Đền Bạch Mã Hà Nội, trải bao đời hương khói phụng thờ Mã Phục Ba, kể từ được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia (Quyết định số 235-VH/QĐ ngày 12/12/1986), đã chính thức trở thành đền thờ Long Đỗ. Về niên đại của đền, không tìm được tài liệu nào xác định cụ thể, nhưng có nhiều chứng cứ cho thấy: tục sùng bái Mã Viện đã có từ đời Hán, và xuyên suốt lịch sử An Nam (tức Bắc Việt hiện nay).

Thời thế dãi dầu bể dâu lộn lạo, cùng với lòng tôn sùng đề cao Hai Bà Trưng làm anh hùng dân tộc, tục thờ Phục Ba ở An Nam cũng bị dập tắt, tuồng đổi thay này phản ảnh một hiện thực trớ trêu: mối giao lưu văn hóa giữa hai nước Trung-Việt đã bị mây mù chính trị che phủ.

* * *

Trong kho thác bản văn khắc của Viện Viễn Đông bác cổ (École française d’Extrême-Orient, viết tắt EFEO) để lại cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có thác bản văn bia dựng năm Đinh Mão, niên hiệu Chánh Hòa 8 (1687), nói về việc trùng tu đền Bạch Mã, văn bia này cho biết đền vốn thờ Mã Phục Ba đời Hán. Tạm dịch:

“Xét công thần lương tướng từ xưa đều có tài cái thế, chẳng những chỉ rạng rỡ đương thời mà còn truyền vẻ vang cho đời sau, lập sự nghiệp phi thường để tiếng thơm trăm đời, hương khói ngàn thu, như Phục Ba tướng quân đời Hán chính là như vậy.

“Ban sơ, gặp lúc Vương Mãng lộng hành, khiến anh hào cùng nổi dậy, thừa may nhận ra chân chủ (tức Lưu Tú – Hán Quang Võ đế) ở Lạc Dương, biết thần khí đà có số. Trừ Ngôi Hiêu, diệt Vương Mãng, Bắc xông sa mạc, Nam vượt bể sông, công nào cũng đảm đương, chẳng giặc nào dám chống lại, oai vỗ an Trung thổ, đức thấm nhuần trời đất.

“Tướng quân là anh hùng nhà Hán, gương mẫu của ngàn đời, lừng lẫy mãi đến nay khói hương chẳng dứt. [Ngài] được thờ trong đền Bạch Mã ở phía đông kinh thành đã lâu, oai thần hiển hách ngưỡng mộ cao dày, độ trì thương lái che chở con dân, hễ cầu tất ứng, bái tế dập dìu, nào kém chi lễ báo công thuở trước.

“Đến nay đã lâu năm, gió mưa dãi dầu, tường cột hư hao, từng nhuần gội ơn huệ, há thể thõng tay làm ngơ để tồi tàn rơi rụng? Nay tháng 10 năm Bính Dần, chọn ngày lành tập hợp quyên tiền, gọi thợ trùng tu. May miếu mạo huy hoàng, oai nghiêm thêm lẫm liệt, trong ngoài đều được nương nhờ, bốn phương thảy về cầu cúng. Chỉ lo rằng sau khi sửa sang chưa thể khỏi mối lo sụp lở, để mai sau tưởng nhớ lấy đó mà noi theo. Dám mong các vị góp sức cho thành việc, cùng cúng tế Tướng quân, để ngày tháng thêm bền, công nghiệp mãi còn cùng trời đất. Nay khắc đá ghi lại, tên họ các nơi [góp công đức] đề rõ bên trái bia”.

Lược đi những sáo ngữ “anh hùng lương tướng”, “oai nghiêm hiển hách”, “ơn đức dồi dào”…, lời văn vẫn cho thấy hình tượng Mã Viện nếu không gần gũi thân thiết, thì cũng không đến nỗi là đối tượng căm thù của dân An Nam (Bắc Việt).

Trong “Tân đính giảo bình Việt điện u linh tập” (ký hiệu A.335, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm) soạn năm 1774, có “Bạch Mã miếu thần truyện”, giải thích duyên do dân An Nam sùng bái Mã Viện: “[Viện] khuyến khích đốc suất nông thương, miễn trừ tô thuế, giảm bớt lao dịch, ban khen tiết tháo, chuyên chú lấy đức dạy dân, được trăm họ mến yêu. Viện tại nhiệm 6 năm thì dâng biểu hoàn hương, hoàng đế (tức Lưu Tú) bèn cho Lưu Long đến thay. Sau khi Viện đi, dân chúng ghi nhớ công ơn, lập miếu thờ phụng”[2].

