Khi kẻ thù chung là chế độ cũ đã lùi vào quá khứ, các nhóm trong khối đấu tranh đã nhanh chóng rẽ sang những con đường riêng.

 

Như ta đã thấy từ trước, trong thời gian hòa bình giữa hai cuộc thế chiến, Czechoslovakia là nền dân chủ tự do ổn định và thực sự hoạt động hiệu quả nhất trong khu vực. Sau năm 1989, di sản Masaryk tồn tại như là một lời nhắc nhở cho người Czechoslovakia, và trên hết là công dân Czech, rằng các tiêu chuẩn mà nay họ mong muốn đã từng đạt được trước đây. Những lý tưởng của chính phủ dân chủ tự do, về nhà nước pháp quyền và đa nguyên không chỉ tồn tại một cách trừu tượng. Trong ý thức của người dân, quá trình chuyển đổi sang dân chủ có thể được coi là sự tái khẳng định di sản quốc gia chứ không phải là một điều gì đó xa lạ hay áp đặt từ bên ngoài.

Khó nói chuyện này có biểu hiện thế nào trong lĩnh vực chính trị thực tế. Tầm quan trọng của nó có lẽ được đánh giá bằng cách xem xét kinh nghiệm của các quốc gia khác trong khu vực – Slovakia, như chúng ta sẽ thấy trong Chương 8, là một ví dụ điển hình – nơi các lực lượng chống dân chủ được tiếp thêm cảm hứng từ thời kỳ hoàng kim, khi các nhà lãnh đạo nhận được lòng trung thành của mọi người thông qua quyền cai trị mạnh bạo tuyệt đối từ trên xuống. Khi chủ nghĩa cộng sản nhường chỗ cho tự do, khuynh hướng độc tài và niềm tự hào dân tộc có thể dễ dàng trở nên vướng víu. Đối với người Czech, kỷ nguyên đỉnh cao, cùng với của sự tự tôn dân tộc trùng với sự hưng thịnh của nền tự do dân chủ. Chủ nghĩa độc đoán và chủ nghĩa dân tộc đại diện cho một giai đoạn tệ hại.

Mười năm sau Cách mạng Nhung, cũng đã là hợp lý để xem xét Cộng hòa Czech đã đi tới đâu trong việc xoay sở để chuyển hóa những lợi thế ban đầu ấy vào thực tế. Trên hết, có phù hợp không khi gọi Cộng hòa Czech là “hậu cộng sản”, hay những vấn đề chính trị của nước này có tương ứng với các vấn đề ở những nền dân chủ phát triển hơn ở phương Tây?

Chiến địa cho cuộc tranh luận này đã đủ rõ ràng.

Thời kỳ then chốt của chính trị Czech là vào những năm 1990, sau khi tách khỏi Slovakia, đi cùng với sự sụp đổ của liên minh trung hữu của Thủ tướng Vaclav Klaus vào cuối năm 1997, cho đến khi thành lập một nền dân chủ xã hội thay thế với sự hỗ trợ từ Klaus vào mùa hè tiếp theo.

Sự trỗi dậy của các nhà dân chủ xã hội cánh tả ôn hòa tại cuộc bầu cử năm 1996 đã làm thay đổi cán cân quyền lực bằng cách tước quyền đa số của cánh trung hữu, nhưng cuối năm 1997 đánh dấu lần đầu tiên đất nước chứng kiến cảnh một chính phủ sụp đổ, và nó đại diện cho một điểm mà từ đó tất cả các lực lượng chính trên chính trường Czech xuất hiện.

Tổng thống Havel đã sử dụng toàn bộ quyền lực từ chức vụ của mình để lên án các đặc tính quan trọng của quá trình chuyển đổi; thái độ thù địch dài lâu và có phần ngấm ngầm giữa Klaus và tổng thống, hay giữa Klaus với các thành viên cánh hữu và chủ trương ôn hòa trong chính phủ đã được công khai; tham nhũng đã góp phần lớn làm suy yếu nghiêm trọng niềm tin của công chúng vào quá trình cải cách, và điều đó là vấn đề quan trọng trong cuộc tranh luận chính trị của đảng; điều cuối cùng và một phần cũng là điều củng cố tất cả những việc này, thời kỳ đó trùng với sự xuống dốc của nền kinh tế suy thoái nghiêm trọng, khiến cho dự án cải cách kinh tế và đặc biệt là mức tín nhiệm dành cho những người đã tiến hành nó bị đặt vào vòng nghi vấn.

