Hà Thủy Nguyên viết và tổng hợp

Trong suốt năm 2018 – 2019, mối lo về tình trạng ô nhiễm môi trường do bụi mịn gia tăng trong cộng đồng do những chỉ số cao vượt ngưỡng cho phép. Những tháng đầu năm 2020, đại dịch Corona hoành hành khắp khu vực Á Đông, mà Việt Nam cũng nằm trong số đó. Để ngăn chặn nguy cơ lây lan của đại dịch, Bộ giáo dục đã có quyết định cho học sinh – sinh viên nghỉ học cho đến khi hết dịch, trong quãng thời gian này các buổi học online tự phát của giáo viên và học viên các trường đã được tổ chức, và dường như những kiến thức truyền đạt trên trường vẫn có thể được tiếp thu tại nhà qua các công cụ giảng trực tuyến. Đến đây, câu hỏi đặt ra là, chúng ta sẽ đến trường để làm gì nếu việc dạy và học online đang được đánh giá là hiệu quả, và xa hơn thế: Đã đến lúc hợp pháp homeschooling tại Việt Nam chưa?

Tại sao học sinh cần đến trường để tiếp thu kiến thức?

Trường học phổ thông và đại học là hình thức sao chép từ Châu Âu thế kỷ 16,17 và tiếp tục duy trì đến ngày nay. Trong tổ hợp của một ngôi trường, những công cụ được cung cấp bao gồm phòng thể chất, thư viện, phòng âm nhạc, phòng thí nghiệm… là phần bổ trợ cho sự truyền đạt kiến thức. Học sinh  đến trường không phải chỉ để học mà còn để tận dụng các công cụ hỗ trợ một cách tiết kiệm, kết hợp với sự gia tăng tương tác. Bằng việc cung cấp dịch vụ phụ đi kèm với dịch vụ cung cấp kiến thức, kinh doanh trường học là ngành kinh tế mang lại lợi nhuận cao tại Âu – Mỹ.  Và từ sau khi mở cửa, các trường tư nhân được phép hoạt động, thì ngành kinh doanh dịch vụ trường học ngày càng là thị trường cạnh tranh khốc liệt. 

Đối với những quốc gia duy trì tình trạng độc tôn tư tưởng và có nhu cầu kiểm duyệt cao, bắt buộc học sinh, sinh viên tới trường là cách thức hoàn hảo để tuyên truyền thông qua con đường giáo dục. Học sinh, sinh viên dành phần lớn thời gian ở trường và có ít không gian cá nhân, học thống nhất một chương trình đã định sẵn, với thư viện đã qua kiểm duyệt, là những điều kiện lý tưởng để vun đắp một hệ sinh thái đóng kín không ngần ngại thải loại các yếu tố dị biệt ngay từ khi mới manh nha.

Mời các bạn đọc thêm bài viết về nền giáo dục bắt buộc hiện nay:

Đối với các phụ huynh, nhu cầu gửi con đến trường xuất phát chủ yếu từ chất chồng các nỗi lo lắng. Nỗi lo lắng sâu kín nhất đó là họ kỳ vọng rằng trường học có thể giúp cho con cái có được nghề nghiệp ổn định cho tương lai và dù không tin tưởng lắm nền giáo dục, họ vẫn đành chấp nhận rằng nhà trường không cung cấp được kiến thức thì cũng cung cấp được bằng cấp và chứng chỉ cần thiết. Nỗi lo khác khi đề cập đến có thể khiến nhiều bậc phụ huynh tự ái, nhưng dường như là nhu cầu thực tế hơn, đó là họ cần có một chỗ trông trẻ và trường học đích thực là một môi trường trông trẻ đúng với ý họ. Giờ học của trường bao gồm khung chính và khung phụ đạo đều vừa khít với thời gian ở công sở, hoàn toàn thuận tiện cho đa số phụ huynh và nếu học sinh được nghỉ dài ngày như các kì nghỉ hè, hoặc như gần đây nhất là đợt nghỉ không thời hạn vì dịch Corona thì nỗi lo “gửi trẻ” là không thể chối bỏ.

Như vậy, đâu là nhu cầu thực của học sinh khi đến trường?

