Tiêu chuẩn của các cuộc Cách mạng màu như các hiện tượng chính trị mô-đun ở các nước hậu cộng sản.

Sau khi Liên Xô tan rã, các nước hậu cộng sản ở Đông Âu và Trung Á đã có thể giành được độc lập. Tuy nhiên, hệ thống cũ của Liên Xô vẫn gây ảnh hưởng đến sự phát triển chính trị của các quốc gia này. Hầu hết các nước ấy đã không thực hiện hoàn toàn quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ mà thay vào đó là sự xuất hiện của “chế độ hỗn hợp” vốn nghiêng về chế độ chuyên chế. Gọi các quốc gia ấy bằng “chế độ hỗn hợp” là bởi các thể chế chính trị của họ không phải hình thức dân chủ phương Tây. Mặc dù có quốc hội và các đảng đối lập trong các chế độ này, các thể chế của chế độ hậu Xô Viết được lồng thêm vào thứ được gọi là “chủ nghĩa tổng thống bảo trợ” (patronal presidentialism), theo Henry E.Hale. Hale cho rằng định nghĩa về “chủ nghĩa tổng thống bảo trợ” có thể được xác định bởi hai thành phần chính. Thứ nhất, chức vị tổng thống bầu lên trực tiếp được trao nhiều quyền lực chính thức hơn các cơ quan nhà nước khác. Thứ hai, tổng thống cũng nắm giữ một mức độ quyền lực phi chính thức cao dựa trên các mối quan hệ bảo trợ – khách hàng rộng rãi tại giao điểm của nhà nước và nền kinh tế. Trong trường hợp này, để chính xác hơn, chúng ta có thể định nghĩa thêm thuật ngữ ‘bảo trợ’ là việc thực thi quyền lực chính trị chủ yếu thông qua chuyển giao tài nguyên có chọn lọc thay vì thông qua các việc thực thi của thể chế chính thức, hay nền chính trị dựa trên ý tưởng hoặc quy tắc pháp luật mới lập. [1] Nói tóm lại, việc cấy ghép dân chủ vào các chế độ hậu Xô Viết không thành công vì tổng thống nắm giữ quá nhiều quyền lực trong hoặc ngoài thể chế chính trị.

Tuy nhiên, những biến động chính trị khác nhau xảy ra sau khi có các cáo buộc liên quan tới gian lận trong các cuộc bầu cử từ năm 2000 dường như cho thấy một bước đột phá của dân chủ. Các học giả đã chứng kiến “cuộc cách mạng xe ủi” ở Serbia vào năm 2000, cuộc “cách mạng hoa hồng” ở George năm 2003, cuộc “cách mạng cam” ở Ukraine vào tháng 11 năm 2004, và rồi đến cuộc cách mạng hoa tulip ở Kyrgyzstan vào đầu năm 2005. Ngoài 4 cuộc cách mạng trên, những biến động chính trị cũng tác động đến các quốc gia hậu Xô-viết qua các phong trào và phản ứng có liên quan đến việc chống đối chế độ. Dù chỉ riêng Cách mạng cam là thực sự gắn với một màu sắc biểu tượng, cụm từ “Cách mạng màu” vẫn trở thành thuật ngữ phổ biến được các chuyên gia khu vực và các chính trị gia địa phương dùng để chỉ 4 cuộc cách mạng này. Từ “cách mạng” được dùng trong thuật ngữ này không bao gồm những hậu quả đến sau biến động chính trị, mà chỉ để xác định rằng những phản ứng và phong trào chống đối chế độ đã thành công trong việc hạ bệ chế độ hiện hành. Nhưng cũng cần lưu ý rằng các cuộc cách mạng này mang tính mô-đun trong tự nhiên. Cụm từ “tính mô-đun” trong bài viết này được dùng theo định nghĩa của Tarrow, mô tả sự lan rộng của một hành động tập thể giữa các nhóm. [2] Các thế hệ sử gia cũ coi các cuộc cách mạng là những hiện tượng có liên hệ chặt chẽ chứ không phải là một tập hợp các sự vụ riêng lẻ. [3] Do đó, cách các học giả dùng cụm từ “cách mạng màu” cho ta biết rằng họ đã cố gắng giải thích các cuộc cách mạng xảy ra ở các nước châu Âu hậu Xô-viết như là các hiện tượng chính trị lan rộng khắp các quốc gia và các khu vực. Điều đó là bởi từ thập niên 1980 đã có một sự thừa nhận chung rằng dân chủ hóa sẽ xảy đến như những làn sóng tác động đến một khu vực thế giới cụ thể, các học giả như Samuel Huntington đã chứng minh được tác động của trường hợp trước tới trường hợp sau, do đó, qua việc coi các cuộc lật đổ chính trị này là những đột phá của nền dân chủ, các học giả bắt đầu suy nghĩ về một làn sóng dân chủ hóa thứ tư.

