“Tổ quốc” là gì? – Câu hỏi thoạt nghe tưởng cà chớn, nhưng để tìm câu trả lời xác đáng lại không đơn giản chút nào.

Tách riêng ra thì theo nghĩa ban sơ, chữ “Tổ” là chỉ ông bà – người sinh ra cha mẹ mình – hiểu rộng ra là người đời trước (tổ tiên). Còn “Quốc” lúc đầu dùng chỉ mảnh đất vua phong cho chư hầu, còn gọi “Ấp phong”. Cho nên tiền thân của “Quốc” là chữ “Ấp”[1]. Vd: “Thực ấp” 食邑, “Thái ấp” 采邑, là đất phong cho người nào đó cai quản và lấy thuế nơi đó làm bổng lộc riêng. Sau này, những ấp phong đó dần được mở rộng nên được gọi thành “quốc”, như Tề ấp thành Tề quốc, Sở ấp thành Sở quốc.

Tưởng cũng cần lưu ý, là dù Ấp hay Quốc, thì đất đó cũng là đặc quyền đặc lợi dành riêng cho một dòng họ. Chẳng hạn khi nói “Tề quốc” hoặc “Tề ấp”, phải hiểu đó là “nước” của Tề vương, chứ không phải nước chung của bách tính đang sống trên đất Tề. Cho nên mới có chuyện Ngũ Tử Tư là người nước Sở, vì cha anh bị Sở vương sát hại, Tư bỏ sang Ngô, làm đến Tướng quốc, đã thống lãnh quân Ngô trở về tru diệt nước Sở, nhưng không bị người cả hai nước Ngô, Sở cho là kẻ “phản quốc”.

Qua đó ta thấy thuở xưa, Tổ là Tổ, Quốc là Quốc, chưa kết hợp Tổ + Quốc thành “Tổ quốc”. Vậy tổ hợp này hình thành từ bao giờ?

Đầu tiên là vào thời Đông Tấn (317-420), trong Tây Vực chí 西域志 (Thích Đạo An 釋道安 soạn) có câu: “Cách nước La-vệ 400 dặm về phía đông có nước Ba-ly-việt, Ba-ly-việt là tổ quốc bên ngoài của Phật”[2]. Kế đó, trong Minh sử 明史 (Trương Đình Ngọc 張廷玉, 1672-1755 soạn), có câu: “Mặc-đức-na là tổ quốc của Hồi-hồi, ở khu vực gần Thiên-phương”[3]. Cuối cùng là trong Thánh võ ký[4] có câu: “Ba-xã là tổ quốc của người Hồi”[5]. Qua đó ta thấy trải 1.500 năm, “tổ quốc” chỉ được nhắc tới rải rác 3 lần, và cả 3 đều có chung ý nghĩa là một khái niệm về địa lý: “Tổ quốc” ở đây là “cố thổ” (đất cũ).

Mãi tới cuối thế kỷ 19, bọn Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu làm cuộc duy tân, khi dịch sách, mới chính thức dùng “tổ quốc” để dịch chữ “patria” (quê hương) của phương Tây.

Nếu người ta cứ ở mãi một chỗ hết đời này qua đời khác, thì đã dễ định nghĩa cho “tổ quốc” lắm: đó là quê hương từ bao đời ông bà ông vải. Nhưng khốn nỗi, do nhiều lẽ, dân cư các vùng luôn xáo trộn do dịch chuyển. Lúc này, “tổ quốc” không chỉ đơn thuần là đất nước ông bà nữa, mà còn là mảnh đất mình đang ở, thuộc về. Khi bọn Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch xuống thuyền tìm qua phương Nam quy phụ chúa Nguyễn, thì tổ quốc của họ lúc bấy giờ đã chẳng còn là giang sơn Đại Minh, mà chính là đất mới Đồng Nai, Mỹ Tho. Cũng như ở Việt Nam năm 1954, lúc hàng triệu người bỏ vào Nam thì tổ quốc của họ không còn là miền Bắc, mà đã là Việt Nam Cộng Hòa. Và khi nền Cộng hòa sụp đổ, lại hàng triệu người nữa ra đi, thì từ đó tổ quốc những người này đã không còn là Việt Nam, mà là Mỹ, Canada, Đức, Anh, Pháp…

Trải cuộc tang thương, đất nước cũ của ông bà không còn trùng với đất nước mình đang sống. Mâu thuẫn cũng từ đó sinh ra, khiến người ta có cảm giác bị giằng xé bởi hai “tổ quốc” mới-cũ. Và “tổ quốc” từ chỗ chỉ là tình cảm đối với nơi mình nhiều đời gắn bó, bắt đầu bị yếu tố chính trị xen vào.