Để tiếp thu kiến thức ư? Nếu các bài giảng được số hóa và phát online, kết hợp với các buổi học chung trên nền tảng học trực tuyến, bổ trợ thêm những công cụ E-learning, thư viện số… thì nhu cầu này được giải quyết triệt để. Và nếu Bộ giáo dục phàn nàn về ngân sách để xây dựng những nền tảng này thì có lẽ nên làm một bài toán kinh tế so sánh giữa khoản tài chính chi ban đầu cho chiến lược số hóa nền giáo dục và khoản tiền đầu tư khổng lồ để trang bị, xây mới các trường học hay hàng năm in ấn sách giáo khoa.

Để tăng khả năng tương tác của học sinh – sinh viên ư? Đây là lý do nhiều người phản đối homeschooling thường viện dẫn. Trên thực tế, khi học sinh ở trường từ 7h30 sáng đến 17h30 chiều (và có thể còn hơn thế), tức là các em có khoảng 10 tiếng trong môi trường bị cô lập (Sinh viên mất ít thời gian ở trường hơn). Trong đó, các em dành đa số thời gian để nghe giảng thụ động, bao gồm thời gian học liên tục vào các buổi sáng và buổi chiều, chỉ nghỉ trong khung giờ nghỉ trưa và nghỉ 5-15 phút giữa các tiết học (trừ thời gian nghỉ thì các em học sinh đã mất 8 tiếng để ngồi im, lắng nghe lời giảng và không được phép tương tác với bạn bè). Sau giờ học sẽ là thời gian đi lại trên đường, ăn uống, làm bài tập về nhà, và có thể là cả học thêm. Tóm lại học sinh có quá ít thời gian cho phát triển cá nhân (sinh viên có thể có nhiều thời gian hơn), và sự tương tác với bạn bè, thầy cô, bố mẹ cũng hời hợt, và đương nhiên sự giao tiếp với xã hội càng ít có cơ hội được rèn luyện. Thế thì mục đích tăng tương tác của học sinh không thể đạt được tại môi trường trường học.

Với tình trạng xã hội ngày nay, khi con người phải đối mặt với đủ các tệ nạn xã hội, tệ hơn thế là ô nhiễm môi trường, dịch bệnh… thì đến trường học lại là một mối lo khác của các phụ huynh. Và dù cho khoa học kỹ thuật phát triển, các biện pháp phòng ngừa được cải thiện đáng kể, các học thuyết tâm lý học được áp dụng…  nhưng cũng không đủ để xử lý những vấn nạn đã đề cập ở trên, mà thậm chí nguy cơ ngày càng tăng cao hơn. Cùng với đó, những tiến bộ của thời đại thông tin cho phép học sinh tiếp thu kiến thức phổ thông tại nhà (chỉ có các chuyên môn phức tạp cần sự chỉ dẫn trực tiếp từ giảng viên và tận dụng công cụ chung như nghệ thuật, y học, khoa học, kỹ thuật…), đã đặt ra một câu hỏi lớn rằng: Có phải đã đến lúc nền giáo dục cần thay đổi mãnh liệt, chuyển từ hình thức học tập trung sang các dạng phân tán mà một trong các minh chứng thành công là homeschooling?

Homeschooling không phải phương pháp mới, mà đã có nền tảng từ lâu đời và ngày nay càng trở nên phổ biến

Đa số các bậc phụ huynh cho rằng homeschooling (hay còn gọi là giáo dục tại gia) là quá mới và chưa có nhiều tiền lệ. Nhưng trong lịch sử, homeschooling còn tồn tại lâu đời hơn so với giáo dục phổ thông.

Từ xa xưa, khi con cái được đẻ ra, thì bố mẹ hoặc những người thân khác trong gia đình như ông bà, anh chị em, họ hàng… phải đảm nhiệm trách nhiệm truyền đạt và dạy dỗ kinh nghiệm, kiến thức, nền nếp cho trẻ nhỏ. Từ đây hình thành nên các gia tộc đông đảo, sống quay quần, với tay nghề gia truyền xuất sắc ở khắp thế giới phương Đông và phương Tây. Những đứa trẻ được đào tạo theo lối này có cơ hội nhanh chóng tiếp thu kỹ năng và kiến thức tinh hoa của gia tộc từ khi còn nhỏ, nhưng sẽ là thiệt thòi lớn với những đứa trẻ không muốn tiếp tục duy trì ngành nghề tổ tiên truyền lại, và không có nhiều cơ hội để được học theo ý mình. Ngoài ra, các gia đình quý tộc cũng nuôi thầy dậy “homeschooling” cho con cháu của mình vì họ cho rằng con cháu của mình cần một chế độ giáo dục đặc biệt để đủ khả năng kế thừa địa vị xã hội và khối tài sản khổng lồ.