Hệ quả nghiêm trọng của tất cả những điều này là hệ thống chính trị đảng phái tạm thời tan vỡ. Cần thiết phải bổ nhiệm một chính phủ phi đảng phái đứng đầu là thống đốc ngân hàng trung ương Josef Tosovsky, và rõ ràng là khó bên nào đạt đến quyền đa số ở nghị viện trong một thời gian dài sắp tới. Mối quan hệ giữa Chủ tịch và hệ thống đảng, và vì những lý do liên quan, cũng đi đến điểm khủng hoảng.

Với rất nhiều biến chuyển đang diễn ra trong giai đoạn này và rất nhiều yếu tố xảy đến cùng lúc, chúng ta cần phải tách các yếu tố chính ra, xem xét chúng một cách riêng biệt và sau đó nhìn nhận xem tại sao giữa các đảng, và đồng thời giữa hệ thống đảng với tổng thống lại khó tìm thấy sự hợp tác và tiếng nói chung. Đây không chỉ đơn thuần là một bài chứng minh rằng định hướng chính trị Czech đã được xác định bởi một quá khứ cộng sản cụ thể, mặc dù rõ ràng là như vậy. Vì giờ đây rõ ràng vấn đề cụ thể của chính trị Czech là sự thất bại của các cuộc bầu cử dân chủ nhằm tạo ra chính phủ khả thi, đất nước đang xem xét thay đổi hệ thống bầu cử nhằm nâng cao mức độ đoàn kết chính trị. Về dài hạn, thất bại hay thành công trong việc thực hiện mục tiêu này sẽ phần nào phụ thuộc vào cách các nhà hoạch định chính sách diễn giải nguyên nhân cơ bản của sự chia rẽ.

Sự rạn nứt của chính trị đảng phái

Dưới hình thức Diễn đàn Dân sự, Cách mạng Nhung đã được dẫn dắt bởi cái mà các nhà khoa học chính trị gọi là một “khối” đảng phái, tập hợp một lực lượng rất lớn lại dưới cùng một ngọn cờ chống cộng sản. Petr Uhl là một ví dụ, ông là một trong những người nổi bật nhất và khổ sở nhất trong đội ngũ bất đồng chính kiến, và là một Trotskyist. Vaclav Benda bắt đầu bằng một kiểu dân chủ Thiên chúa giáo với vài lời tốt đẹp về cuộc đảo chính chống cộng của Augusto Pinochet năm 1973. Vaclav Klaus là một nhà kinh tế tân tự do cứng đầu với thời gian ít ỏi dành cho nhiều nhà bất đồng chính kiến, ​​đã mang đến cho cuộc cách mạng tính chất trí tuệ và đạo đức đặc biệt của nó.

Những cá nhân và các nhóm hình thành xung quanh họ đã làm việc cùng nhau trong hoàn cảnh hết sức bất thường. Tổ chức bảo trợ Diễn đàn Dân sự là một sản phẩm chính thức của bước chuyển ban đầu từ chủ nghĩa cộng sản, và khi hình ảnh kẻ thù chung là chế độ cũ đã lùi vào quá khứ, các nhóm khác biệt trong khối đã nhanh chóng đi theo con đường riêng. Chúng ta hãy nhìn vào cách hệ thống chính trị đảng phái nổi lên kể từ thời điểm đó.

Cánh hữu

Cánh hữu Czech đã thống trị trong những năm 1990 bằng Đảng Dân chủ Dân sự (ODS) của Vaclav Klaus và một trong hai đảng nhỏ hơn. Đến năm 1998, Liên minh Dân chủ Dân sự (ODA) đóng vai trò đàn em. Từ đó, Liên minh tự do (US), lập ra bởi những tiếng nói bất đồng với ODS, đã có vị trí của mình.