Tiếp theo thành công của một số cuộc cách mạng màu, thuật ngữ phổ biến ấy đặc biệt được dùng để tạo mối tương đồng giữa các sự vụ. Tổng thống Mỹ George W.Bush đã cố cấy ghép mô hình cách mạng màu ở các nước hậu Xô-viết để nhằm biến đổi Iraq, cụ thể ông đã sử dụng khái niệm “Cách mạng tía” để mô tả nền dân chủ đang đến với Iraq sau cuộc bầu cử quốc hội của Iraq năm 2005, các nhà bình luận khẳng định rằng ông chủ động dùng thuật ngữ này để tạo mối liên hệ tương đồng với Cách mạng Cam và Cách mạng Hoa hồng. Do đó, mục đích của bài viết này là nhằm nghiên cứu các hiện tượng chính trị mang tính mô-đun: các lực lượng chống đối chế độ đã tác động đến sự ổn định chính trị của các nhà nước hậu Xô-viết, đặc biệt là ở Trung Á. Vùng Trung Á được nói tới trong bài viết bao gồm năm nước Cộng hòa Xô-viết cũ: Turkmenistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan và Uzbekistan. Ta thấy rằng tất cả các nước này, ngoại trừ Turkmenistan đều tổ chức bầu cử cùng thời điểm với Kyrgyzstan (tất cả cùng vào năm 2005); tuy nhiên chỉ có duy nhất một cuộc cách mạng hoa Tulip ở Kyrgyzstan. Qua việc lấy Cách mạng Cam, Cách mạng Hoa hồng và Cách mạng Hoa Tulip làm ví dụ, phần đầu của bài viết này sẽ cố gắng khám phá và giải thích bốn tiêu chí cần thiết để một cuộc cách mạng màu có thể xảy ra. Phần thứ hai của bài viết sẽ mang tới một bản mô tả ngắn gọn về những gì đã xảy ra với các quốc gia Trung Á khác, bao gồm cả Kyrgyzstan, trong năm 2005, dùng 4 tiêu chí trên như một công cụ đo, bài viết này cũng sẽ so sánh tình thế các nước ấy với tình thế ở Kyrgyzstan. Hy vọng rằng bài viết có thể cung cấp một giải thích hợp lý về nguyên nhân tại sao cuộc cách mạng màu lại không xảy ra ở các quốc gia khác, và mang đến các tiêu chuẩn của các cuộc cách mạng màu như các hiện tượng chính trị mang tính mô-đun.

Các chế độ này đều có kinh nghiệm lịch sử tương tự nhau, bởi chúng cùng nằm trong một khu vực dễ xảy ra chiến tranh hoặc xâm phạm. Sự thống trị của Liên bang Xô-viết trên các chế độ này đã dẫn tới tình trạng di cư nhanh chóng giữa các vùng từ Liên bang Nga sang các thành viên Xô-viết. Kết hợp các yếu tố này tạo nên sự đa dạng sắc tộc cho các chế độ hậu Xô-viết, đặc biệt là ở vùng Trung Á. Ví dụ, ở Kazakhstan, ngoài người Kazakhs, còn có nhiều chủng tộc khác như người Nga, người Ukraine, người Uzbek, người Đức, người Tatar. Hơn nữa, các chủng tộc khác còn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu dân số Kazakhstan. Ngoài ra, bởi thất bại của nền kinh tế kế hoạch và các yếu tố địa lý, sự phát triển kinh tế của các khu vực hậu Xô-viết hầu hết trì trệ và kém phát triển. Tình trạng ở các khu vực đó còn nghiêm trọng hơn nữa khi nạn tham nhũng chính trị len lỏi vào trong hàng ngũ quan chức chính phủ. Chẳng hạn, một cựu lãnh đạo đảng đã tan vỡ niềm tin là Erkin Kyrgyzstan đã ước tính rằng có khoảng hai phần ba người trong quốc hội mới bầu là những quan chức và doanh nhân tham nhũng. [4] Hơn nữa, nhiều chế độ hậu Xô-viết chỉ được nếm trải sự tự do hóa một phần trong các quy định và điều kiện bầu cử, thậm chí một số ít, giống như Turkmenistan, không hề được trải nghiệm chút nào. Áp lực đòi dân chủ hóa của nhân dân ở Uzbekistan và Kazakhtan là tương đối yếu dù giới tinh hoa lập ra đã cố gắng tạo sức ảnh hưởng lớn tới các cuộc bầu cử giả cách giàu tính cạnh tranh. [5] Tính chất liên kết giữa các trường hợp cách mạng này, vốn tạo ra bởi các điểm chung trong đặc trưng thể chế, lịch sử, tương đồng văn hóa và phương thức thống trị đã biến cách mạng màu thành các hiện tượng mô-đun khả dĩ. Tuy nhiên, mặc dù những chế độ hậu Xô-viết này hầu hết phải đối mặt với những vấn đề tương tự nhau, từ việc nghiên cứu các trường hợp Cách mạng màu, chúng ta vẫn có thể rút ra được các biến số quy định xem liệu cách mạng màu có xảy ra được hay không.