Từ thế kỷ 16,17, giáo dục phổ cập phổ thông được đánh giá là một hình thức giáo dục công bằng, đa chiều, giúp tạo ra các “công dân mới” phục vụ vận hành xã hội mới, từ đó được chính thống hóa đến ngày nay. Các nhà nước ban hành luật đi học bắt buộc tới toàn dân và nhu cầu học tại gia để phát triển các kỹ năng, kiến thức đặc biệt đòi hỏi tính chuyên sâu bị coi là ngoài vòng pháp luật. Thế nhưng, bắt đầu từ thập niên 1960s, 1970s, xu hướng homeschooling lại trỗi dậy và được đề xưởng bởi các nhà cải cách giáo dục bất đồng với nền giáo dục công nghiệp.

Rousas John Rushdoony là người đầu tiên ủng hộ homeschooling, và liên tục đưa ra các lập luận tấn công Horace Mann và John Dewey – những nhà cải cách trường học tiến bộ đang được ưa chuộng tại Mỹ trước những năm 1960s. Ông cho rằng cần thiết phải loại bỏ ảnh hưởng của nhà nước trong giáo dục và vận động đòi quyền cho học sinh homeschooling từ năm 1960. Trong thời gian này, hai chuyên gia giáo dục là Raymond và Dorothy Moore cũng đưa ra một nghiên cứu về vấn đề học sinh đi học bắt buộc trước độ tuổi từ 8 đến 12 không những thiếu hiệu quả mà còn gây hại cho trẻ em. Vợ chồng nhà Moores công bố quan điểm rằng việc học bắt buộc gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, sinh lý, kỹ năng xã hội và kỹ năng học tập, ví dụ như dễ trở thành tội phạm vị thành niên, mắc chứng bệnh cận thị… Thậm chí, nhà Moorses còn khẳng định những đứa trẻ “có giáo dục” này không có nhiều tình cảm bằng những đứa trẻ được sinh ra trong bộ lạc ở châu Phi. (1)

Bài phát biểu của nhà giáo dục John Holt, cha đẻ của homeschooling, ghi âm năm 1983

Năm 1976, nhà giáo dục John Holt đã kêu gọi đưa ra một “lộ trình không chính thức dành cho trẻ em” để giúp trẻ em thoát khỏi việc đi học bắt buộc, trong cuốn sách “Instead of Education; Ways to Help People Do Things Better”. Khi cuốn sách được xuất bản rộng rãi, nhiều gia đình từ khắp nước Mỹ đã liên lạc với ông và kể với ông về quá trình họ đang cho con học tại gia. Ngay năm sau, từ những câu chuyện thực tế ấy, Holt đã tổ chức tạp chí  “Growing Without Schooling” – “Trưởng thành không trường lớp”, một bản tin dành cho homeschooling. Trong một cuộc phỏng vấn, ông đã tuyên bố rằng:

Tôi muốn khẳng định rằng tôi không xem việc homeschooling (giáo dục tại nhà) như một câu trả lời cho sự tồi tệ của trường học. Tôi nghĩ rằng gia đình là cơ sở thích hợp để khám phá thế giới , thứ mà chúng ta vẫn gọi là học tập hay giáo dục. Gia đình là cơ sở tốt nhất dù cho trường học tốt đến đâu đi chăng nữa. (2)

Hiệp hội Bảo vệ Pháp lý Homeschooling (HSLDA) năm 2004 đã công bố tập nghiên cứu “Home Schooling Achievement” – “Thành tựu của Homeschooling”  khẳng định rằng kết quả học tập của trẻ em homeschooling xuất sắc hơn so với học sinh tham gia giáo dục bắt buộc. Những con số chỉ ra rằng học sinh trung học homeschooling có điểm số vượt trội hơn và không tồn tại sự cách biệt về điểm số giữa các nhóm thiểu số và giới tính trong quá trình homeschooling. (3) Vào năm 2011, một cuộc khảo sát được thực hiện với các học sinh công lập và các học sinh homeschooling cũng tiếp tục chỉ ra rằng phần lớn trẻ em homeschooling đạt điểm chuẩn cao hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu này còn chỉ ra rằng, trẻ em dưới 5 đến 10 tuổi đạt điểm số thấp hơn so với học sinh đi học bắt buộc. (4)