Và không chỉ Hà Nội, các địa phương xung quanh cũng có đền thờ Viện, hình thành một hệ thống thờ cúng Phục Ba. Cố đạo người Ý Adriano di St. Thecla, đến Bắc Việt truyền giáo trong khoảng thời gian 1738-1765 có viết thành sách ghi lại sinh hoạt, xã hội và tín ngưỡng của Bắc Việt. Trong sách, Adriano di St. Thecla cho biết: đền Bạch Mã là nơi thờ Mã Viện – vị thần bảo hộ của kinh đô (Hà Nội). Olga Dror khi dịch sách trên của linh mục Ý ra Anh ngữ đã tiến hành khảo sát thực địa, đã ghi nhận rằng ở Thanh Hóa, Bắc Ninh, Phúc Yên, cũng có miếu Phục Ba[3]. Ngoài ra, qua nghiên cứu của học giả Đài Loan Hứa Văn Đường, thì đền thờ Viện có ở hầu khắp các tỉnh Bắc Việt: Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Đông, Phú Thọ, Sơn Tây, Vĩnh Yên, Hưng Yên[4]…

Từ sau khi Tần Thủy hoàng thiết lập Tượng Quận ở Lĩnh Nam (214tr.Cn), Bắc Việt trở thành một bộ phận của Trung Hoa. Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dựng Đại Cồ Việt, bắt đầu “thời kỳ tự chủ”, quan hệ tông thuộc giữa Trung-Việt vẫn tốt đẹp và không hề gián đoạn. Tục thờ Mã Viện ở An Nam do đó cũng được duy trì, không chỉ trong dân gian mà cả trong giới quan lại.

Lộ trình đi sứ qua lại giữa Tàu và An Nam đều phải qua Quỷ Môn quan. Theo “Cựu Đường thư” thì: cách huyện lỵ Bắc Lưu (thuộc châu Uất Lâm, tỉnh Quảng Tây) 30 dặm về phía Nam, có một cửa quan hiểm trở, tên là Quỷ Môn quan, hai bên vách núi cách nhau chỉ bằng 30 bước chân (Địa lý chí, quyển 4). Đời Đường đổi Quỷ Môn quan thành Quế Môn quan, đến Nguyên đổi ra Khôi Tinh quan. Đây là đệ nhất hiểm lộ để vào Lĩnh Nam, Mã Viện khi dẫn quân bình Nam, đến ải này đã đặt bia đá ghi nhớ, đời sau theo đó lập đền thờ Viện tại đây, sứ giả hai bên mỗi khi đi qua đều vào bái tế[5]. Việc thắp nhang vái Phục Ba không phải nghi thức ngoại giao, mà là nghi lễ tâm linh, để cầu đi đến nơi về đến chốn được bằng an.

Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” chép: “Năm Quý Hợi niên hiệu Chánh Hòa (1683), sứ nhà Thanh là Minh Đồ qua Quỷ Môn quan, có làm bài văn để cúng tế miếu Phục Ba”[6]. Đọc bài văn đó, có người sẽ bảo: sứ Thanh tán dương tướng Hán là chuyện hợp lẽ tất nhiên. Vậy sứ Việt thì sao?

Đời Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng 21-23 (1760-1762), chính Lê Quý Đôn làm Phó sứ sang Tàu, cũng từng ghé miếu Phục Ba ở Quỷ Môn quan, và làm bài thơ “Qua Quỷ Môn quan, viếng miếu Phục Ba tướng quân”. Bài thơ này đề cao chí khí trung nghĩa của Mã Viện, vốn chép trong tập “Quế Đường thi hối tuyển” của Lê Quý Đôn, do Viện Nghiên cứu Hán Nôm cung cấp, được in ở trang 128, tập 3 của bộ “Việt Nam Hán văn yên hành văn hiến tập thành” 越南漢文燕行文獻集成 (Tuyển tập thơ chữ Hán đi sứ của Việt Nam); tuyển tập thơ đi sứ này là công trình hợp tác của Khoa Nghiên cứu Văn sử Đại học Phục Đán (Thượng Hải) với Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam, do Đại học Phục Đán xuất bản năm 2010[7].