Từ các trường hợp cách mạng màu, ta rút ra được rằng, để cuộc cách mạng màu có thể diễn ra hoặc đi đến thành công, có bốn điều kiện phải được thỏa mãn. Thứ nhất, lãnh đạo đương nhiệm của chế độ phải nhận được rất ít sự ủng hộ từ dân chúng, và phải đối mặt với thứ gọi là “hội chứng vịt què”. Thứ hai, các lực lượng chống đối chế độ được tương trợ bởi phương tiện truyền thông đại chúng và sức ảnh hưởng từ nước ngoài. Thứ ba, cách mạng không phải là cuộc đối đầu ý thức hệ, mà phải là cuộc đối đầu vì hội nhập, tự do, dân chủ và sự phát triển kinh tế của đất nước. Quan trọng nhất, nhu cầu cần có một sự cải thiện như vậy phải thực sự mạnh mẽ trong đông đảo quần chúng. Cuối cùng, các lực lượng chống chế độ cũng cần được thúc đẩy bởi sự bất bình với chính phủ tham nhũng cầm quyền vốn được chống lưng bởi một chính quyền nước ngoài mà người dân không hề mong muốn. Các lực lượng chống chế độ xuất hiện ở các nước hậu Xô-viết chỉ có thể được chuyển hóa thành một cuộc cách mạng màu thành công nếu những điều kiện trên đây được thỏa mãn đầy đủ.

Như đã đề cập ở trên, điều kiện đầu tiên để xảy ra cách mạng màu là lãnh đạo đương nhiệm của chế độ phải rất mất lòng dân, và phải đối mặt với cái gọi là “hội chứng vịt què”. Theo Hale, Hội chứng vịt què là thuật ngữ nói đến việc giới tinh hoa bỏ đảng, liên quan đến kỳ vọng của họ về tương lai. Giới tinh hoa sẽ rời bỏ đội ngũ của tổng thống đương nhiệm khi họ tin rằng đội ngũ đương chức có thể sẽ rời nhiệm sở. Các yếu tố chính dẫn đến “hội chứng vịt què” bao gồm các giới hạn nhiệm kỳ tổng thống và công luận. [6] Trong đoạn đầu, tôi đã đề cập rằng các thể chế chính trị trong chế độ hậu Xô-viết đặc trưng bởi “chủ nghĩa tổng thống bảo trợ”, nghĩa là tổng thống nắm giữ quyền lực rất lớn. Vậy nên thật hợp lý khi nghĩ rằng, để một cuộc cách mạng màu nổ ra được trong chế độ đó, giới tinh hoa phải tin rằng đội ngũ đương nhiệm sẽ nhanh chóng mất đi quyền lực, họ không còn muốn những người đương nhiệm được nắm quyền lực nữa, và nhờ đó họ có đủ can đảm để rời bỏ. Trong trường hợp Ukraine, trước Cách mạng Cam, Tổng thống đương nhiệm Kuchma liên tục khẳng định rằng ông sẽ không tìm cách tái cử, và sự thực ông cũng không chạy đua cho cuộc bầu cử tổng thống năm 2005. Ngoài ra, khi Kuchma vào nhiệm kỳ hai, nhiệm kỳ cuối cùng của ông theo hiến pháp, các đối thủ của ông được thúc đẩy thêm bởi vì uy danh của Kuchma với công chúng sẽ sụt giảm ngay sau đó. Tất cả những điều này cho thấy rằng tình huống “hội chứng vịt què” sẽ xuất hiện khi người đương nhiệm mất lòng dân. Logic tương tự cũng xảy ra ở Georgia và Kyrgyzstan. Ở Georgia, một trong những lý do khiến lãnh đạo phe đối lập Mikheil Saakashvili giành chiến thắng trong Cách mạng Hoa hồng là bởi Tổng thống đương nhiệm không được lòng dân Eduard Shevardnadze đã phát biểu vào tháng 4 năm 2002 rằng ông sẽ tuân thủ giới hạn hai nhiệm kỳ đã được quy định trong hiến pháp, và sẽ rời nhiệm sở năm 2005. [7] Sự khởi phát của hội chứng vịt què đã khiến nhiều người tinh hoa từng ủng hộ Shevardnadze trước đây giờ quay sang ủng hộ Saakashvili. Cách mạng hoa Tulip cũng theo một mẫu hình tương tự. Tổng thống đương nhiệm Askar Akaev tuyên bố rằng ông không hề nỗ lực sửa đổi hiến pháp để có thể nắm quyền thêm nhiệm kỳ ba trong cuộc bầu cử tổng thống dự kiến diễn ra vào tháng 10 năm 2000. Điều đó khiến nhiều người trong giới tinh hoa ở Kyrgyzstan quay sang phe đối lập, trong số đó có cả những cảnh sát, những người phụ trách truyền thông đại chúng và cả những thành viên của Tòa án Tối cao. [8] Cũng cần lưu ý rằng Akaev không được lòng dân nước mình bởi sự chuyên quyền và nạn tham nhũng sẵn có từ chính quyền của ông.

