Hoàng hôn là giờ tàn của một ngày, mùa thu là mùa tàn của một năm, hoài niệm là suy tàn của hiện thời. Đứng trước vẻ đẹp tự nhiên của chiều tàn, ta không khỏi giấu được sự thán phục tán dương lẫn man mác luyến tiếc một ngày vừa trôi đi. Con người vào lúc xế tà của cuộc đời, sự biến chuyển của thời gian ẩn chứa một niềm khắc khoải của những điều chưa thành, ân hận trước điều chưa thực hiện, hay sám hối trước lầm lỗi. Triết gia Đức Arthur Schopenhauer từng thở than: “Buổi hoàng hôn của đời tôi cũng là lúc bình minh của vinh quang tôi.” Còn với tầm vóc của những vĩ nhân, trước bước ngoặt của lịch sử, họ khóc than cho thời đại vàng son của quá khứ, nguyện hồn cái đã đi qua không còn quay trở lại, buồn thương trước vận mệnh đã an bài. Đây là cảm thức khi Friedrich Nietzsche viết Hoàng hôn của những thần thượng (Götzen-Dämmerung, 1889).
 
Ngọn sáng le lói của nhật quang lúc hoàng hôn, không phải là ánh sáng tỏ rạng huy hoàng của trưa nắng thẳng đứng, nó là ngọn sáng kết thúc chu kỳ phát sáng của mặt trời, đánh dấu sự an nghỉ của một ngày. Nguồn sáng này chiếu qua khiến mọi hình thù cản trở ánh sáng đổ bóng và tạo ra những bóng quế. Muốn vẽ cảnh trí hoàng hôn một cách thuyết phục, phải làm chủ được ánh sáng của mặt trời. Về phương diện này, Claude Lorrain là một kỳ tài. Không thể hiểu tranh của ông theo nguyên lý màu sắc tương phản hay chia tách ánh sáng. Trong thế giới tự nhiên được tái tạo của ông, ánh sáng mặt trời tự do lan tỏa, nó mơn trớn bề mặt và thấm đầy khoảng trống. Mặt trời lần đầu tiên là phương tiện để thắp sáng toàn bộ bức họa, cứ nhìn loạt tranh hải cảng lúc hoàng hôn để thấy. Đây có thể coi là phát hiện mới mẻ của riêng Claude Lorrain trong việc sử dụng mặt trời và ánh sáng dát vàng của nó.
 