Nhìn vào bản chất của chính trị trong khu vực nói chung, George Schopflin, trong những năm đầu tiên sau các cuộc cách mạng năm 1989, đã viết nên lập luận rằng so với cánh tả, cánh hữu thực sự phải đối mặt với những khó khăn lớn hơn trong việc điều chỉnh theo những điều kiện mới hậu cộng sản, và ông thừa nhận rằng họ đã phải chịu một thất bại lớn.

Bởi vì không có cơ hội để hiện đại hóa chủ nghĩa bảo thủ dưới sự cai trị của cộng sản, các truyền thống bảo thủ mà các đảng cánh hữu hay ‘ôn hòa’ lật lại là những truyền thống phù hợp với một chính thể và xã hội với tính chất quốc gia và tôn giáo tiền hiện đại, thuộc về những năm 1930. Vấn đề là trong thời gian đó, những thay đổi lớn đã diễn ra ở những xã hội này, và những ý tưởng của thập niên 1930 hầu như không còn phù hợp với hoàn cảnh, trong khi tính chất quốc gia và tôn giáo lại không mấy liên quan đến vấn đề phân phối quyền lực.

Tuy nhiên, có thể có một quan sát hợp lý rằng, ba đảng cánh hữu của Czech nhận được rất ít sự công nhận từ phần còn lại của Đông Âu, ba đảng ODS, ODA và US tiếp thu nguồn cảm hứng từ những giáo huấn ý thức hệ của phái Tân Hữu. Các hình thức tôn giáo và dân tộc của chủ nghĩa bảo thủ hiếm khi nổi lên.

Mặc dù luận cứ về sự hao mòn dường như không ứng với trường hợp này, nhưng di sản từ sự cai trị cộng sản đã gây một ảnh hưởng hoàn toàn quyết định đến Cánh hữu ở Czech, khi đã tước đi tầng lớp nền tảng đứng ra hỗ trợ cho họ. Ràng buộc của lòng trung thành, được hình thành thông qua lợi ích cá nhân có được từ các nhóm công nghiệp – nông nghiệp được thành lập, hay từ nguyện vọng của tầng lớp doanh nhân, không thể nào phát triển trong một hệ thống cộng sản, nơi xóa bỏ tư hữu tài sản và sự di động xã hội chủ yếu phụ thuộc vào việc hợp tác với đảng cầm quyền. Trong khi đó, phần lớn các cơ sở xã hội của Cánh tả lại vẫn còn nguyên vẹn và không chịu tổn hại. Sau cuộc cách mạng, các đảng cánh tả có một nhóm cử tri tự nhiên bao gồm những người luôn sống dựa vào trợ cấp xã hội của nhà nước, hay các công nhân công nghiệp, và tất nhiên, thiểu số đồng tình với cộng sản, và các đảng viên cũ.

Không có một tầng lớp cơ sở tương đương, cánh hữu phải tìm hướng khác để tự thiết lập nên một lực lượng chính trị mạnh mẽ. Trong bầu không khí chính trị tương đối giác ngộ trong nước, mị dân theo hướng dân túy hoàn toàn không có tương lai. Thách thức chính trị nghiêm trọng này đòi hỏi phải có một tập hợp mạnh các sáng kiến trong chính sách. Không như các nước đông Âu khác, hệ tư tưởng tân tự do trở thành bộ tư tưởng được hợp pháp hóa, ràng buộc cánh hữu Czech với ODS. ODA và US dường như cùng đón nhận điều đó với thái độ nhiệt tình như nhau.

Có nhiều cách giải thích cho việc này. Nói theo hướng phủ định, có vẻ như các truyền thống chống giáo sĩ lâu đời và một môi trường xã hội tự do đã biến chủ nghĩa bảo thủ dựa trên tôn giáo thành một lựa chọn không thể có ở một đảng chính trị lớn. Nền chính trị kiểu đạo đức đa số chỉ có thể đạt được khi đa số thực sự tin tưởng vào một loại luân lý, nhưng có rất ít bằng chứng cho thấy điều đó xảy ra trong trường hợp nước Czech. Chủ nghĩa dân tộc thô bạo dường như cũng chỉ có sức hấp dẫn hạn chế đối với những người muốn gia nhập Liên minh châu Âu và không có yêu sách gì về lãnh thổ hoặc vấn đề quan trọng ở hải ngoại. Cộng hòa Czech cũng không chứa các nhóm thiểu số đáng chú ý từ các quốc gia khác. Czech có thể ít nhiều thù địch công khai với Roma ở cấp độ cá nhân, nhưng thể theo sự thịnh vượng chung của Đảng Cộng hòa, họ không thực sự tưởng thưởng cho những người thể hiện những tình cảm như vậy ở mức độ chính trị cấp cao.