Tiêu chí thứ hai: các lực lượng chống chế độ được tiếp sức bởi phương tiện truyền thông đại chúng và sức ảnh hưởng từ nước ngoài. Đoạn này và đoạn sau sẽ chủ yếu tập trung vào Cách mạng Cam, dù vẫn có vài ví dụ từ Cách mạng Hoa hồng, để lý giải xem các ảnh hưởng từ nước ngoài, ví dụ như các Tổ chức phi chính phủ (NGO), các đại sứ ngoại giao, hay phương tiện truyền thông đóng vai trò quan trọng như thế nào trong việc định hình nên thành công của cuộc cách mạng màu. Bắt đầu với Cách mạng Cam, ta thấy rằng xã hội dân sự đã phát triển mạnh mẽ trong xã hội Ukraine và cả Kyrgyzstan. Điều đó mang đến một cơ hội tốt để nhận hỗ trợ từ các chính quyền Hoa Kỳ và châu Âu, Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ, và cả những cá nhân hảo tâm như George Soros.

Thực tế, phong trào chống đối chế độ ở Ukraine được chính phủ Hoa Kỳ tài trợ và tổ chức, theo The Guardian. Họ khẳng định rằng Viện Dân chủ Quốc gia (NDI) của Đảng Dân chủ, Viện Cộng hòa Quốc tế của Đảng Cộng hòa, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cùng Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) là những cơ quan chính tham gia vào các chiến dịch từ cơ sở được tổ chức bởi các nhà hoạt động trẻ ở Ukraine cũng như NGO Ngôi nhà Tự do (Freedom House) và viện xã hội mở của tỷ phú George Soros. [10] Chính phủ Hoa Kỳ đã chính thức chi ra 14 triệu đô để tổ chức và tài trợ cho hoạt động của các phong trào chống đối chế độ. [11] Thêm vào đó, Ngôi nhà Tự do và NDI của Đảng Dân chủ cũng giúp tài trợ và tổ chức “nỗ lực lớn nhất trong việc giám sát khu vực dân sự” ở Ukraine bằng việc gửi 1000 quan sát viên đã được huấn luyện đến đó, và tổ chức các cuộc thăm dò ý kiến. Làm các cuộc thăm dò ý kiến là rất quan trọng bởi việc đó giúp họ nắm quyền chủ động trong trận chiến tuyên truyền với chế độ và áp đặt trách nhiệm đáp trả lên chính quyền. Trong khi đó, ở Georgia, đại sứ Hoa Kỳ giữ vai trò quan trọng trong suốt cuộc Cách mạng Hoa hồng như một người huấn luyện Mikheil Saakashvili, giúp ông hạ bệ Eduard Shevardnadze. Bên cạnh những ảnh hưởng từ nước ngoài, phương tiện truyền thông đại chúng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp tục kích thích các lực lượng chống chế độ. Trong suốt cuộc Cách mạng Cam, dù chính quyền đã gần như hoàn toàn kiểm soát các nội dung chính trị trên truyền hình quốc gia và gây thêm áp lực tới truyền thông độc lập, nhưng vài tờ báo khách quan và các đài phát thanh địa phương vẫn tiếp tục hoạt động. Hơn nữa, các nhà báo cũng phẫn nộ với sự kiểm soát và kiểm duyệt của chính quyền, nên đã phát động các cuộc đình công và các cuộc phản đối công khai đòi quyền được mang sự thật đến cho cử tri trong những ngày trước Cách mạng Cam. [12]

Điều kiện thứ ba sẽ được bàn đến trong đoạn này. Đó là cách mạng không phải là cuộc đối đầu ý thức hệ, mà phải là cuộc đối đầu giành lấy hội nhập, tự do, dân chủ và sự phát triển kinh tế của đất nước, và nhu cầu cho những điều trên phải thực sự mạnh mẽ. Nhìn vào cuộc Cách mạng Hoa hồng, tổng thống đương nhiệm Eduard Shevardnadze và chính phủ của ông nổi tiếng tham nhũng. Cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế – xã hội ở Georgia cũng gần như đã đạt đến đáy sâu trước cuộc bầu cử. Mẫu hình tương tự cũng xảy ra ở Cách mạng Cam khi cuộc bầu cử tổng thống tổ chức vào tháng 11 đã bị OSCE cáo buộc là ngập đầy nạn hối lộ và gian lận. Hơn nữa, nạn tham nhũng cũng trở nên bùng nổ ở Ukraine sau cuộc bầu cử tổng thống của Kuchma năm 1994. Việc đề cử Yushchenko mang đến một cơ hội cải thiện, bởi ông có năng lực mạnh mẽ trong việc thúc đẩy nền kinh tế đất nước. Ví dụ, ông từng thành công trong việc giúp nền kinh tế quốc gia tăng trưởng gần 6% vào năm 2000, năm đầu ông làm Thủ tướng. Năm 2001, tỉ lệ tăng trưởng hàng năm của đất nước này còn tăng lên tới 9,2%. [13] Như vậy, sau khi ngồi ghế Thủ tướng, Viktor Yanukovych đã bị cáo buộc gian lận bầu cử, trên khắp cả nước dậy lên các cuộc biểu tình cùng bất tuân dân sự. Trong khoảng giữa thập niên 1990, Kyrgyzstan là nước cộng hòa nghèo nhất ở Trung Á, vậy nên thật hợp lý khi cho rằng nhân dân sẽ đòi hỏi cải thiện hệ thống chính trị và nền kinh tế. Thêm vào đó, hệ thống giáo dục ở Kyrgyzstan đã hình thành nên đội ngũ sinh viên chưa tốt nghiệp rất đông đảo: 200 000 sinh viên, trong khi tổng dân số là 5 triệu người. Rất nhiều trong số họ sẽ không tìm được việc làm do nền kinh tế tệ hại của đất nước. Vì thế, ta thấy có một tỷ lệ cao sinh viên tham gia vào Cách mạng hoa Tulip.