Nghệ thuật Trung cổ gần như không hiện diện yếu tố phong cảnh. Đến nghệ thuật Phục hưng, phong cảnh chỉ mang tính chất bổ trợ, (xin nhấn mạnh) đơn thuần đóng vai trò là hậu cảnh, phông nền cho hoạt cảnh tôn giáo. Phải đến Poussin, Claude Lorrain và Watteau, những danh họa thế kỷ XVII, thì phong cảnh mới giành được tính tự trị của nó, để trở thành hội họa phong cảnh. Tiền cảnh bị thu nhỏ lại, còn hậu cảnh thì được khuếch đại, mang thuộc tính thứ nhất. Một nghịch đảo xảy ra: chi tiết chỉ còn làm nền cho đại cục tổng thể. Trước một bức họa phong cảnh, người thưởng ngoạn tranh sẽ va đập trước tiên vào đại bình đồ của nó, bị choáng ngợp và cuốn hút tâm trí, khuấy động những rung cảm, hay thậm chí là mỹ cảm về cái đẹp vĩ đại được mô phỏng từ tự nhiên. Nó gợi cho chúng ta một cảm nhận như khi đứng trước một thác nước hùng vĩ đang cuộn trào, hay trước một khu rừng nguyên sơ đầy kỳ bí, hoặc một đại dương muôn trùng khơi không hề có ký ức.
Nghệ thuật Cổ điển, một hình học không gian chính xác trên mặt phẳng, chưa có đường chân trời và điểm nhìn phối cảnh, còn giữa những hình tượng tồn tại khoảng không ở giữa, nhưng không hề có cái gọi là chiều sâu. Nguyên lý phối cảnh, tức hình học về thế giới không gian trong tác phẩm nghệ thuật, đã phổ biến kể từ nghệ thuật Phục hưng nhưng chỉ ở dạng cơ bản nhỏ xa – to gần, phối cảnh theo đường thẳng. Đến với hội họa phong cảnh của thời Baroque, phối cảnh được cấp thêm một cái nhìn địa hình học (topographic) về hình dạng và đặc điểm bề mặt của cảnh quan, mới xuất hiện phối cảnh không gian nhấn mạnh chiều sâu. Một bức họa phong cảnh của Claude Lorrain thuần túy là không gian. Mọi chi tiết trong đó chỉ đóng vai trò minh họa. Mọi hình tượng đều có một ý nghĩa phối cảnh là những vật mang ánh sáng và bóng tối, nhằm nhấn mạnh sự tương phản giữa chúng. Claude Lorraine biết cách để phân chia các mặt phẳng bằng cách tương phản giữa các vùng ánh sáng với nhau, hoặc hiệu triệu sự chú ý của người xem vào những khu vực cụ thể thông qua việc sử dụng cây như là phần phông hai bên (coulisse) của sân khấu.
Claude Lorrain không như các họa sĩ plein-air thế kỷ XIX dành hàng giờ ngoài trời để phóng tác tự nhiên có sẵn. Trái lại, ông là một họa sĩ vẽ phong cảnh lý tưởng hóa bằng tâm tưởng và trí tưởng tượng, với khát khao biểu đạt một tự nhiên hoàn mỹ, tươi đẹp và “lý tưởng” hơn cả tự nhiên thực tế. Để tìm kiếm chất liệu cho cảnh sắc thơ mộng trong sáng tác của mình, ông dành nhiều năm rong ruổi dọc bờ biển Địa Trung Hải và các vùng nông thôn Ý, Pháp, cần mẫn phác thảo và truy tầm tham khảo các di tích kiến trúc lịch sử, quan sát nghiên cứu tự nhiên. Tự nhiên trước đây chỉ đóng vai trò là hậu cảnh được mở rộng về không gian, hiện diện khoảng cách, trở thành phong cảnh sở hữu vẻ ngoài và linh hồn. Linh hồn này đồng dạng với linh hồn của người họa sĩ, minh họa thế giới tự nhiên cũng là nhằm tự họa mình, người chiêm ngưỡng tranh cũng chính là chiêm ngưỡng bản diện họa sĩ.
 
Đằng sau hoàng hôn tâm trí của Claude Lorrain, là một hoài cảm mặc niệm hướng tới nền văn minh đã mất. Phía đằng xa trong tranh của ông, luôn tồn hiện những công trình kiến trúc Hy-La đổ nát, khuất lấp, điêu tàn. Một nghìn năm trước, chúng từng là những lâu đài hay đền thờ nguy nga lộng lẫy, biểu trưng của thần quyền lẫn thế quyền và đỉnh cao tráng lệ của văn minh Cổ điển. Nay, chúng chìm sâu vào quên lãng, lùi về phía sau những con người sinh hoạt thường nhật nhỏ nhặt ở tiền cảnh – có thể là chú mục đồng, thủy thủ, hay người dân thôn quê. Mặt khác, tranh của Claude Lorrain còn là sự hoài niệm về một đời sống hồn nhiên tối giản của cõi tiên Arcadia, lãnh giới của dê thần Pan, nơi các cư dân hòa hợp với thiên nhiên thanh khiết chưa bị tha hóa. Ngoài ra, những truyền thuyết cổ đại hay thánh kinh, có bối cảnh ở Rome hay thế giới Đại Trung Hải, luôn lấp đầy tác phẩm nghệ thuật của ông. Sự mở rộng không gian luôn gắn liền với ham muốn sử dụng cảnh quan La Mã, để phục vụ cho những liên hệ văn chương và lịch sử. Hội họa của Claude Lorrain, bởi thế, còn là hội họa lịch sử.
 
Phạm Minh Quân