Dù bị nhận nhiều phản đối, đặc biệt từ phía các giáo viên, homeschooling vẫn ngày càng được ưa chuộng hơn vì khi trên bàn cân kinh tế, có thể dễ dàng thấy rằng homeschooling tiêu tốn ít tài chính hơn so với giáo dục bắt buộc. Tại Mỹ, khoản chi cho homeschooling (chưa tính thời gian của phụ huynh) ở mức trung bình là 500-600 USD/năm/học sinh, trong khi giáo dục bắt buộc đòi hỏi số tiền là 9000 – 10.000 USD/năm/học sinh (đã bao gồm thời gian của giáo viên)… Vấn đề khó khăn ở đây đó là liệu chính sách của các quốc gia có hỗ trợ cho học sinh homeschooling một cách công bằng về cơ hội và điều kiện xã hội tương đương với học sinh đi học bắt buộc hay không? Để đạt được sự công bằng này, chắc chắn đòi hỏi một quá trình vận động của cộng đồng trong thời gian dài, đặc biệt là ở các quốc gia vẫn đang cố duy trì tình trạng giáo dục phổ cập phổ thông bắt buộc.

Mời các bạn đọc thêm bài viết về quan điểm ủng hộ homeschooling từ trang cộng đồng FEE

Từ homeschooling đến cổng trường đại học…

Thêm một lo ngại nữa cho các bậc phụ huynh khi cân nhắc về homeschooling: Sẽ thế nào nếu một đứa trẻ đã quen với môi trường tại gia bước vào trường đại học. Liệu chúng có quen với các áp lực và mối quan hệ hoàn toàn xa lại? Viện nghiên cứu homeschooling của Mỹ đã công bố số liệu năm 1990 rằng 33% học sinh homeschooling đã tiếp tục học lên đại học, 17% theo học cao đẳng. (5) Nhiều học sinh homeschool cũng được nhận vào các trường đại học thuộc Ivy League. (6) Những con số trên cho thấy rằng học sinh homeschooling hoàn toàn có khả năng đảm bảo các tiêu chí tuyển dụng của trường đại học và có khả năng thích ứng với môi trường ấy.

Đến nay, hơn 1000 trường đại học tại Hoa Kỳ, Anh quốc, New Zealand, Úc, Canada và một số nơi khác chấp nhận homeschooling. Việc xét tuyển các ứng viên không có bằng cấp 3 đã có từ rất lâu. Đại học Harvard còn tuyên bố trực tiếp là trường chưa bao giờ yêu cầu ứng viên có bằng cấp 3 để vào học. Đại học Stanford cũng tuyên bố bằng cấp ba là không bắt buộc khi ứng tuyển vào trường. Bố mẹ muốn tìm hiểu quy trình xét tuyển ứng viên homeschooling của trường nào chỉ cần vào phần tuyển sinh (admission) của trường đó để xem tiêu chí đối với ứng viên homeschooling là gì để có sự chuẩn bị tốt nhất. Tuy nhiên, tiêu chí xét tuyển thông thường có một số điểm chính như sau: (7)

MỘT SỐ TIÊU CHÍ XÉT TUYỂN HỌC SINH HOMESCHOOLING CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC LỚN

Các trường học chấp nhận ứng viên homeschool thường xem xét nhiều tiêu chí khác như hồ sơ hoạt động của ứng viên, bài viết luận, điểm SAT, điểm ACT, điểm từ các trường cộng đồng (community college) chỉ yêu cầu chứng chỉ hoàn thiện chương trình phát triển giáo dục tổng quát GED (general educational development), và các thư giới thiệu. Các hoạt động ngoại khóa ấn tượng sẽ giúp ích nhiều cho ứng viên homeschool, đặc biệt là cho những bạn muốn có được học bổng.

Để tìm hiểu rõ hơn tiêu chí xét tuyển ứng viên homeschool, chúng ta có thể xem cụ thể trên website của một số trường đại học về tiêu chí xét tuyển ứng viên homeschool như thế nào.