Điều kiện cuối cùng được đề cập trong bài viết này: các lực lượng chống chế độ cũng cần được thúc đẩy bởi sự bất bình với chính phủ tham nhũng cầm quyền vốn được chống lưng bởi một chính quyền nước ngoài mà người dân không hề mong muốn. Trong trường hợp này, chính quyền nước ngoài mà người dân không hề mong muốn chính là Liên Bang Nga. Từ ba cuộc cách mạng màu, ta có thể thấy rằng các nhà lãnh đạo bị hạ bệ như Eduard Shevardnadze, Yanukovych và Akaev đều là những lãnh đạo được Nga ủng hộ. Một lời giải thích khả dĩ cho việc tại sao nhân dân lại không cần các nhà lãnh đạo được Nga ủng hộ, đặc biệt ở ở các chế độ hậu Xô-viết ở Đông Âu, là bởi vấn đề giữa Đông và Tây ở châu Âu. Người Đông Âu bắt đầu thích các lãnh đạo vay mượn từ phương Tây bởi họ sợ rằng lãnh đạo đương nhiệm của họ sẽ đưa đất nước đi theo con đường ly khai vĩnh viễn khỏi “châu Âu” nói chung, và các thể chế châu Âu chẳng hạn như EU. Trong suốt cuộc Cách mạng Hoa hồng, Saakashvili mô tả cuộc cách mạng này như một phiên bản châu Âu của Cách mạng Nhung, trong khi ở Ukraine, Yushchenko đã nói trong diễn văn nhậm chức rằng ông sẽ lãnh đạo đất nước “đi vào dòng chủ lưu châu Âu”. [14] Việc các lãnh đạo đối lập sử dụng ngôn từ như vậy trong các ví dụ cách mạng màu trên đât cho thấy rằng đối với người đông Âu, họ là những người thân phương Tây thay vì thân Nga. Ngoài ra, trước cuộc bầu cử nhân dân ở Ukraine, một cố vấn chính trị người Nga là Vyacheslav Nikonov đã nhận xét rằng nếu Yushchenko thắng cử tổng thống, điều đó đồng nghĩa với việc Ukraine sẽ trở thành một thành viên NATO trong vài năm tới. Nhưng nếu quyền lãnh đạo thuộc về Yanukovych, Ukraine sẽ trở thành một phần trong không gian kinh tế chung được tạo ra bởi Nga, Belarus và Kazakhstan. [15] Ngoài khuôn khổ Đông Tây, nhân dân vẫn muốn bứt mình ra khỏi tầm ảnh hưởng của nước Nga bởi người Nga đã tham gia quá sâu vào nền chính trị quốc nội của họ. Ảnh hưởng của Nga ở Georgia đã dẫn đến chủ nghĩa ly khai ở nước này. Ba chế độ riêng biệt (Abkhazia, Nam Ossetia và Ajara) song song tồn tại cùng quốc gia này ở thời điểm trước cuộc Cách mạng màu là minh chứng cho điều đó. [16]

Nhìn vào dòng thời gian và cách thức mỗi cuộc Cách mạng màu nổ ra, ta có thể thấy rằng cách mạng màu có thể là các hiện tượng mang tính mô-đun bởi trường hợp thành công gần nhất thì thường được mô phỏng lại. Hơn nữa, làn song Cách mạng màu thậm chí đã tác động đến thể chế chính trị của nhiều quốc gia Trung Á. Tuy nhiên, mặc dù cách mạng màu có ảnh hưởng về mặt chính trị tới Trung Á, các học giả vẫn tự hỏi tại sao cách mạng màu chỉ xảy ra và thành công ở Kyrgyzstan mà không phải bất kỳ quốc gia Trung Á nào khác. Từ kết quả của cuộc bầu cử ở Kazakhstan (Kazakhstan là quốc gia cuối cùng tổ chức bầu cử tổng thống vào năm 2005), ta có thể thấy rằng hiệu ứng tạo ra giảm dần theo thời gian. Do đó, phần này chủ yếu sẽ mô tả cách thức làn sóng Cách mạng màu tác động tới các quốc gia Trung Á trong năm 2005 và truy vấn xem tại sao cách mạng màu không xảy ra ở các quốc gia đó.

