Claude Monet (1820 – 1926) là danh họa khai phóng cho trường phái hội họa Ấn tượng tại Pháp. Không những vậy, Monet, cùng với Camille Pissarro, Alfred Sisley, Pierre-Auguste Renoir và Frédéric Bazille, xác lập và phổ biến phương pháp plein-air (vẽ tranh ngoài trời), đồng nghĩa với việc tạo ra một cách tân mới trong hội họa phong cảnh, cả về kỹ thuật lẫn quan niệm về không gian và thời gian.
 
Monet nổi tiếng nhất với tranh phong cảnh. Nhưng không phải là ông không vẽ người, bởi hội họa hình người (figure painting) là một trào lưu xu thời ở hai thập niên 1860 và 1870, nhờ các tác phẩm của Manet, Courbet, Stevens và Cabanel được trưng bày tại Salon de Paris. Sự chuyển đổi từ hội họa hình người sang hội họa phong cảnh của Monet, có lý do gắn liền với người vợ đầu của ông, Camille Doncieux. Bà chính là người mẫu, “nàng thơ” trong những bức tranh vẽ người nổi tiếng nhất của Monet như Le Déjeuner sur l’herbe (1866) hay La Japonaise (1876). Sau khi Camille qua đời vào năm 1879, Monet đã chuyển hướng và bắt đầu vẽ phong cảnh đồng quê Pháp. Ông vẽ hàng loạt tranh mô tả cùng một cảnh vật trong sự thay đổi của màu sắc và giao mùa. Đây chính là một trong những đặc trưng sáng tác của Monet về sau này. Đến năm 1883, ông sở hữu một dinh thự nhà vườn tại Giverny, và vẽ ở đây cho tới cuối đời. Nơi đây đã cho ra đời những chùm tranh vẽ vườn và hoa súng làm nên thương hiệu của Monet.
 
Khác biệt cơ bản giữa hội họa phong cảnh của các họa sĩ theo trường phái Ấn tượng với những tiến bối vẽ tranh phong cảnh thế kỷ XVII, nằm ở kỹ thuật và sự thao tác hóa đối tượng. Những bậc thầy ở thời hoàng kim Hà Lan (Salomon van Ruysdael, Jacob van Ruisdael, Meindert Hobbema) hay Baroque Pháp (Nicolas Poussin, Claude Lorrain, Jean-Antoine Watteau), thường vẽ từ trí tưởng tượng hoặc tái hình dung thực tế theo khuynh hướng tả chân, nhằm tái tạo lại và cho ra sản phẩm là những hoạt cảnh thần thoại lịch sử mang tính chất bi tráng anh hùng. Họ chủ yếu vẽ trong phòng hoặc xưởng vẽ. Còn những họa sĩ plein-air thế kỷ XIX, hay còn gọi là sur le motif (vẽ tự nhiên), thì họ vẽ khung cảnh trực diện trước mắt mình, nhưng bằng thủ pháp của hội họa ấn tượng. Và họ được trợ giúp rất nhiều bởi sự tiến bộ của kỹ thuật: phát kiến màu tuýp và giá vẽ di động. Dường như đây là hai quy trình nghịch đảo, một bên ở thế kỷ XVII là hiện thực hóa hư cấu, còn một bên ở thế kỷ XIX là biến ảo hóa thực tại. Nhưng không gian của hội họa Ấn tượng không còn là không gian đơn thuần nữa, mà là không-thời-gian, bởi mục tiêu tối hậu của trường phái hội họa này là đặc tả sự vận động biến dịch trong tranh – biểu hiện của tri giác kiến tạo ý nghĩa từ đối tượng, thâu chộp lấy cái hiện tại tức thời (instantaneity) và biến nó trở nên khả kiến đối với người xem.
 
Bản chất tĩnh, bất động của hội họa thường bị coi là một hạn chế trong việc biểu kiến sự vận động của thời gian. Thời gian trong hội họa phần lớn được ấn định bởi buổi, bình minh – ban ngày – hoàng hôn – ban đêm, thường được xác định bởi vị trí của các thiên thể – mặt trời và mặt trăng. Nó là thời gian chết. Sự chuyển dịch về thời gian, hoặc nhiều hơn là chuyển dịch không gian, chỉ được tìm thấy hiếm hoi ở một số tác phẩm, điển hình là những bức bộ ba (trilogy) hoặc đa liên họa (polyptych) của Jan van Eyck và Hieronymus Bosch. Nhưng Monet đã mang đến một thời tính mới trong hội họa. Điều này thể hiện không ở đâu rõ hơn loạt tranh vẽ ga Saint-Lazare của ông tại Paris vào năm 1877, cũng như loạt tranh vẽ nhà thờ Đức Bà Rouen giai đoạn 1892 – 1894.
 
