xác nhận, để người dân được quyền lựa chọn.

Thay vì đó, chính quyền địa phương các cấp lại chọn cách thúc ép vô tổ chức, không khám xét nghiệm sàng lọc đúng tiêu chuẩn, không chuẩn bị đủ điều kiện ngồi chờ, không hẹn lịch cụ thể cho đa phần người dân. Vậy là cuộc tiêm phòng trở thành một hoạt động nhốn nháo thiếu tổ chức, làm gia tăng nguy cơ đối với những người đăng ký đến tiêm nhưng buộc phải quay về. Và tệ hại hơn thế, không có một CAM KẾT nào đảm bảo chính quyền địa phương nói riêng và chính quyền trung ương nói chung, sẽ chịu trách nhiệm trong trường hợp cơ thể của tôi không tương thích với vaccine hoặc việc trong tương lai tôi vẫn có thể là tác nhân gây lây lan dịch bệnh trong cộng đồng dù đã tiêm vaccine, và trong trường hợp các biến thể mới tấn công thì sẽ ra sao.

Với một loạt chuỗi hoạt động tiêm phòng vô tổ chức, thiếu thông tin, quy trình không rõ ràng, thông tin thì mờ mịt, cùng với những rủi ro mà người đi tiêm phòng phải đối mặt, chồng tôi và tôi quyết định CHƯA ( và có thể là KHÔNG) tiêm vaccine Covid-19 nếu tình trạng không được cải thiện trong tương lai. Chúng tôi tin rằng có nhiều người cũng đang e ngại giống như chúng tôi. Và trước khi chính quyền yêu cầu chúng tôi chịu trách nhiệm CAM KẾT TRƯỚC PHÁP LUẬT hay cộng đồng, thì chính quyền hãy CAM KẾT CHỊU TRÁCH NHIỆM CHO TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE  của chúng tôi trong tương lai.

Hiến pháp và Pháp luật quy định gì về quyền của công dân và đối với những người không tiêm vaccine thì chính quyền có quyền hạn gì?

Một điều chắc chắn, không chính quyền địa phương nào được phép ép người dân ký các cam kết vi hiến bởi vì Hiến Pháp là văn bản pháp lý cao nhất, có ý nghĩa bao trùm nhất.

Điều 8, Hiến pháp Việt Nam năm 2013, đã khẳng định:

1. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.

2. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.

Điều này đồng nghĩa với việc tất cả các văn bản quy định ở mọi cấp, nếu không đảm bảo các điều được quy định trong Hiến pháp đều vô giá trị về mặt pháp lý. Và việc thúc ép dọa nạt người không tiêm vaccine liệu có thể được coi là “biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” hay không? Nếu có, thì đó là vi hiến. Nếu cán bộ phường gây áp lực và yêu cầu công dân ký các bản CAM KẾT như vậy, mỗi công dân đều có thể từ chối và nói với họ rằng yêu cầu này không nằm trong phạm vi quy định của Hiến pháp Việt Năm năm 2013.

Điều 119 về hiệu lực của Hiến Pháp cũng đã khẳng định rằng:

Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.

Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý.

Chính quyền địa phương các cấp chịu trách nhiệm thực thi hiến pháp và pháp luật tại địa phương chứ không được phép vượt quá trách nhiệm cũng như quyền hạn này. Ngay cả trong các trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương cũng cần “được giao” chứ không được phép tự ý quyết định theo quan điểm cá nhân lãnh đạo địa phương.

Điều 112 

1. Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương.

3. Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó.

Lãnh đạo phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai tuyên bố rằng: “Việc làm lây lan dịch bệnh thì ai cũng phải chịu trách nhiệm, chúng tôi quy định như vậy thì có vấn đề gì đâu”. Đây là một tuyên bố vô trách nhiệm và đổ hết trách nhiệm lây lan dịch bệnh lên những người không tiêm phòng vaccine. Vì lý do lây lan dịch bệnh cũng có thể đến từ chính những người đã tiêm phòng, thậm chí xa hơn, đến từ chính sách mở cửa tràn lan và cho phép tụ tập đông người. Do đó, nếu truy vấn trách nhiệm lây lan dịch bệnh thì phải truy vấn đến tận cùng của vấn đề. Không người dân nào phải CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC PHÁP LUẬT khi làm lây lan dịch bệnh nếu chưa có sự điều tra và truy cứu rõ ràng trách nhiệm của mỗi bên.