Boston University

Đại học Boston khuyến khích các ứng viên đến từ nhiều hoàn cảnh khác nhau, kể cả các ứng viên homeschool. Trường đại học Boston áp dụng tiêu chuẩn học thuật đối với mội ứng viên, tuy nhiên trường nhận thức được rằng điểm số của học sinh homeschool có thể khác với kết quả học tập của các ứng viên truyền thống.

Ngoài hồ sơ ứng tuyển, các ứng viên homeschool cần gửi càng nhiều thông tin càng tốt về lộ trình học của bản thân, bao gồm mô tả khóa học, các bài đọc, các kỹ năng đã hoàn thiện. Mặc dù những thông tin này không bắt buộc nhưng chúng rất hữu ích cho Hội đồng Tuyển sinh trong quá trình đánh giá năng lực của ứng viên trên năm lĩnh vực học thuật là toán, khoa học, khoa học xã hội, tiếng Anh và ngoại ngữ.

California Institute of Technology

Phụ huynh và học sinh thường hỏi các Tư vấn Tuyển sinh của Viện Công nghệ California về cách trường đánh giá ứng viên homeschool. Giống như với mọi ứng viên khác, Hội đồng Tuyển sinh dựa trên hoàn cảnh cụ thể để đánh giá và thẩm định hồ sơ của từng ứng viên; mọi ứng viên đều được đánh giá dựa vào môi trường và trải nghiệm giáo dục mà ứng viên nhận được. Bởi vì điều này đúng với cả ứng viên homeschool hay bất kỳ ứng viên nào khác, Hội đồng Tuyển sinh không yêu cầu ứng viên homeschool phải nộp thêm bất kỳ tài liệu nào. Sau đây là một số gợi ý cho các ứng viên homeschool để có thể gửi tới hồ sơ mạnh mẽ nhất có thể:

Hiểu trải nghiệm homeschool

Ứng viên homeschool tới với Caltech từ nhiều hoàn cảnh và trải nghiệm khác nhau. Điều quan trọng đó là hồ sơ cần phải giúp cho Hội đồng Tuyển sinh hiểu được trải nghiệm học tập của ứng viên được cấu trúc như thế nào. Các ứng viên được chia thành 5 nhóm sau:

  • Ứng viên hoàn toàn học tại nhà, nội dung học do bố mẹ thực hiện;
  • Ứng viên có tiếp cận với các tài nguyên homeschool khác trong cộng đồng, được dạy bảo chung;
  • Ứng viên sử dụng các lộ trình homeschool chính thức hoặc học phần lớn các khóa học thông qua các tổ chức homeschool trực tuyến;
  • Ứng viên đã học một số khóa tại trường cấp ba truyền thống;
  • Ứng viên đã học một vài hoặc toàn bộ khóa học năm 1 hoặc năm 2 tại đại học;

Và rất nhiều kết hợp từ 5 khả năng ở trên. Dù học tập ở nhà của ứng viên theo cách này hay cách khác thì Hội đồng Tuyển sinh cũng sẽ nắm rất rõ.

Chương trình học và Kết quả học tập

Những kiến thức chuẩn bị bắt buộc để vào Caltech áp dụng đối với mọi ứng viên, kể cả ứng viên homeschool. Cụ thể, mọi ứng viên cần hoàn thiện ít nhất một năm giải tích, vật lý và hóa học với kết quả xuất sắc. Tùy thuộc vào chương trình mà ứng viên theo học, mỗi hồ sơ có thể cần có thêm các nội dung giải thích để giúp Hội đồng Tuyển sinh nắm được cụ thể chương trình học là gì. Nếu ứng viên không thể cung cấp được các kết quả học tập như vậy thì có thể lấy các chứng chỉ APE hoặc SAT theo môn học.

Đánh giá Giáo viên và Tư vấn viên

Người tham gia vào chương trình giáo dục của ứng viên tức là người gần giống với vai trò của một tư vấn đại học hoặc hiệu trưởng đại học nhất cần hoàn thiện báo cáo trường cấp hai. Trong một vài trường hợp, vị trí này có thể là phụ huynh học sinh. Nên có thư giới thiệu của một giáo viên toán hoặc khoa học và cả giáo viên khoa học xã hội cũng như nhân văn. Một lần nữa, những thư giới thiệu này có thể tới từ phụ huynh nếu họ là người duy nhất dạy học sinh homeschool. Nếu toàn bộ giáo viên của học sinh là bố mẹ, bạn cần có những thư giới thiệu bổ xung từ một người quen biết có khả năng mô tả năng lực phù hợp với khối lượng học thuật ở đại học.