Ở loạt tranh thứ nhất vẽ ga Saint-Lazare, thời gian được chuẩn hóa thông qua sự đến và đi “đúng giờ” của những đoàn tàu. Đoàn tàu hối hả cập ga nhả hơi nghi ngút, sự vận động của chúng càng được làm rõ nét hơn trong sự tương phản với những cỗ hỏa xa đang nằm im chờ rời bến. Một bức tranh tĩnh nhưng lại biểu thị được sự tuần hoàn của đời sống thường nhật. Vẻ thơ mộng của cảnh trí được Monet chộp lại ngay trong thời khắc hữu hạn náo nhiệt nhất. Và thậm chí ông còn hướng tới một tân thời gian, hoặc một thời gian bị can thiệp và thay thế bởi phi-thời gian (hors temp), bởi một dạng thức quy hồi vĩnh cửu (eternal recurrence/Ewige Wiederkunft), nơi quá khứ và hiện tại va đập vào nhau. Hãy nhìn những chiếc đồng hồ trong Gare Saint-Lazare, chúng không hề có kim. Đây chính là cương lĩnh của hội họa ấn tượng Pháp: theo đuổi cái tức thời, cái thoáng chốc.
Loạt tranh Monet vẽ mặt tiền nhà thờ Rouen vào các thời điểm khác nhau trong ngày, chính là điển hình cho cái gọi là phép sử dụng ánh sáng để thể hiện sự chuyển động của thời gian, một đặc trưng của hội họa Ấn tượng. Sự tăng giảm cường độ ánh sáng tác động lên bề mặt vật thể trong tranh chính là chỉ báo rõ nhất về sự biến thiên của thời gian. Nói không ngoa khi coi Monet và những danh họa Ấn tượng thế kỷ XIX là những kỹ sư sắp đặt ánh sáng. Họ đã kế thừa những thành quả của khoa học về ánh sáng và màu sắc, đơn cử là lý thuyết màu của Goethe, để đến với nhận thức mới. Đó chính là xóa nhòa sự tương phản cực đoan giữa hai đối cực màu sắc đen và trắng. Họ thức nhận sự chuyển đổi tông màu vốn khó để phát hiện ra, và thừa nhận tính chất bóng râm của màu sắc, hay bản chất ánh sáng mờ (Lumen opacatum – tiếng Latin) của nó. Hiệu quả phổ biến mang lại là effets de soir, hiệu ứng bóng đổ do ánh sáng tạo ra bởi hoàng hôn và chạng vạng. Monet đã từng ước rằng mình bị mù bẩm sinh, để có thể đột ngột trải nghiệm thị lực, nhìn thấy thế giới một cách chất phác, như là những hình dạng và màu sắc thuần túy (“…muốn thử quên đi đối vật trước mắt, cái cây, ngôi nhà, cánh đồng hay bất kỳ thứ gì. Chỉ đơn thuần coi ở đây có một ô vuông màu xanh, kia có một hình thuôn màu hồng, còn đây là một dải màu vàng, và vẽ nó như cách nó trình hiện trước mắt, với màu sắc và hình dạng chính xác, cho tới khi nó cấp cho ta một ấn tượng chất phác về cảnh vật trước mắt.”). Tư duy về màu sắc của Monet, do đó, là sự khai mở nhãn thị, phát huy tối đa nhận thức giác quan, rồi từ cảm năng kiến thiết ấn tượng.
Tranh của Monet, vì vậy, là một quá trình. Hội họa Monet lúc này trở thành hội họa của cái đang-là, cái đang trở thành, tức hội họa sống. Nó minh chứng cho thiên hướng tự nhiên của Monet, thông qua sự vận động của thời tiết và những quá trình bí ẩn của nó trong tranh của ông: sương mù, gió, mưa, giông tố, tối sầm và hửng sáng. Con người chỉ là một phân tử giữa vũ trụ là tự nhiên. Có thời điểm, tâm trạng Monet dao động bởi thời tiết, trước sự thiếu năng sản sáng tạo của bản thân. Những bức tranh họa biển năm 1885 và 1886 tại Etretat và Belle-Ile cho thấy Monet đứng chao đảo giữa một bên là thế giới bên ngoài, một bên là những trải nghiệm nội tâm của tâm trí, giác quan, và xúc cảm. Sự dữ dội của thiên nhiên, một mặt là nghịch cản cho sáng tác, đặc biệt đối với những họa sĩ vẽ plein-air, nhưng một mặt lại có sức cuốn hút đến kỳ lạ.
Thứ nghệ thuật chinh phục ánh sáng và kiến tạo thời gian là thành quả sau nhiều năm đào luyện của Monet, nó đòi hỏi ở ông sự hòa hợp thiên tài giữa đôi mắt và đôi bàn tay. Mỗi nét cọ của Monet, cho dù nó có vẻ “hoàn kết” tới đâu, cũng là một trải nghiệm trong thời gian, một khoảnh khắc chuyển dịch tức thời, đưa chúng ta từ thời khắc vừa mới kết thúc đến một thời khắc sắp sửa diễn ra.
 
Phạm Minh Quân