Những quy định cụ thể hơn liên quan đến dịch bệnh nằm trong Luật Phòng & Chống Bệnh truyền nhiễm năm 2007. Nguyên tắc của Luật Phòng & Chống Bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định như sau:

1. Lấy phòng bệnh là chính trong đó thông tin, giáo dục, truyền thông, giám sát bệnh truyền nhiễm là biện pháp chủ yếu. Kết hợp các biện pháp chuyên môn kỹ thuật y tế với các biện pháp xã hội, hành chính trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

2. Thực hiện việc phối hợp liên ngành và huy động xã hội trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm; lồng ghép các hoạt động phòng, chống bệnh truyền nhiễm vào các chương trình phát triển kinh tế – xã hội.

3. Công khai, chính xác, kịp thời thông tin về dịch.

4. Chủ động, tích cực, kịp thời, triệt để trong hoạt động phòng, chống dịch.

Thế nhưng, toàn bộ quá trình không đảm bảo chặt chẽ các yếu tố phòng dịch (Ví dụ như khuyến khích tụ tập đông người qua một loạt các hoạt động: kích thích du lịch đầu năm 2021, kêu gọi tụ tập làm căn cước công dân, cho phép tổ chức các lễ hội, khuyến khích bầu cử, tổ chức thi tốt nghiệp tràn lan dù đứng trước nguy cơ dịch bệnh đến gần,…), cho thấy rằng những sai phạm trầm trọng Luật Phòng & Chống Bệnh truyền nhiễm của một bộ phận quan chức trong chính quyền đã dẫn đến tình trạng bùng dịch hiện nay. Bên cạnh đó, trong quá trình tuyên truyền và tổ chức tiêm chủng cũng không hề đảm bảo nguyên tắc minh bạch, chính xác và kịp thời trong cung cấp thông tin cho người dân đã được quy định trong Luật.

Theo báo Tuổi Trẻ, bà Đặng Thị Huyền, phó trưởng Văn phòng Tiêm chủng mở rộng quốc gia, Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm quy định cơ quan chức năng có quyền yêu cầu bắt buộc người trong diện cần tiêm chủng đi tiêm chủng, đặc biệt ở vùng dịch. Thế nhưng, khi tìm hiểu văn bản Luật Phòng & Chống Bệnh truyền nhiễm, tôi thấy rằng yếu tố “bắt buộc” mà bà Huyền đưa ra là không chính xác. Chúng ta có thể tìm hiểu các Quy định về tiêm vaccine (văn bản ghi là “Vắc sin”) tại Mục 5 của Luật Phòng & Chống Bệnh truyền nhiễm.

Mục 5  quy định rất chi tiết từng Điều, mà mỗi người dân cần hiểu rõ để yêu cầu các cán bộ y tế tại địa phương thực hiện đầy đủ:

Khoản 3 điều 27 về nguyên tắc sử dụng vaccine khẳng định:

Vắc xin, sinh phẩm y tế phải được sử dụng đúng mục đích, đối tượng, thời gian, chủng loại và quy trình kỹ thuật sử dụng.

Điều này có nghĩa là các nhân viên y tế phải có đầy đủ xét nghiệm về tình trạng sức khỏe của mỗi người dân theo đúng tiêu chuẩn y học của loại vaccine chứ không phải chỉ đơn giản là đo huyết áp yêu cầu người dân khai báo y tế. Cần có ban thanh tra giám sát đầy đủ các quy trình này có được thực hiện hay không? Hay chỉ là tiêm lấy chỉ tiêu và thành tích?

Điều 28 quy định rằng tiêm vaccine là quyền của người dân, tuy nhiên điều 29 lại đưa ra một số trường hợp thuộc diện “bắt buộc”. Các quy định về tiêm vaccine bắt buộc cũng đòi hỏi rất nhiều yếu tố. Điều 29 cho thấy như sau:

1. Người có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tại vùng có dịch và đến vùng có dịch bắt buộc phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế đối với các bệnh có vắc xin, sinh phẩm y tế phòng bệnh.