Khi những cánh cửa này khép lại với cánh hữu, chủ nghĩa tân tự do có thể chỉ đơn giản là tự đề xuất chính nó, với sự vắng mặt của các đối thủ. Nhưng cũng có những lý do tích cực để lý giải rằng nó có thể thành công trong trường hợp nước Czech. Một điều là, cử tri và giới tinh hoa đã kinh qua những trải nghiệm nhất định thuận lợi cho sự phát triển của tư duy Tân Hữu. Một lần, trong khối Xô viết dưới chế độ cộng sản, họ đã chứng kiến một nỗ lực ngắn ngủi trong năm 1868 nhằm mang đến một sự thay thế từ bên trong hệ thống cộng sản. Thất bại của cuộc cải cách Mùa xuân Prague có thể trở thành một nguồn cảm hứng để tìm kiếm một khuôn khổ ý thức hệ hoàn toàn mới, lý do duy nhất là bởi chủ nghĩa xã hội dường như đã cạn kiệt khả năng rồi.

Ngoài ra, trải nghiệm 1968 chắc chắn đang mang đến cho nhiều người Czech hiểu biết sâu sắc hơn về thất bại của hệ thống cộng sản. Vẫn biết rằng phần nhiều trong số những lời chỉ trích thích đáng và liên tục nhất từ phương Tây nhắm vào cộng sản là đến từ những người tân tự do, có lẽ việc ít nhất coi những tư tưởng Tân Hữu là nghiêm túc đã trở thành khuynh hướng tự nhiên đối với nhiều trí thức đối lập.

Ở một đất nước coi trọng các giá trị trí tuệ, nơi cánh hữu đã bị mất uy tín triệt để, cũng hợp lý khi mong đợi rằng nhiều người sẽ bị hấp dẫn với hình thức tư duy cánh hữu, thứ đã vượt ra ngoài nền chính trị tinh hoa truyền thống được biểu lộ ở các nước Đông Âu khác.

Nhưng nếu cánh hữu Czech có được mối liên hệ tự nhiên đến vậy với chủ nghĩa tân tự do, và các đảng nghị viện cánh hữu đều đồng lòng cam kết với nó, tại sao những lời kêu gọi hợp nhất thành một đảng duy nhất lại chẳng hề được hưởng ứng? Câu trả lời khả dĩ là mặc dù họ đều tuyên bố ủng hộ chủ nghĩa tân tự do, nhưng đảng lớn nhất là ODS lại thất bại trong việc thực hành tân tự do. Ở Chương 5, khi chủ nghĩa tân tự do được bàn luận trong một bối cảnh khác, có tranh luận cho rằng xuất hiện những dấu hiệu cho thấy Klaus chỉ hiểu biết rất sơ đẳng về nhiều nguyên tắc quan trọng của chủ nghĩa tân tự do.  Cũng rõ ràng là chính quyền lãnh đạo bởi ODS không theo đuổi một cách triệt để các chính sách tân tự do, chẳng hạn như nhanh chóng bãi bỏ thị trường nhà đất, bãi bỏ hoàn toàn luật bảo vệ công ăn việc làm, cắt giảm thuế mạnh mẽ, vân vân… Nhưng thành viên của hai đảng còn lại cũng góp thành một phần trong chính phủ và có thể nhìn thấy logic của khía cạnh thỏa hiệp trong chủ nghĩa tân tự do cũng như tránh né việc xa rời công luận. Tất cả các đảng phái dựa trên ý thức hệ lên nắm quyền đều là nạn nhân của sự thỏa hiệp, nhưng điều đó không có nghĩa là danh tính của chúng không còn được xác định theo nghĩa ý thức hệ, nơi ngọn nguồn nảy sinh những sai lệch này.

