Có những quốc gia bên cạnh sức mạnh kinh tế và vị thế trên trường quốc tế, còn nổi tiếng nhờ những thiết chế văn hóa, mà bảo tàng là một thiết chế quan trọng, gắn bó với “công nghiệp du lịch”. Sự phát triển của bảo tàng được coi là diện mạo và tài sản văn hóa của một đất nước. Tính phổ biến của bảo tàng, vì thế, không thể phủ nhận.

Giá trị của bảo tàng ngày càng phát triển theo thời gian bởi quá trình tích lũy và làm giàu hơn những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của nhiều thế hệ, nhiều cộng đồng, bằng những hoạt động đặc trưng của bảo tàng. “Hồn cốt” của bảo tàng vừa là giá trị những gì nó lưu giữ, bảo quản, vừa là những gì nó mang đến cho xã hội qua các hình thức hoạt động.

Một số nguyên tắc cơ bản để bảo tàng có thể đạt hiệu quả cao trong việc thu hút và thuyết phục công chúng là: tính chân xác, rõ ràng về nguồn gốc xuất xứ của hiện vật; sự khái quát, đa dạng, tiêu biểu và liên tục của nội dung trưng bày; tính đơn giản, cụ thể và gây nên cảm xúc trong câu chuyện từ hiện vật; dễ dàng trải nghiệm và tiếp cận với hiện vật và tài liệu liên quan; cởi mở cung cấp dữ liệu trực tiếp và gián tiếp (online); duy trì và đa dạng hóa mối quan hệ và tương hỗ giữa hoạt động bảo tàng và người xem.

Một công trình “đẻ non” để “chào mừng, kỷ niệm” hay để tận dụng một cơ hội “đầu tư công” sẽ khó tránh được tình trạng ốm yếu, khó nuôi, “bỏ thì thương vương thì tội”, gây ra sự lãng phí và có khả năng xảy ra tiêu cực.
Tất cả nhằm đảm bảo cho mỗi bảo tàng có sự khác biệt, độc đáo về nội dung và trưng bày, sự đa dạng, hiện đại trong việc quảng bá và thu hút khách tham quan. “Hồn cốt” của một bảo tàng chỉ có khi “bảo tàng sống cùng xã hội”.

Ở nước ta, trừ một vài bảo tàng hình thành từ thời Pháp thuộc, phần lớn các bảo tàng được xây dựng do nhu cầu “từ trên xuống” (ý chí chính trị, tuyên truyền về lịch sử truyền thống,…) mà chưa phải do nhu cầu “từ dưới lên” (các sưu tập hiện vật đã được tập hợp, lưu giữ, nhu cầu giới thiệu nghệ thuật, cổ vật, di sản văn hóa vùng miền, địa phương, nhu cầu thưởng lãm của công chúng…).

Do đó không tránh khỏi sự trùng lặp, đơn điệu về nội dung trưng bày và hiện vật; bên cạnh đó “tính an toàn” của thông tin từ tư liệu hiện vật cũng làm hạn chế sự phong phú, đa dạng, sự xác thực của “những câu chuyện bảo tàng”. Vì vậy, nhiều bảo tàng địa phương có cái “cốt” mà thiếu phần “hồn”, gây nên sự nhàm chán, thậm chí bị dư luận phản ứng vì hoạt động kém hiệu quả, lãng phí.

Gần đây Bảo tàng Hà Nội phải thay đổi “chủ quản” vì đã mười năm nhưng hệ thống trưng bày chưa xong! Có thể nói đây là trường hợp điển hình mà dư luận lên tiếng phản ứng vì cái “cốt” của bảo tàng rất tốn kém (khoảng 2.300 tỉ đồng, đầu tư theo hình thức BT) nhưng thời gian trôi qua bảo tàng vẫn “vô hồn”.