Hoạt động ngoại khóa

Ngoài học thuật, các ứng viên cần suy nghĩ rộng về các hoạt động ngoại khóa. Các hoạt động như thể thao, âm nhạc, chương trình mùa hè, dịch vụ cộng đồng và bất kỳ điều gì ứng viên có thể làm trong khi học ở đại học. Ứng viên cần tưởng tượng sẽ làm gì với các bạn học bởi trường muốn biết ứng viên sẽ có đóng góp gì cho cộng đồng của trường. Và hẳn nhiên, trình bày càng dễ hiểu và chi tiết càng tốt.

Stanford University

Các ứng viên homeschool, giống như với mọi ứng viên khác có thể sử dụng Coalition Application hoặc Common Application. Những hướng dẫn bổ sung sau có thể có ích cho quá trình hoàn thiện hồ sơ ứng tuyển.

Lưu ý rằng: Bằng cấp 3 hoặc một chứng chỉ tương đương là cần thiết để vào học tại Stanford

Học bạ :

Stanford kỳ vọng mỗi ứng viên đã hoàn thiện các khóa học nghiêm túc về nhân văn, khoa học, toán học, xã hội học và ngôn ngữ. Bên cạnh bảng điểm, Stanford mong muốn nhận được mô tả chi tiết về nội dung học, nhưng cũng không cần phải theo một khuôn mẫu có sẵn nào đó. Trường chỉ muốn biết và rất tò mò về cách ứng viên đã trải qua bao nhiêu khóa học và quá trình tiến triển như thế nào.

Cụ thể, Stanford muốn biết:

  • Tại sao gia đình lại quyết định homeschool và ra quyết định đó như thế nào
  • Quá trình homeschool của ứng viên được tổ chức như thế nào
  • Lợi ích tích lũy là gì
  • Những lựa chọn, nếu có, ứng viên phải làm để hoàn thành hình thức giáo dục này

Bài thi chuẩn

Bài thi ACT hoặc SAT là bài thi duy nhất cần nộp kèm hồ sơ tuyển sinh vào Stanford; tuy nhiên, trường ưu tiên bài thi SAT Subject, AP hoặc điểm IB từ các ứng viên homeschool như các thang đo năng lực học thuật bổ sung.

Thư giới thiệu

Stanford yêu cầu ba thư giới thiệu: hai thư từ giáo viên do ứng viên lựa chọn và một thư từ một tư vấn viên trường cấp hai. Phụ huynh có thể viết thư giới thiệu thay cho tư vấn viên trường cấp hai, nhưng Stanford kỳ vọng nhận được thư giới thiệu từ các giáo viên đã dạy ứng viên trong môi trường trường học chính thức. Một vài trường hợp có thể sử dụng giáo sư đại học cộng đồng hoặc giảng viên trường trực tuyến. 

Các mô hình homeschooling

Vấn đề then chốt của homeschooling không nằm ở quyết định cho con cái rời trường học và ở nhà, mà là lựa chọn phương pháp nào nào? Đây là câu hỏi mà nhiều bậc phụ huynh đang cân nhắc về homeschooling đặt ra nhất. Có khá nhiều phương pháp giáo dục để các phụ huynh có thể lựa chọn, thậm chí có thể phối hợp các phương pháp ấy với nhau. Những phương pháp này dựa trên một hệ thống những trường phái giáo dục trong suốt dòng lịch sử và được kết hợp cùng các công nghệ giáo dục mới.  

Tham khảo chia sẻ kinh nghiệm từ một gia đình homeschooling:

Đọc thêm phần tiếp theo tại Book Hunter.