Để bắt đầu, trước hết hãy bàn đến tình thế ở Uzbekistan. Ở Uzbekistan, vài tháng sau cuộc Cách mạng hoa Tulip, cuộc khủng hoảng Andijan (cũng được gọi là cuộc thảm sát Andijan) xảy ra vào tháng 5/2005. Chuỗi sự kiện này bắt đầu bằng những cuộc bạo loạn hung tợn của dân chúng địa phương ở Andijan khi 23 doanh nhân địa phương bị bắt giữ với cáo buộc theo “chủ nghĩa cực đoan, trào lưu chính thống và chủ nghĩa ly khai”. Sau đó, người biểu tình đã tấn công một nhà tù và giải phóng tất cả mọi tù nhân. Vào ngày 13/5 chính quyền Uzbek đã dùng bạo lực đàn áp hàng ngàn người biểu tình, làm hàng trăm người chết và số người bị thương còn nhiều hơn. Vụ việc đã khiến ít nhất 500 người bỏ Uzbekistan trốn sang nước láng giềng Kyrgyzstan. Tuy vậy, sự cố này không mang đến hệ quả chính trị xa hơn cho Uzbekistan. Một trong những lý do là bởi chính quyền Uzbeks vẫn có thế ngăn cấm sức ảnh hưởng từ nước ngoài. Sau khi các tổ chức phi chính phủ chỉ trích cuộc đàn áp bạo lưc của chính phủ, các tổ chức phi chinh phủ dựa trên thế giới phương Tây đã phải ngừng hoạt động ở Uzbekistan. Tổ chức Winrock International mang kiến thức chuyên môn tới cho nông dân Uzbeks đã bị yêu cầu rời khỏi Uzbekistan bởi tòa án Uzbeks bởi họ đã “phỉ bang các giá trị quốc gia”. Các quỹ và các tổ chức như Quỹ Eurasia, Đài phát thanh Châu Âu tự do và tổ chức Ngôi nhà Tự do cũng đã bị cưỡng ép hoặc gây áp lực phải rời khỏi đất nước này. [17] Do đó, sự cố này không phát triển thành một quốc cách mạng màu khác ở Trung Á, bởi điều kiện thứ hai để xảy ra cách mạng màu đã không được thỏa mãn, lực lượng chống chế độ đã không được tiếp tay bởi phương tiện truyền thông đại chúng và những ảnh hưởng từ nước ngoài. Như chúng ta có thể thấy, chính phủ đã ngay lập tức cắt đứt ảnh hưởng của xã hội dân sự nước ngoài sau sự cố Andijan. Do đó, phương tiện truyền thông đại chúng và các ảnh hưởng từ nước ngoài đã không thể chuyển đến nơi của các lực lượng chống chế độ.

Quốc gia tiếp theo cầ bàn đến là Tajikistan, nước cũng có một cuộc bầu cử quốc hội như Kyrgyzstan vào giai đoạn 27/2 tới 13/3/2005. Do tác động từ cách mạng màu, trước cuộc bầu cử, lãnh đạo đảng đối lập đã khẳng định hy vọng được thấy đơn tự nguyện từ chức từ phía tổng thống đương nhiệm của Tajikistan là Rahmonov, trường hợp chuyện ấy không xảy ra, họ sẽ lên kế hoạch cho môt cuộc “cách mạng violet” vào mùa xuân. [18] Nhưng khi kết quả bầu cử được công bố, Đảng Dân chủ Nhân dân Tajikistan, đứng đầu là tổng thống Emomali Rahmonov đã giành được đa số ghế trong Quốc hội. Trong trường hợp này, nguyên nhân khiến cho Cách mạng màu không thể xảy ra ở Tajikistan là bởi điều kiện thứ ba được nói tới ở trên: không có nhu cầu lớn cho hội nhập, tự do, dân chủ và sự phát triển kinh tế của đất nước. Quốc gia này đã phải chịu một cuộc nội chiến khốc liệt kéo dài từ năm 1992 đến năm 1997. Từ khi chiến tranh kết thúc, sự ổn định chính trị mới có cùng với viện trợ từ nước ngoài đã tạo điều kiện cho nền kinh tế nước này phát triển. Sau chiến tranh, nhân dân mang tâm lý sợ thay đổi, và tình hình hiện tại không cần thiêt phải có thay đổi. Vậy nên, không có phản kháng lớn nào, cùng với việc nhu cầu cải thiện ít ỏi là những nguyên nhân chính khiến Cách mạng màu không xảy ra ở Tajikistan. Mặt khác, vì nguyên nhân cấu trúc chính trị của Turkmenistan, Cách mạng màu đã không thể mang lại bất kỳ tác động nào tới quốc gia này. Cấu trúc chính trị ấy là một đất nước độc đảng với người lãnh đạo mạnh, Saparmurat Niyazov là Tổng thống suốt đời ở Turkmenistan. Không có hội chứng vịt què ở quốc gia này, và Niyazov được kỳ vọng sẽ cầm quyền đến tận khi ông mất. Ngoài ra, nhân quyền và xã hội dân sự bị hạn chế nghiêm ngặt ở nước này. Đối lập chính trị là không được phép, chính quyền có các mức độ đối xử với các tôn giáo từ giới hạn chặt chẽ cho đến cấm đoán hoàn toàn, và không hề có tự do báo chí. Tình cảnh ở Turkmenistan không thỏa mãn điều kiện thứ nhất và thứ hai phía trên, nên cách mạng màu đã không xảy ra ở Turkmenistan.