Vài năm trước Dự án Bảo tàng lịch sử quốc gia (khoảng 11.000 tỉ đồng từ ngân sách nhà nước) đã phải dừng lại vì lý do tốn kém. Hiện tỉnh Vĩnh Long đang có Dự án Bảo tàng nông nghiệp (khoảng 400 tỉ đồng từ kinh phí của tỉnh và xã hội hóa) và dự án này cũng nhận được nhiều ý kiến lo ngại về nguy cơ phải “đắp chiếu” như Bảo tàng Hà Nội.

Kinh phí lớn là điều kiện quan trọng, cần nhưng chưa đủ, vì không chỉ xây dựng “nhà bảo tàng” hoành tráng, hiện đại mà còn cần những điều kiện vật chất, phương tiện kỹ thuật phù hợp với chức năng mục tiêu nội dung của từng loại hình bảo tàng cụ thể thì mới hoạt động được.
Hiện nay, để vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19 gây ra, Chính phủ quyết định thực hiện nhiều biện pháp kích cầu kinh tế, trong đó có những dự án đầu tư công. Có thể coi đây là một “thời cơ” cho việc xây dựng bảo tàng. Nhưng để thời cơ mang lại kết quả mong muốn thì không chỉ yếu tố kinh phí là quyết định.

Một công trình “đẻ non” để “chào mừng, kỷ niệm” hay để tận dụng một cơ hội “đầu tư công” sẽ khó tránh được tình trạng ốm yếu, khó nuôi, “bỏ thì thương vương thì tội”, gây ra sự lãng phí và có khả năng xảy ra tiêu cực.

Sự lãng phí không chỉ ở số tiền lớn bỏ ra xây dựng công trình bảo tàng, mà còn ở những sưu tập hiện vật, tài liệu, mẫu vật… đã được sưu tầm lưu giữ, bảo quản nhưng không được trưng bày hoặc trưng bày không phù hợp, làm giảm và mất giá trị văn hóa – khoa học; lãng phí ở đội ngũ cán bộ bảo tàng không phát huy được tri thức và khả năng chuyên môn.

Mặt khác, còn một hậu quả lâu dài hơn là làm cho công chúng ngày càng quay lưng lại với bảo tàng nói riêng và di sản văn hóa nói chung.

Việc Nhà nước đầu tư xây dựng các bảo tàng theo quy hoạch của ngành từ nhiều năm nay là cần thiết, nhằm nâng cao năng lực của ngành bảo tàng trong việc lưu giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, truyền thống lịch sử của đất nước, tham gia vào phát triển kinh tế – xã hội địa phương và quốc gia, đồng thời góp phần nâng cao dân trí và tri thức cho xã hội.

Kinh phí lớn là điều kiện quan trọng, cần nhưng chưa đủ, vì không chỉ xây dựng “nhà bảo tàng” hoành tráng, hiện đại mà còn cần những điều kiện vật chất, phương tiện kỹ thuật phù hợp với chức năng mục tiêu nội dung của từng loại hình bảo tàng cụ thể thì mới hoạt động được.

Để có một bảo tàng thực sự “sống được, sống khỏe” thì việc chuẩn bị cơ sở cho nó ra đời phải thật chu đáo, đầy đủ: từ các sưu tập hiện vật đến nội dung tiếp cận mới lạ và hình thức hiện đại; từ lực lượng cán bộ có trình độ nghiên cứu và nghiệp vụ giỏi đến các mối quan hệ “phát triển công chúng” trong xã hội…

Quan trọng hơn là định hướng cho bảo tàng phát triển bền vững cùng sự phát triển và nhu cầu của xã hội, không chỉ về vai trò, chức năng mà cả nguồn kinh phí. Bởi vì là một hoạt động văn hóa, bảo tàng không thể dựa mãi vào ngân sách nhà nước khi có thể “sống” bằng nguồn lực của chính mình, như nhiều bảo tàng trên thế giới đã thực hiện.

Nguyễn Thị Hậu

Bài đăng trên The Saigon Times

TS. Nguyễn Thị Hậu, nhà nghiên cứu khảo cổ học, văn hóa học và còn được biết đến…