LÒNG YÊU NƯỚC có khi được định nghĩa là “thành trì cuối cùng của những kẻ khốn nạn”; và gần đây lại có người nhận xét rằng khi Tiến sĩ Johnson đưa ra định nghĩa này, ông ta chẳng biết gì về năng lực vô tận ẩn chứa trong từ “cải cách”. Dĩ nhiên, cả hai lời giễu cợt này đều có thể chấp nhận được, cho đến nay chúng đều hướng đến những người dùng những cái tên mỹ miều để che đậy cho ý định tầm thường. Công bằng mà nói, những người ít khi thể hiện trí khôn cũng như tinh thần trách nhiệm ra bên ngoài chẳng thể thấy được rằng lòng yêu nước là một đức tính căn bản; mặc dù vậy, những kẻ khốn nạn lại lợi dụng điều đó cho mục đích của riêng. Vì vậy, các tệ nạn ngày một lớn lên trong xã hội thị dân cũng như trong bất kì xã hội nào, vị chính khách ấy thật ra cũng là một kẻ yếu lòng khi cứ lưỡng lự cải cách những tệ nạn này vì bản thân từ “cải cách” thường phát ra từ miệng của những gã đàn ông ngu ngốc và giả dối.

Lòng yêu nước và cải cách đích thực cũng chính là Chủ nghĩa Mỹ đích thực. Nhiều tên khốn nạn luôn sẵn sàng tìm cách phá hoại các trào lưu cải cách hay ủng hộ những điều bất lương đang tồn tại dưới danh nghĩa Chủ nghĩa Mỹ. Dù vậy, điều này không hề làm thay đổi sự thật rằng những người đóng góp nhiều nhất ở đất nước này là (và phải là) những người mang tinh thần Chủ nghĩa Mỹ chân thành và nồng nhiệt nhất. Dùng một ý tưởng cao đẹp để che đậy dã tâm bên trong đã tệ hại rồi, nhưng sẽ là tệ hại hơn nếu cứ lao vào cái chính ý tưởng cao đẹp ấy chỉ vì nó có thể sử dụng được. Những người làm việc bất lương dưới danh nghĩa lòng yêu nước, cải cách hay Chủ nghĩa Mỹ chỉ là một phần tử nhỏ trong một tầng lớp có thực và luôn tồn tại, tầng lớp của những tên đạo đức giả và ưa lừa phỉnh, tầng lớp luôn xúi giục đánh tráo khẩu hiệu chính danh và sử dụng chúng để làm điều bất lương.

Đọc thử: Nước Mỹ chuyện chưa kể

Những người Mỹ kiên cường và chân chính nhất chính là những người ít đồng cảm nhất với nhóm kêu gọi tinh thần Chủ nghĩa Mỹ để cứu lấy tội lỗi của chính quyền hay để đá văng những thách thức cản trở các nhà cải cách. Chống lại trào lưu tiến bộ này thật đáng khinh bởi các trào lưu ấy đã thành công ở nơi khác, bảo vệ những tệ nạn đang hiện hữu cũng thật đê tiện bởi người dân luôn bị cuốn vào nó. Thật vô ích và ngớ ngẩn khi chống lại một phong trào cải cách bằng những định kiến quốc dân. Khước từ mậu dịch tự do cũng thật trẻ con bởi người Anh đã chấp nhận nó để biện hộ vì lý do tương tự. Khi thương thảo về thuế quan, việc xem xét tác động của luật thuế quan lên các nước khác cũng như tác động lên chính nước ta cũng rất đúng đắn, nhưng tóm lại, tận cùng của sự ngu dốt là cứ cố gắng kích thích định kiến chống lại một hệ thống vốn đang thịnh hành tại một nước nhất định nào đó hay cố gắng kích thích những mặt có lợi trong một định kiến bởi những nhà kinh tế học thấy rằng điều đó phù hợp cho nhu cầu của riêng họ.

Trong những nỗ lực giải quyết vấn đề của chính quyền thành phố, thật điên rồ khi chúng ta từ chối thu lợi từ bất cứ nơi tốt nào, đơn cử như Manchester và Berlin vì đó là những thành phố nước ngoài, chính xác là mù quáng đến điên rồ khi cứ rập khuôn theo các hình mẫu mà không hề tham chiếu đến bối cảnh hoàn toàn khác của thành phố mình. Đối với sự vô lý của tuyên bố chống lại cải cách công vụ, chẳng hạn như “Trung Hoa”, vì những bản điều tra được thảo ra được sử dụng ở Trung Quốc, nên sẽ khá khôn ngoan khi tuyên bố chống lại thuốc súng vì thuốc súng được sử dụng lần đầu bởi chính dân tộc này. Tóm lại, những con người dù xuất thân là những kẻ ngu đần hay từ một nhóm tích cực trong một nhà nước tồi tệ, vẫn cố gắng kêu gọi định kiến của người Mỹ chống lại những tác nhân bên ngoài, để khiến người Mỹ phản đối bất kỳ giải pháp cải thiện tình hình nào, sẽ bị chính người trong nước khinh bỉ nhất. Lắm kẻ kêu gào tinh thần Chủ nghĩa Mỹ bắt chúng ta làm những điều sai trái, nhưng đừng bao giờ để sự khinh miệt của mình với bọn chúng khiến chúng ta mù quáng trước sự cao đẹp của lý tưởng mà chúng đang cố gắng đạp đổ.