Kazakhstan là nước Trung Á cuối cùng tổ chức bầu cử vào năm 2005. Các học giả quốc tế suy đoán xem liệu đây có phải quốc gia tiếp theo xảy ra Cách mạng màu khi nó nằm liền kề Kyrgyzstan. Tuy nhiên, Tổng thống Nazarbaev đã thắng cử. Có ba nguyên nhân khiến cho Cách mạng màu không xảy ra ở Kazakhstan. Thứ nhất, yếu tố kinh tế xã hội luôn giữ trạng thái ổn định. Nền kinh tế nước này luôn phát triển kể từ khi Nazarbaev lên nắm quyền. Từ năm 2000, tăng trưởng GDP nước này liên tục ở mức cao hơn 9% và hiện được Ngân hàng Thế giới xếp vào hạng các nước có thu nhập ở mức trung bình cao. [19] Người dân không có nhu cầu cải thiện các thể chế chính trị và tài chính hiện hành. Thứ hai, hội chứng vịt què không xảy ra ở Kazakhstan bởi Nazarbaev không tuyên bố từ bỏ sự nghiệp chính trị. Ông có đông đảo người ủng hộ và nhân dân vẫn muốn ông tiếp tục lãnh đao đất nước. Cuối cùng, Nazarbaev đã thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn các ảnh hưởng từ xã hội dân sự nước ngoài và phương tiện truyền thông đại chúng. Vào ngày 14/7/2005, Nazarbaev đã kỳ vào một bản sửa đổi luật pháp yêu cầu người nước ngoài phải chịu trách nhiệm cho việc quyên góp hay giúp đỡ một ứng cử viên chính trị cụ thể. Một khi nhận thấy họ có dính líu đến các hoạt động như vậy, họ sẽ bị trừng phạt về tài chính và bị trục xuất khỏi đất nước. Ngoài ra, người nước ngoài không được phép làm việc cho các tờ báo hay các kênh truyền hình Kazakhstan.

Tóm lại, cách mạng màu chỉ có thể trở thành các hiện tượng mang tính mô đun nếu cả bốn điều kiện nêu trên đều được thỏa mãn, bởi cả ba cuộc cách mạng màu trên, như ta thấy, đều có chung những đặc trưng là 4 tiêu chí này. Từ các trường hợp của mọi quốc gia Trung Á ngoài Kyrgyzstan, ta thấy rằng, tuy đã có những lực lượng chống đối chế độ, nhưng cách mạng màu vẫn không thể xảy ra nếu bốn điều kiện trên không được thỏa mãn. Măc dù có thể còn nhiều biến số khác quyết định sự xuất hiện của Cách mạng màu, 4 tiêu chí trên vẫn là những điều kiện cơ bản để cách mạng màu có thể diễn ra.

Bài gốc: https://www.e-ir.info/2009/07/31/explaining-the-color-revolutions/

Written by: Poh Phaik Thien
Written at: The Chinese University of Hong Kong
Written for: Dr Chang Chak-Yan
Date written: 2008

Dịch: Minh Hùng

Tài liệu tham khảo

1. Ukraine’s Orange Revolution, by Karatnycky Adrian, published in Foreign Affairs; Mar/Apr2005, Vol, 84 Issue 2, pg. 35-52

2. “US Campaign behind the Turmoil in Kiev”, by Ian Traynor, The Guardian, Friday November 26 2004, available at https://www.guardian.co.uk/world/2004/nov/26/ukraine.usa/

3. Regime Cycles: Democracy, Autocracy and Revolution in Post-Soviet Eurasia, by Henry E.Hale, published in World Politics 58 (October 2005), pg. 133-65

4. Conflict, cleavage and change in Central Asia and the Caucasus, edited by Karen Dawisha and Bruce Parrott, published by Cambridge University Press, 1997