Cũng cần giải thích lý do cơ bản dẫn đến sự phân chia này ở khía cạnh tham nhũng, đặc biệt là với sự dung dưỡng của Klaus đối với các hoạt động kinh doanh mờ ám phát sinh từ quá trình tư nhân hóa. Rốt cuộc, liên minh đã rơi vào một vụ bê bối tài chính bên trong ODS, nhiều thành viên cấp cao trong Đảng đã kêu gọi Klaus chịu trách nhiệm và từ chức.

Các vụ bê bối tài chính xảy ra với đảng ODS, còn các chính trị gia ở ODA và US chiếm các vị trí chủ chốt trong chính phủ vào thời điểm các hành vi tham nhũng được xác nhận.

Tình trạng khác biệt ấy, trong nhất thời, không có vẻ gì là quan trọng trong việc lý giải cho sự phân chia sau này; mặc dù vậy, như ta thấy hiện nay, chúng đã tạo ra một sự cọ sát nghiêm trọng trong tình huống nhất định này.

Sự chia tách của cánh hữu dường như liên quan đến phẩm cách nhiều hơn là nguyên tắc hay tiêu chuẩn hành xử.

Những lý do chung dẫn đến sự xuất hiện của nền chính trị dựa trên phẩm cách cá nhân trong một môi trường hậu cộng sản là điều nhiều người đã biết. Lòng trung thành dành cho các đảng chính trị mới chỉ vài năm tuổi là điều không có gì đảm bảo. Một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và lôi cuốn – mà Klaus, theo cách của mình, đích xác là như vậy – là một điểm cộng trong mọi môi trường chính trị. Trong nước Czech Cộng hòa hậu cộng sản còn chưa trưởng thành, ODS không cưỡng lại được cám dỗ muốn kiến thiết Đảng xung quanh một cá tính đại chúng. Việc này dẫn đến một hệ quả rất rõ ràng. Nếu các đảng chính trị khác gặp phải vấn đề với nhân vật lãnh đạo ODS, thì đảng này, vốn đã được xây dựng xung quanh nhân vật kia, sẽ chẳng bao giờ thay lãnh đạo để tăng cường đoàn kết liên đảng. Những lời kêu gọi rộ lên định kỳ trong suốt thập niên 1990 đòi ODS trở nên thân thiện hơn với các đảng khác bằng cách loại bỏ Klaus đều đã đi chệch mục tiêu. Cử tri còn trung thành với lãnh đạo của ODS hơn chính ODS. Klaus còn lớn hơn cả chính đảng của mình.

Điều này giải thích tại sao Klaus lại trở thành một chướng ngại lớn cản trở đoàn kết trong bối cảnh chính trị nói chung. Có một yếu tố khác ít rõ ràng hơn những cũng góp phần đặc biệt làm cánh hữu trở nên mất đoàn kết.

Vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ giữa những chính sách định hướng tinh hoa và các đảng chính trị đang khao khát một cơ sở cử tri rộng lớn. Hệ tư tưởng tân tự do đã đóng vai trò là chất keo gắn kết các chính trị gia cánh tả ưu tú, nhưng không dễ để đưa các chính sách tân tự do đến cho quần chúng. Người ta dường như có thể phổ biến chủ nghĩa bảo thủ tài chính về mặt chính phủ có trách nhiệm. Nhưng các chính sách khác thì lại có sức hấp dẫn tức thì kém hơn nhiều. Hãy tưởng tượng, chẳng hạn, sẽ khó khăn thế nào khi phải thuyết phục quần chúng rằng việc bãi bỏ cơ chế bảo vệ công ăn việc làm sẽ giúp gia tăng lượng công việc sẵn có, và giúp cải thiện năng suất, tăng lương. Ở mức độ phổ thông, các lập luận như vậy đơn giản là phản trực giác và có khá ít người trong quần chúng từng nghiên cứu đề tài này một cách chi tiết đầy đủ để hiểu được logic ấy.

ODS ôm ham muốn dùng hình tượng lãnh đạo để thu hút hết sự chú ý của quần chúng vốn có thể dành cho những vấn đề chính sách phức tạp, nhưng điều đó cũng dẫn đến vấn đề. Bị nhấn chìm trong thị trường đại chúng, ODA và US ngược lại đã chiếm được các cử tri thuộc các khu vực công chúng tinh hoa, đặc biệt là những người tập trung ở Prague, nơi đã từng bị thu hút bởi nền chính trị tân tự do dựa trên cơ sở trí thức. Các cử tri của họ không cần, và dường như thậm chí còn bực bội với sự hiện diện của một cá tính mạnh mẽ, được dùng làm phương tiện để đảm bảo sự ủng hộ của quần chúng.