Ngày 1-10 vừa qua, Trung cộng tổ chức quốc khánh rình rang. Hai tiếng “tổ quốc” trong những ngày này vang vọng khắp nơi, rót vào tai Hải ngoại Hoa nhân đủ thứ mật ngọt: quốc khánh của tổ quốc chúng ta, tổ quốc ta hùng cường, tổ quốc ta phát triển… Rõ ràng ở đây có sự dị thường: “tổ quốc” từ chỗ là danh từ đã biến thành đại danh từ, để đánh tráo, thay thế cho cái nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bằng cách đánh tráo này, Bắc Kinh muốn khơi gợi chủ nghĩa dân tộc để làm động lòng khắp người Tàu trên thế giới[6]…

Vậy kết lại, cần hiểu chữ “tổ quốc” thế nào cho đúng?

Phải phân định rạch ròi, bởi danh từ này có hai ý nghĩa, có khi không trùng khớp nhau: đó vừa là đất nước ông bà tổ tiên mình từng sống, cũng vừa là đất nước chính mình đang thuộc về. Ở nghĩa trước, chỉ là mối ràng buộc về tình cảm, ở nghĩa sau mới là ràng buộc về pháp lý. Và quan trọng hơn hết, là ở thời nay, chẳng thứ “tổ quốc” nào có quyền đòi hỏi người ta phải hy sinh cho nó. Không có tổ quốc này, có thể tìm tổ quốc khác; còn mạng sống chính mình một khi đã mất, lấy ai đền? Tổ quốc phải là nơi bảo đảm bình yên cho cuộc sống mỗi cá nhân, và ngược lại, chẳng một ai, đoàn thể nào, có quyền yêu cầu mỗi cá nhân phải toàn tâm toàn ý hy sinh, cống hiến cho “tổ quốc”[6].

_________

[1] “Yên Đan tử” 燕丹子 (bộ tiểu thuyết 3 quyển đời Tần, thuật chuyện Thái tử Đan nhờ Kinh Kha hành thích Doanh Chính; là tài liệu được Tư Mã Thiên dùng để viết truyện Kinh Kha) có câu: “Phó bất dĩ man vực nhi Đan bất tiếu, nãi sử tiên sanh lai giáng tệ ấp” 傅不以蠻域而丹不肖,乃使先生來降敝邑 (… Không cho Yên là đất mọi rợ, cũng như Đan này là kẻ bất tiếu, mà khiến tiên sinh đến thăm tệ ấp); chữ “tệ ấp” trong cổ văn đó, khi dịch ra kim văn, người ta thường thay bằng “tệ quốc” cho dễ hiểu.

[2] Nguyên văn: La-vệ quốc đông tứ bách lý chí Ba-ly-việt quốc, Ba-ly-việt quốc tức Phật ngoại tổ quốc dã 羅衛國東四百里至波麗越國, 波麗越國即佛外祖國也. Đời Chu-Tần-Hán, 1 dặm Tàu tương đương 415,8m; 400 dặm = 166,32km. La-vệ tức Ca-tỳ-la-vệ 迦毗羅衛 (Kapilavastu). Tới nay vẫn chưa thể xác định vị trí thành quốc này, nên khó thể biết Ba-ly-việt là nước nào.

[3] Nguyên văn: Mặc-đức-na, Hồi-hồi tổ quốc dã, địa cận Thiên-phương 默德那,回回祖國也,地近天方 (phần Tây Vực truyện 西域傳). Mặc-đức-na 默德那 (có sách chép là Mạch-địa-na 麥地那), tức Medina của Ả Rập Saudi. Hồi-hồi tức tộc Hồi – người Duy-ngô-nhĩ. “Thiên-phương” là tên gọi khác của Mạch-gia 麥加, tức Mecca.

[4] Thánh võ ký 聖武記, do Ngụy Nguyên 魏源 (1794-1857) đời Thanh soạn, hoàn thành năm 1842. Nói về việc bình định vùng Tân Cương của nhà Thanh vào thế kỷ 18.

[5] Nguyên văn: Ba-xã dã, Hồi-hồi tổ quốc 巴社者, 回回祖國. “Ba-xã” tức nước Pakistan.

[6] Ở Việt Nam, chính quyền cũng dùng thủ pháp tương tự nhưng vụng về hơn, khi lộ liễu ghép thêm mỹ từ “xã hội chủ nghĩa” đàng sau chữ “tổ quốc”.

[7] Tất nhiên ở đây ngoại trừ trường hợp những quân nhân. Nhưng cho dù quân đội, chỉ phải xả thân bảo vệ biên cương, hải đảo, không phận của tổ quốc; và cũng chỉ đến thế mà thôi.

Tác giả: Vinhhuy Le

#Chữ_nghĩa_cà_na

Đại khái tôi là Ba Tàu, sinh ra ở Biên Hòa, cạnh dòng Đồng Nai, lập nghiệp ở…