 Dưới đây, xin được cung cấp một số mô hình phổ biến của homeschooling để các bậc phụ huynh có thể tham khảo:

Mô hình hỗn hợp hay Học ngoại khóa (Informal learning) :

Mô hình này cho trẻ em học ở trường một phần thời gian, phần còn lại học theo chương trình tự do, có thể do bố mẹ đưa ra, hoặc kết hợp với học theo phương pháp khác từ các trung tâm giáo dục khác. Mô hình này mang tính thỏa hiệp, giải quyết được các mâu thuẫn của các bậc phụ huynh khi chính quyền chưa hợp pháp hóa homeschooling và chưa tự tin với năng lực dạy con của mình hay do chưa sắp xếp được thời gian. Ngoài ra, các trường học tiên tiến cũng có thể xây dựng thêm các hoạt động ngoại khóa để tạo điều kiện mở rộng năng khiếu của học sinh thay vì chỉ bắt ép học sinh theo chương trình bắt buộc. Mô hình hỗn hợp dễ dàng được các phụ huynh Việt Nam lựa chọn, thay vì cho con học phụ đạo hay học thêm, họ có thể tạo điều kiện cho con học theo sở thích của đứa trẻ hoặc theo lộ trình mà cha mẹ muốn con theo. Tuy nhiên, cách học này gây ra nhiều căng thẳng cho học sinh, vì học sinh bị phân tán tâm trí, vừa phải đảm bảo kết quả học tại trường lại vừa phải đáp ứng các yêu cầu của khung giờ ngoại khá. Không những thế, khả năng đứa trẻ sẽ có ít thời gian hơn để vui chơi, giải trí vì phải cố gắng duy trì cả hai chương trình.

Mô hình theo lộ trình (Structured Homeschooling) :

Đây là mô hình cho trẻ em tham gia một lộ trình học của các trường homeschool và nhận chứng chỉ khi kết thúc. Đây là mô hình được nhiều phụ huynh ưa chuộng vì giải quyết được sự tự ti trong dạy dỗ kiến thức của phụ huynh, và những học sinh theo lộ trình thường có tỉ lệ vào trường đại học cao nhờ vào sự gần gũi với cấu trúc chương trình học tại các trường phổ thông. Nếu các phụ huynh lo ngại các nguy cơ từ trường học nhưng vẫn muốn con mình được tiếp thu theo đúng chương trình đã quy định thì đây là một mô hình hoàn hảo. Các trường học nếu muốn tối ưu chi phí, nguồn lực và giảm thiểu các nguy cơ từ môi trường có thể gây ra cho học sinh có thể phát triển các chương trình học tại nhà và cấp bằng cho các học sinh đạt đủ tiêu chuẩn.

Các phụ huynh và những người quan tâm đến giáo dục tại gia có thể tham khảo các nền tảng online cho học sinh homeschooling tại Mỹ:

Nền tảng Monarch phục vụ cho các gia đình muốn con mình học tại nhà trên khắp thế giới:

Nền tảng ShoolhouseTeachers cung cấp nhiều bài giảng trực tuyến với đa dạng hỗ trợ các gia đình muốn con mình học tại nhà trên khắp thế giới:

Nền tảng Acellus Academy, cung cấp chương trình học online và cấp bằng cho các học sinh homeschooling học tại Mỹ:

Và còn rất nhiều nền tảng homeschool khác đã và đang được xây dựng, hoạt động.

Mô hình tự do (Unschooling, natural learning):

Mô hình tự do cho trẻ em học qua các trải nghiệm hàng ngày, có thể sử dụng bất kỳ nguồn lực nào phù hợp ở mỗi thời điểm khác nhau, và cha mẹ cần dành nhiều thời gian để hỗ trợ con cái theo đuổi sở thích của mình, thậm chí cùng học với con. Mô hình này được đưa ra và cổ vũ bởi chính John Holt, nhà giáo dục được xem là “cha đẻ của homeschooling”, cũng chính ông là người đưa ra thuật ngữ “unschooling” không phải với nghĩa là “vô học” hay “không đi học” mà là “không học theo chương trình cứng nhắc”. Holt cho rằng trẻ học tốt nhất thông qua trải nghiệm và khuyến khích cha mẹ dành đời sống của mình cùng với con cái. Tức là thay vì cưỡng ép học sinh học cứng nhắc theo các chương trình, có thể cho con cái mình học lịch sử thông qua tự đọc sách, sinh vật học thông qua quá trình dã ngoại thăm thú thiên nhiên hay chăm sóc động vật, toán học thông qua tự điều hành công việc kinh doanh nhỏ hoặc quản lý tài chính cá nhân, khoa học tự nhiên thông qua các thí nghiệm… Mô hình này cũng có thể ứng dụng để bổ sung cho mô hình hỗn hợp hay mô hình theo lộ trình.