Bên này là ODS và bên kia là ODA/US, tất cả đều cố bán cùng một gói ý thức hệ tương tự nhau cho cơ sở cử tri hoàn toàn khác nhau. Điều này được phản ánh trong chính sự hình thành của các đảng này, tạo cho chúng những đặc tính chính trị khác nhau và đặc biệt phân chia chúng xung quanh vần đề phong cách lãnh đạo dân túy dựa trên sức hút cá nhân của Klaus.

Ôn hòa

Nhóm ôn hòa trong bối cảnh chính trị đảng phái bị chi phối bởi Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo – Đảng Nhân dân Tiệp Khắc (KDUCSL). Đảng này đã cố duy trì tỷ lệ cử tri trung thành với mình ở mức 10% toàn bộ khối cử tri cho đến khi thỏa thuận tương hỗ giữa ODS và CSSD được hình thành năm 1998 chi phối hoàn toàn chính trường Czech. Đảng này có thể trao quyền cho cánh hữu hoặc cánh tả, và luôn giữ một mức độ đe dọa công khai đối với chính quyền cánh hữu mà nó cũng tham gia vào, rằng nếu quan điểm của nó không được tôn trọng, nó sẽ ngăn trở phá hoại liên minh.

Cũng hợp lý khi nghĩ rằng những thành công ban đầu của KDU là nhờ vào mối lo ngại của các cử tri trung tả về độ tin cậy của Đảng Dân chủ xã hội, một Đảng đã mất nhiều năm để nổi lên thành một lực lượng mạnh mẽ cho cuộc thay đổi chính trị. Những cử tri không thích Klaus ở cả góc độ cá nhân lẫn lập trường cánh hữu của ông, nhưng lại không chắc chắn trong quyết định bỏ phiếu cho các đảng tả khuynh, một cách tự nhiên, sẽ nghiêng về phương án bỏ phiếu cho cánh ôn hòa. Đảng cũng có thể trông đợi vào sự ủng hộ của những khu vực cử tri nhỏ nhưng vững chắc, gồm những người muốn thấy một Kitô hữu lên tiếng trong cuộc tranh luận chính trị. Do vậy, Đảng này vẫn có một khu vực cử tri riêng biệt cho mình.

Cũng giống như các đảng Kito giáo ôn hòa ở những nơi khác, Đảng này là một lực lượng điều hòa, nghĩa là nó ủng hộ một số hình thức kinh tế thị trường xã hội, và duy trì, dù không ở mức mạnh mẽ, tầm ảnh hưởng của tôn giáo lên chính trị. Vì sự liên kết từng có trước đó với các đảng cánh hữu trong chính quyền, đôi khi Đảng này được gọi là cánh trung – hữu, nhưng tâm tính của những đại biểu quốc hội từ Đảng, cùng vài tuyên bố công khai đi ngược lại các quan chức cấp cao của KDU đã cho tháy rằng thực tế, Đảng này vẫn đứng vững ở vị trí trung tâm của các hoạt động chính trị Czech.

Cánh tả

Cánh tả trong phổ chính trị được tạo nên từ Đảng Dân chủ Xã hội Séc (CSSD) của Thủ tướng Milos Zeman và Đảng Cộng sản Bohemia và Moravia (KSCM) vốn gần như không hề được tái thiết.

Ngược lại với hầu hết các đảng tương tự trong trong khu vực, KSCM đã không loại bỏ từ cộng sản ra khỏi tên đảng và không tự coi mình là một đảng lao động hoặc dân chủ xã hội theo dòng chính châu Âu. Tuy vậy nó vẫn là một lực lượng vững chắc trên chính trường, có được sự trung thành của khoảng 1/10 khối cử tri và thậm chí có dấu hiệu nhận được nhiều sự ủng hộ hơn vào cuối thập kỷ.

Nguyên nhân cho việc này được tìm thấy ở trải nghiệm cụ thể của đất nước với chủ nghĩa cộng sản và thứ đảng cộng sản đã bị soán quyền vào năm 1989.