5. Structure and Example in Modular Political Phenomena: The Diffusion of Bulldozer/Rose/Orange/Tulip Revolutions, by Mark R.Bessinger, published in Perspectives on Politics, June 2007

6. Preempting Democracy: The Case of Belarus, by Vitali Silitski, published in the Journal of Democracy, Volume 18, and Number 4 October 2005, pg. 83-96

7. The Tulip Revolution, Kyrgyzstan One Year After, by Erica Marat, published by The Jamestown Foundation 2006

8. Enough! Electoral Fraud, Collective Action Problems, and Post-Communist Colored Revolutions, by Joshua A. Tucker, published in the Perspectives on Politics, September 2007, Vol. 5 and No. 3, pg 535-551

9. Huntington, Samuel. 1991. The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century.Norman, OK: Oklahoma University Press

10. https://en.wikipedia.org/wiki/Color_revolution

11. https://en.wikipedia.org/wiki/Revolutionary_wave

12. https://tajikistan.neweurasia.net/?p=165

13. https://en.wikipedia.org/wiki/May_2005_unrest_in_Uzbekistan

14. 十字路口:中亚走向何方, 主编: 朱成虎,时事出版社,2007

15. https://en.wikipedia.org/wiki/Rose_Revolution


Chú thích

[1] Pg.137, from Regime Cycles: Democracy, Autocracy and Revolution in Post-Soviet Eurasia, by Henry E.Hale, published in World Politics 58 (October 2005), pg.133-65

[2] Taken from Structure and Example in Modular Political Phenomena: The Diffusion of Bulldozer/Rose/Orange/Tulip Revolutions, by Mark R.Bessinger, published in Perspectives on Politics, June 2007, also refers to Tarrow 1998, 2005

3 Taken from Structure and Example in Modular Political Phenomena: The Diffusion of Bulldozer/Rose/Orange/Tulip Revolutions, by Mark R.Bessinger, published in Perspectives on Politics, June 2007, also refers to Palmer 1959; Hobsbawn 1962 and Rude 1966

[4] Pg. 265, Kyrgyzstan: the fate of political liberalization, by Eugene Huskey, Conflict, cleavage and change in Central Asia and the Caucasus, edited by Karen Dawisha and Bruce Parrott, published by Cambridge University Press, 1997

[5]Pg.15, Perspectives on postcommunist democratization, by Bruce Parrott, Conflict, cleavage, and change in Central Asia and the Caucasus, edited by Karen Dawisha and Bruce Parrott, published by Cambridge University Press, 1997

[6] Pg. 135, taken from Regime Cycles: Democracy, Autocracy and Revolution in Post-Soviet Eurasia, by Henry E.Hale, published in World Politics 58 (October 2005), 133-65

[7] pg.156, from Regime Cycles: Democracy, Autocracy and Revolution in Post-Soviet Eurasia, by Henry E.Hale, published in World Politics 58 (October 2005), pg. 133-65

[8] Pg. 157, from Regime Cycles: Democracy, Autocracy and Revolution in Post-Soviet Eurasia, by Henry E.Hale, published in World Politics 58 (October 2005), pg. 133-65

[9] Refer to Kyrgyzstan: the fate of political liberalization, from Conflict, cleavage and change in Central Asia and the Caucasus, edited by Karen Dawisha and Bruce Parrott, published by Cambridge University Press, 1997

[10] Taken from “US Campaign Behind the Turmoil in Kiev”, by Ian Traynor, The Guardian, Friday November 26 2004, available at https://www.guardian.co.uk/world/2004/nov/26/ukraine.usa/

[11] Same resource as footnote 10

[12] Pg. 39, Ukraine’s Orange Revolution, by Karatnycky, Adrian, published on Foreign Affairs; Mar/Apr2005, Vol, 84 Issue 2, pg.35-52

[13] Pg.40, Ukraine’s Orange Revolution, by Karatnycky Adrian, published in Foreign Affairs; Mar/Apr2005, Vol, 84 Issue 2, pg. 35-52

[14] Pg. 539, Enough! Electoral Fraud, Collective Action Problems, and Post-Communist Colored Revolutions, by John A. Tucker, published on Perspectives on Politics, September 2007, Vol 5 and No. 3, pg. 535-551

[15] Pg. 539, Enough! Electoral Fraud, Collective Action Problems, and Post-Communist Colored Revolutions, by John A.Tucker, published on Perspectives on Politics, September 2007, Vol 5 and No.3, pg. 535-551

[16] Taken from https://en.wikipedia.org/wiki/Rose_Revolution

[17] Taken from https://en.wikipedia.org/wiki/May_2005_unrest_in_Uzbekistan

[18] Taken from https://tajikistan.neweurasia.net/?p=165

[19] Pg.270, 十字路口:中亚走向何方, 主编:朱成虎,时事出版社,2007

Tìm hiểu thêm về dự án TÌM HIỂU CÁCH MẠNG MÀU

https://foxstudy.org/san-pham/du-an-tim-hieu-ve-cach-mang-mau/