Người Mỹ chúng ta vẫn còn phải giải quyết nhiều vấn đề, vẫn còn phải vật lộn với nhiều mối nguy, và còn nhiều việc phải làm, nếu, như chúng ta đủ niềm tin và hy vọng, chúng ta có sự khôn ngoan, sức mạnh, lòng quả cảm và đức hạnh để thực hiện chúng. Nhưng chúng ta phải đối với thực tế rằng không được phép nhượng bộ với một sự lạc quan ngớ ngẩn và và cũng không được đầu hàng trước bất kỳ sự hèn nhát và bi quan ô nhục nào. Chúng ta có những lợi thế và cả những nguy cơ riêng; và tất cả đều chỉ ra rằng chúng ta có thể thắng lớn và cũng có thể thua lớn. Tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ thắng, nhưng chúng ta không được làm ngơ trước những mối đe dọa thường trực, vì đó chính là con đường dẫn đến thất bại. Trái lại, chúng ta phải làm việc nghiêm túc để tìm ra giải pháp cho sự tồn tại và lan rộng của mọi sai trái, phải nhận thức được nó như vậy, và phải tấn công vào nó với lòng kiên trung.

Có nhiều điều sai trái như vậy, và mỗi thứ phải được giải quyết theo một cách giống nhau; nhưng có một đặc trưng của cái chúng ta sẽ mang lại cho giải pháp của mọi vấn đề là một thứ Mỹ quốc luận mãnh liệt và sục sôi. Chúng ta sẽ không bao giờ thành công trước những nguy hiểm trước mắt, chúng ta sẽ chẳng bao giờ đạt được tầm vóc đích thực và cũng chẳng đạt đến lý tưởng cao quý mà những người sáng lập và bảo vệ nền Cộng hòa Liên bang vĩ đại này nếu chúng ta không phải là những người Mỹ từ trong trái tim lẫn tâm hồn, từ trong tinh thần lẫn mục đích, khao khát tôn tại với trách nhiệm của chính một người Mỹ, và tự hào với quyền hạn mà ân điển vinh quang đã ban cho. Có hai hay ba mặt trong vấn đề Chủ nghĩa Mỹ, và hai hay ba nghĩa của từ “Chủ nghĩa Mỹ” có thể được sử dụng để diễn giải những phản đề của những thứ độc hại và phiền phức. Nghĩa đầu tiên là việc chúng ta mong ước sự mở rộng của người Mỹ và nước Mỹ, cũng như phản đối tính địa phương và cục bộ. Chúng ta không mong ước (nhất là về mặt chính trị, văn học, hay nghệ thuật) phát triển cái tinh thần ấu trĩ đầy độc hại này, sự đề cao quá mức của một cộng đồng nhỏ trong một dân tộc lớn, thứ tạo ra cái được gọi là lòng yêu nước của làng xã, lòng yêu nước theo kiểu ếch ngồi đáy giếng. Về mặt chính trị, sự ham muốn cái tinh thần này là nguyên nhân chính gây ra tai họa cho nền cộng hòa cổ đại của Hy Lạp, nền cộng hòa trung đại ở Ý, và cả các Tiểu quốc ở Đức trong thế kỷ trước.

Cái tinh thần yêu nước mang màu sắc địa phương này, hay việc không nhìn nhận sự gắn kết mở rộng ra đối với một quốc gia toàn vẹn là nguyên nhân chính nảy sinh tình trạng vô chính phủ ở các bang miền Nam, điều vốn dĩ cho thấy rằng chúng ta không phải là một quốc gia liên bang rộng lớn của người Mỹ gốc Tây Ban Nha trải dài từ Rio Grande đến Cape Horn, nhưng hàng loạt các bang nổi dậy, không một bang nào trong số đó xếp hạng như một cường quốc thứ hai cả. Tuy nhiên, về mặt chính trị, vấn đề dân tộc tính Mỹ này đã được giải quyết một lần và mãi mãi. Chúng ta không không còn nguy cơ lặp lại những trang sử đáng xấu hổ và trông thấy những thảm kịch giáng xuống vùng đất của người Tây Ban Nha ở lục địa này kể từ khi họ cởi bỏ ách thống trị. Thật ra, trong suốt cuộc đời này, tính địa phương xuất hiện ít hơn trước đây rất nhiều.