Sau sự kiện năm 1968, các nhân vật cải cách, lúc này đã xuất hiện hoặc ít nhất cũng đang triển khai để hiện diện ở các đảng cộng sản cầm quyền khác trong khu vực, đều đồng loạt bị trục xuất khỏi đảng cộng sản Czechoslovak.

Vài người còn sống sót đã giấu đi khuynh hướng cải cách của mình, và có lẽ ít trung thành với đảng hơn so với những người đối tác kiên trung của họ.

Những gì còn lại trong năm 1989 là những con người mang lòng trung thành không phải với đảng cộng sản, mà là với một loại đảng cộng sản cụ thể. Những nhà cải cách ở các đảng cộng sản khác trong khu vực có thể nói với nhau, và nói với những người đồng cảm với họ rằng thời thế đã đổi thay, rằng giờ đây cần phải điều chỉnh chính trị cánh tả theo hoàn cảnh mới. Đảng cộng sản Czech đầy những người mang tư cách thành viên được chứng thực qua việc phản đối cải cách. Nhiều người trong số họ nằm trong thế hệ cộng sản sau 1968, và họ thấy mình đang lâm vào tình cảnh khó khăn. Ở các nước khác, những người cộng sản có thể làm nguôi dịu lương tâm, có thể nói rằng họ bị cưỡng bách theo những yêu cầu thời đại. Điều đó không hoàn toàn thành thực, nhưng ít nhất nó cũng là một cách thức thỏa hiệp. Nhưng với những người cộng sản Czech, lối xuống thang ấy cơ bản đã bị đóng lại.

Thực tế ở đây quần chúng có một truyền thống mạnh mẽ ủng hộ chủ nghĩa cộng sản, có từ thập niên 1920. Đây là một điểm khác biệt mấu chốt khác phân biệt nó với phần còn lại của khu vực, 1% những cử tri lớn tuổi bỏ phiếu trong thập niên 1990 đã từng ủng hộ cho đảng cộng sản trong cuộc bầu cử tự do năm 1946. Một số người dễ dàng thừa nhận rằng họ đã chọn lầm. Nhưng với những người khác, ý nghĩ rằng họ có một phần trách nhiệm cho những gì đã xảy ra từ Thế chiến thứ hai là điều quá khó để chấp nhận. Ngoài ra, dĩ nhiên, mặc dù quá trình cải cách Czech tương đối ôn hòa nếu nói đến ảnh hưởng xã hội của nó, nhưng những người về hưu đã phải hứng chịu ảnh hưởng đặc biệt nặng nề của lạm phát trong những năm đầu.

Vì những lý do này, người cộng sản cố gắng duy trì một cơ sở cử tri ủng hộ vững chắc mà không có một cam kết gì đầy đủ về cải cách.

Vì KSCM đã duy trì một lập trường mơ hồ đối với quá khứ cộng sản, nên mối hợp tác cùng người anh to lớn hơn nhiều đến từ cánh tả Czech, Đảng Dân chủ Xã hội, tỏ ra có vấn đề.

CSSD chỉ nối lên thành một thế lực mạnh mẽ trong cuộc bầu cử năm 1996, năm ấy, Đảng này đã làm mọi cuộc khảo sát và hầu hết các nhà phân tích chính trị trong nước phải bối rối với việc chiếm 26% số phiếu bầu. Các cuộc thăm dò đã ghi nhận bước tiến của Đảng Dân chủ Xã hội từ nhiều tháng trước đó, nhưng đó là dựa trên đối chiếu với mức 7% họ có được ở kỳ bầu cử từ bốn năm trước.