Tiếc bài thơ viếng Phục Ba của Lê Quý Đôn, được giới thiệu cho bên Tàu, nhưng lại chẳng mấy ai biết đến ở Việt Nam, xin chép ra đây:

經鬼門謁伏波將軍廟 KINH QUỶ MÔN YẾT PHỤC BA TƯỚNG QUÂN MIẾU

瞻謁山祠向水涯 Chiêm yết sơn từ hướng thủy nhai

修然心緒動追依 Tu nhiên tâm tự động truy y

鄉並款段仙為者 Hương tịnh khoản đoàn tiên vi giả

塞漠旌旄壯亦哉 Tái mạc tinh mao tráng diệc tai

當日偉談傳米穀 Đương nhật vĩ đàm truyền mễ cốc

千秋公議恨雲臺 Thiên thu công nghị hận Vân đài

炎郊處處依餘庇 Viêm Giao xứ xứ y dư tý

鳶詀元曾此地來 Diên chiếm Nguyên tằng thử địa lai

散盡千金惠故人 Tán tận thiên kim huệ cố nhân

間並一劂事明君 Gian tình nhất quyết sự minh quân

應知功大多貽累 Ưng tri công đại đa di lụy

只為情深苦服勞 Chỉ vị tình thâm khổ phục lao

能記荒蔞酬主簿 Năng ký hoang lâu thù chủ bạc

仙緣薏苡圓將軍 Tiên duyên ý dĩ viên tương quân

至今浩氣英風在 Chí kim hạo khí anh phong tại

繚繞吳山粵嶠雲 Liễu nhiễu Ngô sơn Việt kiệu vân

(Tạm dịch: QUA QUỶ MÔN VIẾNG MIẾU PHỤC BA TƯỚNG QUÂN

Bái viếng núi đền nhìn ra chân trời; Tấm lòng kính cẩn nhớ về thuở nào. Làng quê thờ phụng vị tiên; Cờ xí biên ải thêm hùng tráng thay. Thuở ấy bậc lưu hầu truyền dạy [cho dân trồng] mễ cốc; Ngàn thu bàn luận còn ghi mối hận đài mây. Cả Viêm bang lẫn Giao Chỉ thảy được nương nhờ; Diều hâu Nguyên Mông từng ghé chốn này.

Trút ngàn vàng đền ơn người cũ; Cùng nắm chặt con dao thờ minh chúa. Đành chịu công lớn nhiều âu lo; Chỉ bởi thâm tình nên phải chịu khổ. Cỏ hoang còn biết báo đáp quan ngài; Lau lách nhờ duyên trọn theo tướng quân. Chí khí phi thường đến nay vẫn còn; Quanh quẩn trong mây ở núi Ngô non Việt).

Muốn bình bài thơ của Lê Quý Đôn như nào tùy, chỉ xin nhớ cho: đây là thơ Đôn làm khi đi sứ, sau chép lại trong tập thơ riêng của mình, không phải thơ ngoại giao làm ra để cốt đưa người Tàu đọc lấy lòng. Thơ văn của sứ thần đôi bên viếng đền Mã Viện không chỉ hai bài kể trên; tựu chung, những văn thơ đó cho thấy đền thờ Viện đã thành biểu tượng của thành tín trung hiếu cho cả hai bên, Tàu và Bắc Việt.

Hệ thống đền thờ Mã Viện trải dài suốt một giải Lĩnh Nam đến nay vẫn tồn tại, nhiều nhất là ở Quảng Tây, trong Khu tự trị người Tráng (Choang), nhưng ở Bắc Việt nay không còn đền nào, điều đó chứng minh người Việt đã có tinh thần độc lập tự chủ, hay cho thấy sự thù hằn nghi kỵ phương Bắc của họ ngày thêm ngùn ngụt?

* * *

Cùng với hệ thống đền thờ, những truyền thuyết về Mã Viện cũng từ đó lan tỏa, nhất là về linh ứng của Phục Ba tướng quân, đền Bạch Mã Hà Nội khi xưa không ngoài lệ ấy.

Nói về đền Bạch Mã, không thể bỏ qua hình tượng ngựa trắng, ngựa đó từ đâu ra? Chuyện về Mã Viện thường gắn liền hai thành ngữ, đều liên quan đến ngựa: Một là “Da ngựa bọc thây” (mã cách khỏa thi 馬革裹屍) tỏ chí khí hào hùng, nhiều người đã biết. Thành ngữ thứ hai “Bạch mã thông tuyền” 白馬通泉 (ngựa trắng tìm ra suối) chính là gắn liền với ngựa trắng.