Vẫn có vài thứ thi thoảng lại rộ lên, và chỉ có lúc đó chúng ta mới phải nhớ đến sự vô ích khi nói về nền văn học miền Bắc hay văn học miền Nam, trường phái khoa học và nghệ thuật phương Đông hay phương Tây. Joel Chandler Harris rõ ràng là một cây bút quốc dân, như Mark Twain. Họ không chỉ viết về Georgia hay Missouri, California hay xa hơn là Illinois hay Connecticut, họ viết như một người Mỹ và cho tất cả mọi người có thể đọc tiếng Anh. St.Gaudens sống ở New York, nhưng công việc của ông cũng khác biệt như Boston với Chicago vậy. Hệ quả là chúng ta sẽ có một nền văn học phát triển đầy đủ và chín muồi ở Hoa Kỳ, nhưng kết quả không phải là liệu nơi nào trong các nơi như New York, Boston, Chicago hay San Francisco sẽ trở thành trung tâm văn học nghệ thuật của nước Mỹ đâu.

Mặt thứ hai của vấn đề này là sự lan rộng của Chủ nghĩa Mỹ. Lòng yêu nước ở cấp độ địa phương hay ao làng chẳng tốt đẹp gì, nhưng nếu khônh có lòng yêu nước thì thậm chí còn tồi tệ hơn. Có những nhà triết học đoan chắc rằng, trong tương lai, lòng yêu nước sẽ không còn được xem là đạo đức nữa, chúng chỉ là một phần tinh thần trong hành trình tiến đến một trạng thái cảm xúc, khi lòng yêu nước của chúng ta sẽ bao gồm cả nhân loại và toàn thế giới. Điều này cũng có thể xảy ra, nhưng thời đại mà những nhà triết học nói hãy vẫn còn xa lắm. Thật ra, những nhà triết học này đã đi xa đến nỗi họ chẳng để lại chỉ dẫn thực tế nào cho thế hệ hiện nay. Có thể là, vào cái thời đại xa xăm mà chúng ta chắc cũng chẳng thể hiểu nổi cảm xúc của những người sống lúc ấy, lòng yêu nước sẽ không còn được xem là một đức tính nữa, chính xác là khi nó có thể như vậy trong thời điểm đó, con người sẽ xem thường hôn nhân một vợ một chồng, nhưng vì mọi thứ đã tồn tại từ đó đến nay được hai hay ba ngàn năm rồi, và có thể kéo dài thêm hai hay ba ngàn năm nữa, danh từ “quê nhà” hay “đất nước” vẫn mang ý nghĩa lớn. Hai từ ấy không hề có dấu hiệu mất “thiêng” nào cả. Hiện nay, phản quốc, cũng như ngoại tình, được xem là những tội danh đồi bại nhất của con người.

Một người có thể biến thành kẻ phản quốc rất nhanh và là những thành phần bị cộng đồng xa lánh. Một người bị Âu hóa, mất hết quyền làm việc thiện trên mảnh đất của mình và một người mất đi tình yêu với quê cha đất tổ, thì không phải là kẻ phản bội, nhưng anh ta là một công dân ngu ngốc và không được trân trọng. Anh ta dứt khoát là một phần tử độc hại trong cơ chế chính trị như là một người tha hương đến đây và cứ sống như một người nước ngoài. Khiến một người trở không làm việc tốt nhanh hơn và chắc chắn hơn rất nhiều so với việc khiến anh ta có một tâm trí ủy mị mà những người chiếm hữu gọi là thế giới luận.

Điều này không chỉ cần thiết để Mỹ hóa dòng nhập cư từ nước ngoài đến định cư với chúng ta, mà nó thậm chí còn quan trọng hơn đối với chính chúng ta, những người sinh ra và thừa hưởng dòng máu Mỹ, không được vứt bỏ đi quyền thừa hưởng của mình. Thật đáng xấu hổ nếu lại phải cúi đầu trước những thần thánh ngoại lai đã từng bị tổ tiên ta chối bỏ. Thật khó để tin rằng việc ngăn cản người Mỹ làm điều này là cần thiết, khi họ tìm kiếm một mẫu hình của chính họ trước nguy cơ đến từ các nền văn minh khác, họ ngoảnh mặt trước mọi suy nghĩ đúng đắn. Nhưng sự cần thiết này chắc chắn phải tồn tại để đưa ra lời cảnh báo đến nhiều công dân Mỹ, những người tự hãnh diện về chỗ đứng trên nền nghệ thuật và văn chương thế giới, hay có lẽ, về những điều họ gọi là quyền lãnh đạo xã hội của họ trong cộng đồng. Tất nhiên bản gốc luôn tốt hơn bản sao, thậm chí khi bản sao có tốt hơn bản gốc đi chăng nữa. Nhưng điều gì cho chúng ta sẽ thấy là những kẻ ngu ngốc bằng lòng trở thành những bản sao lỗi? Thậm chí nếu những kẻ nhu nhược tìm cách để trở nên khác biệt với người Mỹ đã đúng khi cho rằng những dân tộc khác tốt hơn dân tộc của họ, thực tế cho thấy rằng trở thành một người Mỹ hạng nhất tốt hơn đến 50 lần so với bản sao hạng hai, những người nói tiếng Pháp và tiếng Anh. Tuy nhiên, những người đồng hương của chúng ta tin vào sự kém cỏi của người Mỹ ấy luôn là các cá nhân, những kẻ mà dù có tu dưỡng đến đâu, cũng có những điểm yếu cố hữu về mặt đạo đức hay tinh thần, và đại đa số quần chúng, những người cực kỳ yêu nước và cả những người có tiếng nói và một cái tâm trong sáng, khi dính líu đến đám phản loạn yếu đuối này thì lại được biện minh bằng tính kiên nhẫn và thích thú nửa vời.

