Bản tiếng Việt – Hà Thủy Nguyên

Sầu lại sầu ôi khôn tả xiết
Đèn chong bóng chiếc nặng buồn thương
Eo óc gà kêu năm canh vọng
Phơ phất bóng hòe rủ tám phương
Sầu như biển
Khắc tựa năm
Gượng thắp trầm hương hồn tan loãng khói sương
Gương soi gương lệ ngọc lã chã cỏ hoa
Gượng ôm đàn tâm động chùng dây loan phượng
Gượng gẩy điệu bi thương đứt phím uyên ương
Mượn ngọn đông phong gửi tấm lòng
Ngàn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dầu chẳng đến
Nhớ chàng dằng dặc ôi đường vô tận
Vô tận chẳng thể đi
Trông chàng vời vợi ôi nhớ miên man
Ngóng người xa xăm lòng đau xót
Lá thu xanh điểm bạc
Dế rỉ rả mưa buông
Sương giáng rụng ôi dương liễu
Mưa cưa rơi ôi ngô đồng
Chim bay lạc gió
Sương giăng mịt mùng
Trùng rên lạnh vách
Chuông sớm điểm xa
Dế đêm đếm mưa rơi
Tàu tiêu cơn gió nổi
Gió xé song thưa luồn rét mướt
Trăng động rèm hoa bóng lung lay
Trăng soi hoa sáng lên sắc trắng
Hoa mượn trăng tươi khoe vẻ hồng
Trăng hoa hoa trăng kìa bóng lồng bóng
Trước hoa dưới nguyệt kìa buồn lại buồn.

Bản Hán Việt của Đặng Trần Côn:

Bi hựu bi hề cánh vô ngôn
Đăng hoa nhân ảnh tổng kham liên
Y ốc kê thanh thông ngũ dạ
Phi phất hoè âm độ bát chuyên
Sầu tự hải
Khắc như niên
Cưỡng nhiên hương hoa hồn tiêu đàn chú hạ
Cưỡng lâm kính ngọc cân truỵ lăng hoa tiền
Cưỡng viện cầm chỉ hạ kinh đình loan phượng trụ
Cưỡng điều sắt khúc trung bi yết uyên ương huyền
Thử ý xuân phong nhược khẳng truyền
Thiên kim tá lực ký Yên Nhiên
Yên Nhiên vị năng truyền
Ức quân thiều thiều hề lộ như thiên
Thiên viễn vị dị thông
Ức quân du du hề tứ hà cùng
Hoài nhân xứ thương tâm hung
Thụ diệp thanh sương lý
Cùng thanh tế vũ trung
Sương phủ tàn hề dương liễu
Vũ cứ tổn hề ngô đồng
Điểu phản cao thung
Lộ há đê tùng
Hàn viên hậu trùng
Viễn tự hiểu chung
Tất suất sổ thanh vũ
Ba tiêu nhất viện phong
Phong liệt chỉ song xuyên trướng khích
Nguyệt di hoa ảnh thướng liêm lung
Hoa tiền nguyệt chiếu nguyệt tự bạch
Nguyệt hạ hoa khai hoa tự hồng
Nguyệt hoa hoa nguyệt hề ảnh trùng trùng
Hoa tiền nguyệt hạ hề tâm xung xung.