2. Trẻ em, phụ nữ có thai phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc đối với các bệnh truyền nhiễm thuộc Chương trình tiêm chủng mở rộng.

3. Cha, mẹ hoặc người giám hộ của trẻ em và mọi người dân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ sở y tế có thẩm quyền trong việc sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc.

4. Miễn phí sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc trong các trường hợp sau:

a) Người có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tại vùng có dịch;

b) Người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử đến vùng có dịch;

c) Các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này.

Vậy thì pháp luật cần phải làm rõ thế nào là “vùng dịch”. Nhưng khái niệm “vùng dịch” rất mơ hồ và đến nay chưa có định nghĩa chính thức nào về mặt pháp lý, mà chỉ có khái niệm “ổ dịch”. Khái niệm “ổ dịch” được quy định trong Quyết định số 3468/QĐ-BYT ngày 7/8/2020 về “Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống COVID-19” do Bộ Y tế ban hành, “ổ dịch” COVID-19 là một nơi (thôn, xóm, đội/tổ dân phố/ấp/khóm/đơn vị…) ghi nhận từ 1 ca bệnh xác định trở lên”. Do đó, một phường như trường hợp phường Hoàng Liệt thì không phải là “ổ dịch” mà cũng chẳng phải là “vùng dịch”.

Luật Phòng & Chống dịch bệnh cũng không sử dụng khái niệm “vùng dịch”, mà chỉ sử dụng khái niệm “vùng có dịch”. Tại Điều 2 của Luật đã giải thích khái niệm này một cách rất mơ hồ:

14. Vùng có dịch là khu vực được cơ quan có thẩm quyền xác định có dịch.

15. Vùng có nguy cơ dịch là khu vực lân cận với vùng có dịch hoặc xuất hiện các yếu tố gây dịch.

Vậy thì, đầu tiên, “cơ quan có thẩm quyền” (không biết đích xác là những cơ quan nào) cần xác định một khu vực có quy mô rộng là “vùng có dịch” hay “vùng có nguy cơ dịch”, và sự xác định ấy không thể chủ quan, phiến diện mà phải dựa vào số liệu và quy định cụ thể. Việc xác định này liệu đã chính xác và làm đúng quy định hay chưa? Khái niệm “Vùng Đỏ” được đề cập đến trong Quyết định 2686/QĐ-BCĐQG ngày 31/5/2021 cũng không tương đồng với “Vùng có dịch”, mà xét về cách sử dụng ngôn từ hiện nay thì “Vùng Đỏ” vẫn chỉ là “Vùng có nguy cơ dịch” cao. Và Luật không bắt buộc đối với Vùng Đỏ, mà chỉ bắt buộc với Vùng Có Dịch. Đồng thời, Luật cũng không quy định rõ ràng thế nào là “người có nguy cơ mắc bệnh”.

Như vậy, để yêu cầu người dân tại một vùng nào đó, hoặc yêu cầu toàn dân tiêm vaccine thì chính quyền trung ương nói chung và chính quyền địa phương nói riêng phải thừa nhận sự tồn tại của “vùng có dịch” mà có lẽ đang được gọi tắt là “vùng dịch”. Việc nhập nhằng trong khái niệm và thiếu các cơ chế xác định tình trạng đúng tiêu chuẩn của các khái niệm đưa ra đã dẫn đến thực thi các chính sách tại địa phương thiếu nhất quán, vô tổ chức, và vi hiến.

Chính quyền địa phương hiện nay, dù tại các Vùng Đỏ (không phải ổ dịch), cũng chỉ có quyền hạn khuyến khích người dân tiêm vaccine ngừa dịch bệnh Covid-19 và đặc biệt phải thực hiện trách nhiệm tại Điều 30 của Luật, được quy định như sau:

1. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho việc sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế quy định tại khoản 3 Điều 28 và khoản 4 Điều 29 của Luật này.

2. Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm:

a) Ban hành danh mục bệnh truyền nhiễm phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này;

b) Tổ chức triển khai Chương trình tiêm chủng mở rộng và quy định danh mục bệnh truyền nhiễm phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc, độ tuổi trẻ em thuộc đối tượng của Chương trình tiêm chủng mở rộng quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này;

c) Quy định phạm vi và đối tượng phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc tuỳ theo tình hình dịch;

d) Quy định việc sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật này; điều kiện của cơ sở y tế quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật này; (Khoản 3 Điều 27 tôi đã đề cập đến ở trên, xin được bổ sung thêm Khoản 4: “Vắc xin, sinh phẩm y tế phải được sử dụng tại các cơ sở y tế có đủ điều kiện.” Liệu các điểm tiêm vaccine đồng loạt này có phải là “cơ sở y tế có điều kiện” hay không lại là một vấn đề đáng bàn cãi khác).

đ) Quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Hội đồng tư vấn chuyên môn để xem xét nguyên nhân khi có tai biến trong quá trình sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều này.

3. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức triển khai tiêm chủng, sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế.

4. Cơ sở y tế có trách nhiệm thực hiện việc tiêm chủng, sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế trong phạm vi chuyên môn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

5. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, bảo quản vắc xin, sinh phẩm y tế và người làm công tác tiêm chủng, sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế có lỗi trong việc sản xuất, kinh doanh, bảo quản, sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế thì phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình gây ra tai biến cho người được sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế theo quy định của pháp luật.

6. Khi thực hiện tiêm chủng mở rộng, nếu xảy ra tai biến ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe hoặc gây thiệt hại đến tính mạng của người được tiêm chủng, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Trường hợp xác định được lỗi thuộc về tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, bảo quản vắc xin, sinh phẩm y tế hoặc người làm công tác tiêm chủng thì tổ chức, cá nhân này phải bồi hoàn cho Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Kết luận

Những người ủng hộ quan điểm rằng vaccine là giải pháp phòng chống dịch hiệu quả rất dễ quy chụp những người hoài nghi chính sách tiêm vaccine toàn dân là tin theo thuyết âm mưu hay thiếu trách nhiệm cộng đồng. Nhưng, trên thực tế, sự hoài nghi này là có cơ sở mà cơ sở lớn nhất đến từ việc các cơ quan thuộc chính quyền không được cung cấp thông tin đầy đủ kết hợp với một loạt những quyết sách mang tính ép buộc hay các hoạt động tuyên truyền tẩy chay người không tiêm vaccine.

Gia đình tôi không phản đối vaccine, nhưng chúng tôi cảm thấy lo ngại với cách tổ chức tiêm phòng hiện nay mà chính phủ đang thực hiện. Chúng tôi cũng không thể chấp nhận các quyết định có nguy cơ vi hiến mà chính quyền địa phương có thể đưa ra bởi chúng có thể trở thành tiền lệ cho lạm quyền trong tương lai, và với quyền cũng như nghĩa vụ của công dân, chúng tôi không thể cho phép điều ấy xảy ra. Dần dần, lựa chọn không tiêm vaccine không còn là sự nghi hoặc về độ khả tín của vaccine mà còn là một ý thức chính trị, bởi vì sự cưỡng chế đã biến vaccine trở thành biểu tượng của cường quyền và độc tài. Tệ hại hơn, tại một số nơi trên thế giới, vaccine đã trở thành một định chế mang tính toàn trị mà những người không tiêm vaccine bị tẩy chay, coi là vô đạo đức và chống đối xã hội, và tất yếu sẽ dẫn tới mong muốn “lật đổ định chế” này. Như vậy, giải pháp vaccine ngày càng khó được chấp nhận hơn trên toàn thế giới.

Tôi mong rằng, Việt Nam sẽ không lặp lại vết xe “toàn trị” ấy và coi vaccine như một lựa chọn trong số vô vàn các lựa chọn khác trong quá trình Phòng & Chống dịch bệnh Covid-19 và để người dân tự do lựa chọn. Chính quyền các cấp có thể từ chối hỗ trợ tài chính cho các trường hợp bị bệnh do không tiêm vaccine chứ không có quyền truy tố hình sự hay bắt ép người không tiêm vaccine phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và cộng đồng, cũng như không có quyền hạn chế tự do đi lại của những người không tiêm vaccine vốn đã được quy định trong Hiến pháp.

Hà Thủy Nguyên

Đọc thêm về các bài về Covid-19:

Đạo đức đám đông và không Vaccine – Cộng đồng Tác giả và Dịch giả (foxstudy.org)