Chúng ta phải tin vào cuộc chiến không ngừng nghỉ chống lại tất cả các vấn nạn đang leo thang, và nếu chúng cứ phát triển nội sinh thuần túy thì sẽ không có điểm khác nào với chúng ta cả. Chúng ta phải chiếm giữ bất cứ điều tốt đẹp nào, bất kể chúng xuất hiện lúc nào. Chúng ta không được cho phép quỷ dữ phục vụ cho một hệ thống chính quyền bởi đó là cái cớ xác đáng để chúng phục vụ lại chính ta và thực tế người hầu cận chính là quân khốn nạn, hắn chẳng làm cho tên lừa phỉnh bớt xấu xa thêm chút nào đâu. Nhưng có một sự thật rằng, cho dẫu chúng ta còn rất nhiều lỗi lầm hay thiếu sót, chẳng có vùng đất nào cho con người khả năng phát triển lớn như vậy, tất nhiên có cả chúng ta. Điều đó cũng đúng khi chẳng có ai trong số dân chúng của chúng ta có thể làm bất kì việc gì thực sự xứng đáng trừ khi họ làm việc đó chủ yếu với tư cách một người Mỹ. Đó là bởi vì các tầng lớp nhất định của nhân dân vẫn còn giữ lại tinh thần lệ thuộc thời thuộc địa và thậm chí sùng bái quan điểm của người châu Âu, nên họ không thể thực hiện được điều họ phải làm.

Nơi chúng ta làm việc độc lập nhất chính là nơi ta thành công nhất, và trong những nghề không có dịch vụ mà chỉ có những khoản lợi nhuận khôn ngoan bằng kinh nghiệm của người nước ngoài, chúng ta mới tạo ra được những vĩ nhân. Binh sĩ, chính khách và nhà hùng biện, nhà thám hiểm, những người chinh phục thiên nhiên và cả những người kiến tạo nên sự thịnh vượng, những người tạo ra luận pháp và thấy rằng họ cũng bị xét xử, và cả những con người đầy nghị lực và khôn khéo tạo ra cho chúng ta sự thịnh vượng diệu kỳ của chúng ta. Tất cả họ cùng họa nên một bức tranh tri thức từ kinh nghiệm của mỗi thời đại và mỗi dân tộc; trừ những kẻ chẳng chịu suy nghĩ, làm việc, chinh phục, sống hay chết, vẫn mặc nhiên như thể người Mỹ vậy; trong bức tranh tổng thể ấy có cả người đã làm việc tốt hơn chính họ ở bất kỳ quốc gia khác trong suốt thời gian phụng sự tại đất nước này.

Mặt khác, dân ta lại cố gắng nhào nặn mình trong những nghề nghiệp theo các khuôn mẫu của châu Âu mà ít ra họ đã thành công, điều đó vẫn đúng cho đến tận ngày nay. Dĩ nhiên, dễ thấy nhất là thất bại của một người khi đến sinh sống tại châu Âu, nơi mà anh ta nghiễm nhiên trở thành những người Âu châu hạng hai, vì là một người quá văn minh, quá nhạy cảm hay quá tinh tế nên anh ta đã mất đi tính gan dạ và lòng dũng cảm mà nhờ đó, anh ta có thể một mình chinh phục trong một cuộc đấu tranh cho dân tộc mình. Nhưng nhớ rằng, anh chàng này cũng không hoàn toàn trở thành người châu Âu, anh ta chỉ không còn là người Mỹ, và chẳng trở thành gì cả. Anh ta vứt đi lợi ích vinh quang để đổi lại một thứ nhỏ hơn, và thậm chí chẳng nhận được thứ nhỏ hơn đó nữa. Người họa sĩ đến Pháp, không chỉ để được đào tạo trong 2 hay 3 năm, mà với mục đích sinh sống ở đó lâu dài, với ý định đi theo vết xe đổ của mười ngàn du khách trước đó thay vì nỗ lực hết mình cho sự nghiệp, vì vậy anh ta mất hết cơ hội làm việc tốt nhất của mình. Anh ta buộc phải bằng lòng với những công việc bình thường bao gồm cả những gì ở mức khá đã đang được hoàn thiện để tốt hơn, và anh ta thậm chí chẳng bao giờ thấy được sự hùng vĩ và nên thơ mở ra trước mắt ai đọc cuốn sách về nước Mỹ của quá khứ và cuốn sách về nước Mỹ của hiện tại.