Vì rằng chia rẽ lớn trong xã hội không phải là điểm đặc trưng của giai đoạn mở đầu và giai đoạn giữa trong quá trình cải cách ở Czech – chia rẽ lớn nhất từng có được gây ra bởi những quy định về giá cả được đưa ra năm 1991, ngay trước kỳ bầu cử năm 1992 – có lẽ cũng hợp lý khi suy đoán rằng sự trỗi dậy muộn màng của Đảng Dân chủ Xã hội là một kết quả phát sinh từ thất bại của KSCM trong nỗ lực vươn lên thành một đảng cải cách hoàn toàn của cánh tả. Các lực lượng dân chủ trong dòng chính của phe cánh tả, những người không chịu cùng chung số phận với cộng sản, đã mất thời gian mới có thể tập hợp lại với nhau. Những người cánh tả ở Ba Lan và Hungary đã nhanh hơn trong việc chuyển lòng đồng cảm thành phiếu bầu, bởi các đảng cộng sản ở đó đã tự tái thiết, hoàn thiện lại với cấu trúc tổ chức vững mạnh, đơn giản là họ có vẻ ngon ăn hơn. Đảng Dân chủ Xã hội Czech phải tự xây dựng lại từ đầu, và khác với các Đảng cộng sản có cùng cảnh ngộ, nó phải đối mặt với sự hiện diện khó chịu của một đối thủ đã thành hình, và phải gắng cạnh tranh để giành phiếu bầu.

CSSD, một đảng tích hợp đầy đủ của dân chủ cánh tả, dựa trên truyền thống dân chủ xã hội mạnh mẽ trong lịch sử nước Czech, phải xác định bản thân nó như một đối trọng với chủ nghĩa tân tự do của cánh hữu, nhưng vẫn phải giữ sự phân biệt rõ ràng với KSCM. Như một vấn đề thuộc về chính sách, đảng này đã kiêng mọi liên hệ với những người cộng sản ở cấp độ chính phủ hay chính thức, đồng thời dùng mọi khả năng để tự thể hiện nó là một sản phẩm của thời đại hậu cộng sản, cũng như đối thủ của nó ở bên cánh hữu. Nó đã đạt được thành công đáng chú ý trong việc này. Mảnh ghép cuối cùng trong câu đố chính trị đảng phái đối với đảng này được tạo nên bởi người của đảng Cộng hòa cực hữu. Đảng trên thường được gọi là cực hữu, nhưng trên thực tế, nó cải đổi định nghĩa để nằm giữa ranh giới của tiêu chuẩn cánh tả và cánh hữu.

Đảng Cộng hòa là một ví dụ cho những lực lượng nhỏ bé những bền bỉ trong xã hội Czech, những lực lượng chống đối lại sự phát triển của nền dân chủ tự do, họ tìm cách thúc đẩy những khuynh hướng và quan điểm gây khó dễ cho sự xác lập thành công của nền dân chủ tự do.

Đảng này thù địch với dân Gipsy, dân Đức và các ảnh hưởng từ bên ngoài nói chung, Đảng Cộng hòa tranh thủ được sự ủng hộ của công chúng vì những tình cảm (bài ngoại) nói trên, và những hành vi phi đảng phái của người lãnh đạo Miroslav Sladek, chứ không phải vì những sáng kiến chính sách đáng kể để thu hút sự ủng hộ của nhân dân.

Cùng tình cảnh với những người cộng sản, không có đảng phái chủ lưu nào chính thức hợp tác cùng Đảng Cộng hòa, và hậu quả tài tình nhất, dẫu cho ngắn ngủi, của cuộc khủng hoảng chính trị đang diễn ra trên đất nước này là Đảng Cộng hòa đã không vượt qua được ngưỡng 5% cần thiết để có Đại biểu Quốc hội trong kỳ bầu cử năm 1998.

Từ khảo sát trên đây, chúng ta có thể thấy được sự liên kết giữa các lực lượng đảng phái chính trị ở Czech đã tiến lên tới một mức độ cốt yếu trong giới hạn được xác định bởi cuộc chuyển đổi từ chủ nghĩa cộng sản như thế nào.

Cũng cần phải biết rõ tại sao sự thống nhất lại đem tới nhiều rắc rối, và mối liên hệ trong liên minh ba đảng trung – hữu vốn nắm quyền trong giai đoạn trọng yếu sau độc lập là mong manh tới nhường nào.

Trong bối cảnh này, câu chuyện về những sự kiện từ nhiệm kỳ thủ tướng của Klaus và kết thúc bằng giao kèo sẻ chia quyền lực CSSD – ODS mới bắt đầu có ý nghĩa hơn.

 

Trích từ chương 4 – Politics After Communism, sách Czechoslovakia: The Velvet Revolution and Beyond của Robin H. E. Shepherd

Minh Hùng dịch