Chuyện kể rằng khi xuống bình định Lĩnh Nam, quân tướng đang khổ sở vì thiếu nước thì con ngựa trắng Viện cưỡi chợt dừng lại, hai vó trước không ngớt cào xuống cát, quân lính theo đó mà đào, được mạch nước ngầm mát ngọt, toàn quân nhờ vậy được cứu.

Bởi đó, các đền thờ Mã Viện đều thờ ngựa trắng kèm theo, và Viện cũng được gọi “Bạch mã Tướng quân”. Tượng ngựa trắng này được cho là rất linh thông, phụ nữ cầu tự lòn ngang bụng sẽ sinh quý tử, trẻ em lòn qua thì thông minh đĩnh ngộ, học hành tấn tới.

Riêng sự linh thiêng của Bạch mã Tướng quân phố Hàng Buồm, trong bài văn bia trùng tu ở trên đã nói sơ qua, đây chỉ kể thêm bài văn bia khác, cũng của đền Bạch Mã: “Trùng tu Bạch Mã miếu bi ký”[8]. Văn bia này được dựng vào Minh Mạng nguyên niên (1820), cho biết từ xưa, vì linh ứng nên Mã Viện được sắc phong làm Thành hoàng của Thăng Long, có chế độ tế tự trang nghiêm Xuân Thu nhị kỳ.

Đường bệ oai phong nhường ấy, sao Viện lại bị đá đít ra khỏi đền, nhường hộ khẩu lại cho Long Đỗ đứng tên?

Đó là do nhiều nguyên nhân. Nhưng sâu xa sự việc bắt đầu từ chỗ người Pháp muốn chia rẽ nhà Thanh với An Nam, hô biến khiến chị em Trưng Trắc từ chỗ chỉ vì tư thù mà dấy loạn, cuốn cả vùng Lĩnh Nam vào khói lửa, bỗng thành ra Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Và mặt khác, viên tướng Mã Viện có công dẹp loạn an dân thành ra bị xem là đại diện của thế lực bành trướng phương Bắc.

Đến sau này, khi xảy ra cuộc chiến 1979, ba anh em Cộng đảng Tàu-Việt-Miên tương tàn, thì Mã Viện chính thức bị triệt hạ, để nhường chỗ cho Long Đỗ đại vương, một “hộ thần” xàm xí. Dầu sao thì hỡi Phục Ba tướng quân! Ngài cũng nên cảm tạ Long huynh đệ một tiếng. Nếu không có y, thì đền thờ của ngài có thể đã thành sân phơi lúa hợp tác xã, và Bạch mã đã phải lưu lạc, không biết tìm nguồn nước ngọt ở phương trời âm binh khí tụ nào!

_______

[1] Nguyên văn:

稽古之勳臣良將,顯當時、垂後世者,皆具不世之才、能建非常之業,始獲流芳百代,明祀千秋者焉,夫漢之伏波將軍是矣。當初,莽之候,英傑並起,彼際識真主於雒陽,知神器之有命,責隗囂、誅王莽,北出塞漠、南渡江海,可曰無攻不克,何敵不從,威靖中原,澤弘天地。將軍誠漢世之雄豪,千古之英表也,以致振古於斯,明煙弗朽。第京都之東,有白馬祠,其來遠矣。神威赫奕而仰之彌高,佑商庇民則禱之必應,不有勝於當日崇報功之典歟!柰今歲之年深,風雨飄搖,棟壁朽頹。吾儕知沐洪庥有日,寧敢以袖手旁觀,任定其摧殘落落而已。茲於丙寅年拾月穀旦集眾捐資,鳩工重修。幸一時廟貌輝煌,逮頓成威嚴凜肅,堪中外之依皈、四方之禱叩也。但恐修葺之後,未免複有傾圯之虞。然今之可能繼昔,猶望後之亦效今也,尚賴諸君子有以成之,俾將軍享祀於日月同增,忠勳若乾坤並永矣。所以勒石為記,所有功德、各處姓名開陳於左。

[2] Nguyên văn: 勸課農商,蠲免租賦,省徭役,褒節孝,專務以德化民,百姓悅服。援在任六年,表乞骸骨,帝乃以劉隆代之。援還後,百姓追思功德,立廟奉之。

[3] Father Adriano di St. Thecla, Olga Dror, translator and annotator, Opusculum de Sectis apud Sinenses et Tunkinenses, A Small Treatise on the Sects among the Chinese and Tonkinese: A Study of Religion in China and North Vietnam in the Eighteenth Century, Cornell University Ithaca, New York, 2002.