Vì vậy, với những con người nhỏ bé, những người chạy trốn khỏi đất nước như anh ta, với sự nhạy bén tinh tế đầy thông minh phải thấy rằng điều kiện sống phía bên này là chỉ có nước thô, nói cách khác, vì anh ta phát hiện rằng không thể đóng vai trò đàn ông giữa đám đàn ông, do đó đi đến nơi được che chở bởi ngọn gió làm cứng cáp thêm cho tâm hồn ngoan cố của mình. Người di cư này có thể viết nên những câu thơ, bài luận, tiểu thuyết trang nhã và duyên dáng, nhưng anh ta sẽ chẳng bao giờ sánh được với anh mình, một người đủ mạnh mẽ để tự đứng trên đôi chân mình và làm việc với tư cách là người Mỹ. Vì vậy với những nhà khoa học dành cả thanh xuân ở trường đại học tại Đức, và  từ đó trở đi chỉ làm công việc xới đi xới lại 50 lần việc người ta đã làm rồi. Vì thế, với những vị phụ huynh u muội gửi con đi du học, họ chẳng biết về điều mà ai cũng rõ từ Washington hay Jay trở xuống điều biết là rằng người Mỹ làm việc tại Mỹ nên được nuôi dưỡng bởi chính người Mỹ.

Giữa những người thích tự xét chính mình, và thật sự ra, ở mức độ lớn hơn, người lãnh đạo của cái được gọi là thế giới xã hội, đặc biệt trong một số thành phố đông bắc, có cái tư tưởng thuộc địa lẫn cái tinh thần tỉnh lẻ triệt để này. Sự ngưỡng mộ đối với những cái ngoại nhập và khả năng không thể đứng vững trở nên phổ biến và đáng khinh bỉ hơn cả. Chúng ta tin vào mọi niềm vui trung thực và đúng pháp luật, miễn là nó không bị thương mại hóa, và chúng ta cũng thực sự tin vào điều tốt có thể được thực hiện bởi những con người nhàn rỗi, những người làm việc chăm chỉ ngay cả khi nhàn rỗi, cho dù trên lĩnh vực chính trị, nhân đạo, văn học hay nghệ thuật. Nhưng một lớp học nhàn rỗi ở đây đơn giản nói rằng sự lười biếng chính là lời nguyền với cộng đồng, và cho đến nay khi các thành viên tự phân biệt chính họ bằng cách bắt chước những điểm tốt nhất lẫn những điểm không phải tệ nhất của con người phía bên kia đại dương, họ trở thành những phần tử hoạt kê lẫn độc hại cho cơ chế chính trị.

Khía cạnh thứ ba của từ “Chủ nghĩa Mỹ” có thể được tham khảo từ việc Mỹ hóa những mới đến. Chúng ta phải Mỹ hóa học bằng mọi cách, trong lời nói, tư tưởng và nguyên tắc chính trị cũng như trong cách họ nhìn nhận mối quan hệ giữa Giáo hội và Nhà nước. Chúng ta chào đón người Đức và người Ireland thành người Mỹ. Chúng ta chẳng lợi dụng họ. Chúng ta cũng chẳng mong những người Mỹ gốc Đức hay gốc Ireland xuất hiện như vậy trong đời sống chính trị và xã hội của mình. Chúng ta chỉ muốn người họ là Mỹ, và nếu họ thật sự là người Mỹ, chúng ta cũng chẳng cần quan tâm đến việc họ có là người bản xứ hay có gốc gác Đức, Ireland gì cả. Trong cộng đồng Mỹ tốt đẹp này, chúng ta không có chỗ cho một phiếu bầu gốc Đức hay gốc Ireland, và việc nhắm vào bất kỳ nền tảng đảng phái nào với mục đích thu hút phiếu bầu thật đáng phỉ nhổ. Chúng ta cũng không có chỗ cho những người không hành động mà bỏ phiếu với tư cách là người Mỹ hay chẳng với tư cách nào cả. Hơn nữa, những người có thành kiến tôn giáo trong nền chính trị này có ít quyền lợi hơn những người mang định kiến về đẳng cấp hay quốc tịch. Chúng ta hoàn toàn ủng hộ hệ thống trường công lập.