Mô hình tự chủ ( Autonomous learning):

Đúng như tên của nó, mô hình này đòi hỏi người học là những cá nhân có năng lực hoặc mong muốn trở nên tự chủ, tức là tự chịu trách nhiệm về định hướng, tầm nhìn, và chương trình học của mình. Học sinh theo mô hình tự chủ buộc phải tự mình theo một quá trình tự học khắt khe và nỗ lực mở rộng kiến thức và tương tác với những người có nhiều kiến thức hơn trong môn học để gia tăng tốc độ học tập. Mỗi đứa trẻ sẽ được quyết định những dự án mà chúng muốn theo đuổi thay vì theo chương trình cứng nhắc hoặc phát triển tùy hứng theo mô hình tự do. Tuy nhiên, không dễ để một đứa trẻ chủ động theo đuổi mô hình tự chủ và việc bố mẹ bắt buộc con cái của mình đi theo mô hình này dễ gây ra những phản ứng ngược và không đạt được kết quả như mong muốn. Mô hình tự chủ chỉ đặc biệt phù hợp với những đứa trẻ sớm có thiên hướng rõ ràng hoặc ở độ tuổi lớn.

Kết luận:

Những điều kiện ở thế giới và Việt Nam đang đưa đến một kết quả khó cưỡng: homeschooling cần được và cũng nên được hợp pháp hóa. Trong nhiều năm nay, nhiều cộng đồng homeschooling đã bắt đầu phát triển manh mún tại Việt Nam với quy mô nhỏ. Phần lớn thành viên là các phụ huynh không hài lòng với mô hình giáo dục bắt buộc nhưng lại chưa tự tin vào homeschooling và tương lai của hình thức học tập này. Chính sự tự phát, thiếu chiến lược cụ thể, thiếu nền tảng học thuật nghiên cứu về các phương pháp giáo dục, thêm nữa là sự chưa được hợp pháp hóa, đã khiến cho homeschooling không thể thuyết phục được nhiều bậc phụ huynh mạnh dạn cho con đi theo xu hướng mới.

Một cộng đồng homeschooling lành mạnh và tiềm năng ở Việt Nam cần đưa ra được chiến lược vận động chính sách để Việt Nam hợp pháp hóa và đưa ra các hành lang pháp lý cho giáo dục tại nhà. Không những thế, nhu cầu nghiên cứu cẩn thận và xây dựng nền tảng học thuật cho homeschooling cũng đảm bảo chắc chắn hơn cho tương lai của mỗi học sinh. Và đặc biệt, không thể thiếu sự tham gia của các chuyên gia công nghệ để xây dựng các nền tảng E-learning phù hợp với học sinh Việt Nam.

Chú thích:

  1. Better Late Than Early, Raymond S. Moore, Dorothy N. Moore, 1975. Đây là tác phẩm nghiên cứu đầu tiên về homeschooling và là nền tảng cho các cuốn sách về homeschooling sau này.
  2. A Conversation with John Holt (1980), Marlene Bumgarner. Link: https://www.naturalchild.org/articles/guest/marlene_bumgarner.html
  3. Home Schooling Achievement. Link: https://hslda.org/content/docs/study/comp2001/default.asp
  4. The impact of schooling on academic achievement: evidence from homeschooled and traditionally schooled students. Canadian Journal of Behavioural Science, Chang- Martin, S.O Gould, & R. Meuse, R. (2011)
  5. Homeschooling: adventitious or detrimental for proficiency in higher education, M.Wichers ( 2001)
  6.  Encyclopedia of Distributed Learning, Anna DiStefano, Kjell Erik Rudestam, Robert Silverman, Robert Jay Silverman, 2004
  7. Các thông tin về tiêu chí tuyển dụng sinh viên homeschooling của các trường đại học lớn được dịch và tổng hợp từ các link sau:

https://learninfreedom.org/colleges-home-schooled-students.html
https://www.bu.edu/admissions/apply/additional-applicants/home-school/
https://www.kings.cam.ac.uk/study/undergraduate/apply/home-educated.html
https://admission.stanford.edu/apply/freshman/home_school.html
https://www.admissions.caltech.edu/apply/first-yearfreshman-applicants/homeschooled-applicants