[4] Hứa Văn Đường, “Tín ngưỡng dân gian Việt Nam – thần thoại Bạch Mã đại vương” 越南民間信仰—白馬大王神話. Bài đăng trên tạp chí “Nam phương Hoa duệ nghiên cứu” 南方華裔研究, số 4-2010.

[5] Các học giả Bắc Việt sau này, cụ thể là mấy người soạn cuốn “Văn hóa Việt Nam tổng hợp” (Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, Hà Nội, 1989), hình như cho việc bái lạy Mã Viện đó là nhục cho quốc thể, nên đã úm ba la thần thông, kéo Quỷ Môn quan bên Tàu qua thành ải Chi Lăng, là địa điểm mà tướng Tàu Liễu Thăng cho mượn cái đầu (sau này An Nam phải trường kỳ cống nạp, đền lại đầu bằng vàng). Tiện đà hứng chí, họ mượn luôn câu than của dân Tàu thời xưa: “Quỷ Môn quan! Quỷ Môn quan! Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn!” để chứng minh rằng cái “ải Chi Lăng” là Quỷ Môn quan, nơi “hiểm trở” tới nỗi bọn Tàu qua mười đứa, thì chỉ còn một đứa trở về.

Các vị chơi lầy, phục hồi một tin đồn bá láp từ xưa, làm người nghe mắc cỡ quéo lỗ tai. Tiện đây thưa rằng: Quỷ Môn quan ở Bắc Lưu bên Tàu mới là yếu đạo để vào hai châu Khâm, Liêm (Quảng Tây), bán đảo Lôi Châu, và đất Giao Chỉ. Lộ trình đi sứ giữa hai bên Trung-Việt ngày xưa tất phải qua ải Quỷ Môn này. Đồng thời sứ lộ đó cũng là lộ trình mà các quan Tàu bị biếm trích Lĩnh Nam phải đi qua. Câu vè trên kia chính là lời ta thán của những kẻ bị lưu đày: qua khỏi Quỷ Môn quan rồi là hy vọng về quê kể bỏ. Còn địa thế “ải Chi Lăng”, xin ngó lại thử đi, “hiểm trở” chỗ nào, hay chỉ là cái gò không hơn?

Nói thêm, Lê Quý Đôn trong “Vân đài loại ngữ” cũng khẳng định Quỷ Môn quan là ở huyện Bắc Lưu bên Tàu, đồng thời bác bỏ tin vịt Quỷ Môn quan là ở Lạng Sơn.

Vậy đó, chọn tin theo học giả nhà Lê hay học giả đời cộng, là tùy người đọc.

[6] Có thể tìm đọc bài văn tế này trong “Kiến văn tiểu lục” do Phạm Trọng Điềm dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1961: tr.204-205.

[7] Về tuyển tập “Việt Nam Hán văn yên hành văn hiến tập thành”, Viện Nghiên cứu Hán Nôm có lời giới thiệu ở đây:

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/h%C3%A1n-n%C3%B4m/6446-%E2%80%9Cvi%E1%BB%87t-nam-h%C3%A1n-v%C4%83n-y%C3%AAn-h%C3%A0nh-v%C4%83n-hi%E1%BA%BFn-t%E1%BA%ADp-th%C3%A0nh%E2%80%9D,-c%C3%B4ng-tr%C3%ACnh-h%E1%BB%A3p-t%C3%A1c-gi%E1%BB%AFa-vi%E1%BB%87n-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-h%C3%A1n-n%C3%B4m-vi%E1%BB%87t-nam-v%C3%A0-vi%E1%BB%87n-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-v%C4%83n-s%E1%BB%AD-%C4%91%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-ph%C3%BAc-%C4%91%C3%A1n-th%C6%B0%E1%BB%A3ng-h%E1%BA%A3i-trung-qu%E1%BB%91c.html?fbclid=IwAR36inDsBRLC9k4WHQGmPlR83TQmIWIFMnwZJAxPnktv_tQvRj3sYjSYTgA

[8] “Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam” của Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam (tài liệu in nội bộ, 1991), tập 1: tr.198-200”.

Tác giả: Vinhhuy Le

#Lịch_sử_tò_he

Đại khái tôi là Ba Tàu, sinh ra ở Biên Hòa, cạnh dòng Đồng Nai, lập nghiệp ở…