Chúng ta tin rằng chẳng có ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Anh, sẽ được giảng dạy ở tất cả các trường. Chúng ta chống lại bất kỳ sự phân chia nào về ngân quỹ trường học, và chống lại bất kỳ hành vi chiếm dụng tiền công cho mục đích phe phái. Chúng ta chống lại bất kỳ sự công nhận nào của Nhà nước về hình thức và hình thái của các trường nhà dòng được nhà nước hỗ trợ. Nhưng chúng ta cũng phải công bằng khi phản đối sự phân biệt đối xử với một người vì đức tin của họ. Chúng ta cần tất cả công dân, Tin Lành hay Thiên Chúa, Do Thái hay không Do Thái, đều được đối xử công bằng về mọi mặt, rằng tất cả sẽ có quyền được bảo vệ như nhau. Chính lý do này khiến chúng ta không thể loại bỏ được những trường học mang tính giáo phái do Nhà nước hỗ trợ. Điều này khiến chúng ta có chung suy nghĩ rằng, dưới sự quản lý của các trường công, các tín đồ của mỗi đức tin sẽ có quyền bình đẳng và xác tín, toàn vẹn không liên quan đến tôn giáo của họ; rằng những người được ủy thác, giám thị, giáo viên, học giả, tất cả được đối xử như nhau mà không cần tham chiếu đến bất kỳ niềm tin nào.

Chúng ta vẫn còn phẫn nộ với việc bầu bất cứ vị trí nào cho đàn ông, giữa Nhà nước và quốc gia, để chiếm được niềm tin tôn giáo, chỉ cần anh ta là một người Mỹ tốt. Khi một hội kín xuất hiện ở những nơi mà Hội Bảo an Mỹ dường như đã có mặt, và cố gắng bài xích người Thiên Chúa cả về mặt chính trị lẫn xã hội. Việc đó cho thấy rằng chính họ là những kẻ hoàn không phải người Mỹ, như một kẻ xa lạ đối với trường phái tư tưởng chính trị của chúng ta, như một kẻ nhập cư tệ hại cư trú trên vùng đất này. Hành động của chúng hoàn toàn có căn cứ và đáng phỉ nhổ, chúng là kẻ thù của hệ thống trường công vì chúng gia cố sức mạnh bằng lòng thù hận, chúng chắc chắn sẽ nhận lại sự lên án mạnh mẽ của tất cả người Mỹ yêu nước.

Làn sóng nhập cư mạnh mẽ đến nước ta đã mang đến hàng loạt những điều tốt lẫn điều xấu, việc thiên thần hay ác quỷ sẽ ngự trị còn phụ thuộc vào việc liệu những người mới đến có nhúng mình vào đời sống của nước ta hay không, không còn là người châu Âu nữa, và trở thành một người Mỹ như chúng ta. Hơn một phần ba người dân ở các bang miền Bắc là những người sinh ra hoặc có cha mẹ là người nước ngoài. Phần lớn họ đã được Mỹ hóa hoàn toàn và họ đều trở thành những người Thanh giáo, Cavalier hay người dân New York như chúng ta, và họ cũng thực hiện đầy đủ và xứng đáng với phần trách nhiệm công dân của mình.

Dù vậy nơi những người nhập cư, hay con cái của họ không có đủ sự tin tưởng chân thành và thiện chí hòa mình vào chúng ta, mà cứ bám vào phát ngôn, phong tục, lối sống và tư tưởng của cái Cựu Thế giới mà họ đã bỏ đi, vì vậy gây hại cho mình lẫn cho chúng ta. Nếu họ cứ xem mình là người ngoài cuộc, không thể hòa nhập được mãi, và không chung lợi ích với chúng ta, họ sẽ luôn ngăn trở sự phát triển của quốc gia này, và hơn nữa chính họ cũng chẳng thu lại được điều gì tốt đẹp. Sự thật là, mặc dù chúng ta cũng phải hứng chịu tính ương ngạnh này, nhưng họ mới thực sự phải nhận nhiều hậu quả nhất.

Người nhập cư từ châu Âu có nhiều lợi ích khôn xuể nếu trở thành công dân Mỹ. Mang danh công dân Mỹ tức là có một danh dự to lớn, và bất cứ ai không tin nó chẳng có ý nghĩa gì hết, thì nếu anh ta đến từ châu Âu, anh ta tốt hơn hết sẽ sớm trở lại nơi đó thôi. Bên cạnh đó, một người không được Mỹ hóa và thất bại trong việc duy trì gốc gác châu Âu, anh ta sẽ không trở thành gì cả. Người nhập cư không thể cứ duy trì mãi tình trạng của mình, hay cứ tiếp tục ở mãi trong xã hội của Cựu thế giới được. Nếu anh ta cố gắng giữ lại ngôn ngữ của mình, đến vài thế hệ sau thôi nó sẽ trở thành biệt ngữ. Nếu anh ta cố duy trì phong tục và lối sống cũ của mình, chỉ cần qua vài thế hệ thôi là anh ta sẽ trở thành kẻ nhà quê. Anh ta phải cắt bỏ mối liên hệ với Cựu Thế giới, và không thể cứ dây dưa mãi được. Nếu anh ta muốn có thứ mình muốn, anh ta phải hòa nhập bằng cả trái tim lẫn tâm hồn mình vào cuộc đời mới mà không có bất kỳ dè dặt nào.

Kiểm tra và chỉnh đốn người nhập cư bằng luật pháp mạnh mẽ hơn là cực kỳ cần thiết, việc này nên được thực hiện đối với với những người muốn làm suy giảm thị trường lao động và để giữ khoảng cách với những nhóm chủng tộc không chịu hòa nhập vào xã hội của chúng ta, và cả những cá nhân bất hảo, không chỉ là tội phạm, tên đần độn, người cùng khổ, mà còn là những người vô chính phủ như kiểu O’Donovan Rossa. Từ quan điểm của ông, việc người nhập cư trở thành người Mỹ là một điều hoàn toàn đúng đắn. Hơn nữa, từ quan điểm của mình, chúng ta có quyền yêu cầu điều đó.

Chúng ta dang tay chào đón mọi người bạn tốt dù họ đến từ đâu và theo bất cứ đức tin nào, những người đến đây với lòng nhiệt thành để trở thành một công dân Hoa Kỳ tốt như tất cả chúng ta, nhưng chúng ta cũng có quyền và nghĩa vụ yêu cầu rằng họ phải thực sự trở thành người Mỹ và không được mơ hồ trước những vấn đề mà chúng ta gặp phải bằng cách đưa chúng ta vào những tranh cãi và định kiến của Cựu Thế giới. Đó là những điều họ buộc phải thôi ngay. Chẳng hạn, một người nhập cư phải biết rằng cuộc sống ở Mỹ không thích hợp với sự tồn tại của tình trạng vô chính phủ và bất kỳ hội kín có mục tiêu ám sát nào, dù cả ở trong hay ngoài nước, và anh ta phải biết rằng chúng ta có lòng khoan dung tôn giáo đầy đủ và tách biệt hoàn toàn giữa Giáo hội và Nhà nước.

Hơn thế nữa, anh ta không được mang theo dòng dõi tôn giáo và tinh thần phản quốc ở Cựu thế giới, trừ khi anh ta dung hợp chúng thành lòng yêu nước chung với chúng ta, và phải luôn tự hào về những thứ mà tất cả chúng ta cùng tự hào. Anh ta chỉ được cúi đầu trước lá cờ Mỹ, không chỉ phải đặt nó lên đầu thôi đầu, mà còn không được để lá cờ thứ hai nào xuất hiện. Anh ta phải biết tổ chức lễ sinh nhật của Washington hơn là của Đức vua hay Nữ hoàng của mình, và ngày 4 tháng 7 thay vì Ngày lễ Thánh Patrick. Các vấn đề chính trị và xã hội của chúng ta phải dựa trên lợi ích của chính chúng ta, và không có tranh cãi phức tạo nào như giữa Anh và Ireland, Pháp và Đức, với những thứ chúng ta không được làm: chống lại chiến dịch chính trị ở Mỹ với sự can dự của châu Âu là sự xúc phạm trắng trợn. Hơn tất cả, người nhập cư phải học cách nói chuyện và suy nghĩ như người Mỹ.

Người nhập cư ngày nay có thể học được nhiều điều từ kinh nghiệm của các thế hệ đi trước, những người đến Mỹ trước thời Cách mạng Mỹ. Chúng ta là thế hệ sau, và chúng ta bây giờ là một dân tộc đa huyết thống. Nhiều cái tên nổi bật nhất của Cách mạng được sinh ra bởi những người mang dòng máu Huguenot như Jay, Sevier, Marion, Laurens. Nhưng xét về tổng thể, người Huguenot là những người nhập cư tuyệt vời nhất mà chúng ta có được, sớm hơn bất kỳ ai khác, và hoàn toàn trở thành người Mỹ cả về lời nói, nhận thức, và suy nghĩ. Người Hà Lan mất nhiều thời gian hòa nhập hơn người Huguenot, dù vậy họ cũng hòa nhập thành công. Một trong những tướng lĩnh lãnh đạo Cách mạng, Schuyler, và Tổng thống Mỹ Van Buren là những người mang dòng máu Hà Lan. Họ vươn lên vị trí cao nhất của mình vì đã trở thành người Mỹ chứ không còn là người Hà Lan.

Nếu cứ mãi là người xa xứ, từ chối lời ăn tiếng nói, phong tục và tín ngưỡng của người Mỹ, thì Schuyler sẽ chỉ là một kẻ quê mùa, một người bảo vệ làng xóm và Van Buren đến cuối đời cũng sẽ chỉ là một chủ quán rượu nhỏ. Tương tự như vậy với cộng đồng nói tiếng Đức ở Pennsylvania. Những người trong số họ được Mỹ hoá và để lại cho chúng ta nhiều tên tuổi lớn các thế hệ của nhà Muhlenbergs, nhưng một số người đến tận ngày nay vẫn không chấp nhận Mỹ hoá và tự họ trở thành phần tử thứ yếu, không có nhiều ý nghĩa  trong xã hội Mỹ. Cộng đồng đến từ Ireland cũng vậy, họ đóng góp cho lịch sử Các mạng những cái tên như Carroll hay Sullivan và cho cuộc Nội chiến những người như Sheridan – những người Mỹ chính hiệu. Dầu vậy những người Ireland vẫn sống khép mình, đơn độc trước nền chính trị bên ngoài, họ có thể chỉ có chút ảnh hưởng chẳng mấy tốt đẹp gì lên đời sống người Mỹ, và có thể chẳng đời nào thể hiện tình cảm đồng hương với những người Mỹ đích thực.

Vì vậy, điều này cũng xảy ra với tất cả dòng người đến đây, với bất kỳ thành phần hay dòng máu nào, các nhà thờ cũng vậy. Một nhà thờ cứ xem mình là người ngoại quốc, về mặt ngôn ngữ hay cả về tâm linh, đều sẽ chết. Nhưng tôi muốn hiểu rõ một điều rằng Chủ nghĩa Mỹ là một vấn đề tinh thần, lòng tin và ý định, không phải về mặt tín điều hay nơi sinh. Chính trị gia nào trả giá cho lá phiếu của người Ireland hay người Đức, hay những người Ireland hay người Đức bầu cử với tư cách là chính họ (chứ không phải người Mỹ), đều rất đáng bị khinh bỉ, vì toàn thể nhân dân trong khối thịnh vượng chung này chỉ có thể bầu cử với tư cách người Mỹ mà thôi, nhưng ông ta thì chẳng xấu xa hơn một tên cử tri chống lại một người Mỹ tốt chỉ vì người Mỹ đó sinh ra ở Ireland hay ở Đức.

Thuyết bất khả tri, hay dạng thức nào kiểu như vậy, hoàn toàn là một hình thức bài Mỹ như sản phẩm ngoại lai. Phản đối một người vì tín ngưỡng hay nơi sinh của anh ta thật đáng sỉ nhục và tất cả công dân tốt đều phấn đấu trong sự táo tởm đó. Một người Bắc Âu, người Đức hay người Ireland thực sự được Mỹ hoá có quyền được đối xử ngang hàng với bất kỳ công dân bản xứ nào trên mảnh đất này, và có nhiều cơ hội kết bạn và trợ giúp, xã hội và chính trị từ hàng xóm láng giềng. Tôi có ít bạn mối quan hệ xã hội, bạn bè thân thiết hay cùng quan điểm chính trị sinh ra phía bên kia đại dương như Đức, Ireland hay Bắc Âu, và đương nhiên không thể có người nào tốt hơn trong số người dân bản xứ của chúng ta.

Để khép lại bài viết, tôi thấy rằng cách tốt nhất để diễn tả cho thái độ lý tưởng của dân chúng khi nhìn nhận về những người sinh ra ở nước ngoài là dẫn ra vài lời của một công dẫn Mỹ tiêu biểu, sinh ở Đức, Ngài Richard Guenther đến từ Wisconsin. Trong bài phát biểu trong thời điểm bất ổn ở Samoan, ông nói rằng:

“Chúng tôi biết rằng chúng tôi có nghĩa vụ với bất kỳ tầng lớp công dân nào. Chúng tôi sẽ làm việc cho đất nước của chúng ta khi bình yên lẫn khi chiến trận, nếu nó thực sự xảy ra. Khi tôi nói rằng đất nước của chúng ta thì dĩ nhiên, đó chính là đất nước đã cưu mang chúng ta, tức là nước Hoa Kỳ này đây. Sau khi trải qua quá trình nhập quốc tịch gian lao, chúng ta không còn là người Đức nữa, chúng ta là người Mỹ. Sự gắn bó của chúng ta với nước Mỹ không thể được đo đến bằng thời gian cư trú ở đây được. Chúng ta là người Mỹ ngay từ khoảnh khắc chúng ta đặt chân đến bờ biển Mỹ cho đến khi ta ra đi trên nấm mồ Mỹ. Chúng ta sẽ chiến đấu vì nước Mỹ, bất cứ khi nào nước Mỹ cần. Nước Mỹ, đầu tiên, cũng là sau chót, và vĩnh cửu. Nước Mỹ biệt lập với nước Đức, nước Mỹ cũng biệt lập với thế giới. Nước Mỹ, dù đúng hay sai, vẫn luôn là nước Mỹ. Bởi chúng ta là người Mỹ”.

Thật vinh dự cho những ai nói được những lời như vậy, tôi tin rằng chúng diễn tả được cảm xúc của đại đa số công dân Mỹ sinh ra tại nước ngoài. Người Mỹ chúng ta chỉ có thể làm tốt nhiệm vụ được giao nếu chúng ta đối mặt với nó một cách kiên định và dũng cảm, đối mặt không chút lo sợ. Trên hết, chúng ta phải kề vai sát cánh, không đòi hỏi tổ tiên hay tín điều nào từ đồng đội, chỉ cần họ thực sự là người Mỹ, và việc chúng ta làm cùng nhau, bằng cả khối óc, con tim, cho danh dự và lòng cao thượng của đất nước mình.

Tác giả: Theodore Roosevelt

Nguồn: https://teachingamericanhistory.org/library/document/true-americanism-the-forum-magazine/

Dịch: Lê Minh Tân