Nguyễn Thị Hậu

BẢO TỒN DI SẢN ĐÔ THỊ – TRÁCH NHIỆM TỪ AI? (Bài đăng trên Tạp chí Tia Sáng)

Di sản đô thị Sài Gòn chỉ trong vài năm gần đây đã bị phá một cách triệt để ở khu trung tâm thành phố. Dấu vết cảnh quan đô thị xưa biến mất chen vào đó là những công trình mới, như đánh giá của nhiều nhà chuyên môn là không độc đáo về kiến trúc và không hài hòa về cảnh quan, nhất là trên tuyến đường Đồng Khởi.

Vào năm 2016 di tích lịch sử Ba Son bị xóa sổ là một thất bại nặng nề của việc bảo tồn di sản đô thị ở TP.HCM. Ngoài di tích lịch sử 200 năm từ thời Chúa Nguyễn Ánh, Ba Son còn là di tích hiếm hoi về công nghiệp đóng tàu của nước ta. Lẽ ra, toàn bộ cảnh quan sông nước và di tích cần được trả về phục vụ lợi ích cộng đồng cư dân nhưng hiện nay nó hoàn toàn nằm trong dự án dành cho một thiểu số người. Và đến năm nay, 2018 là thông tin về tòa nhà “Dinh Thượng Thơ” ở ngay phía sau Dinh Xã Tây – UBNDTP sẽ bị đập bỏ để xây một công trình “hiện đại” chức năng như trung tâm hành chính của thành phố.

Có một vấn đề luôn được đề cập đến trong quy hoạch đô thị lâu nay, đó chính là bài toán giữa bảo tồn di sản và phát triển đô thị: bên nào sẽ thắng hay có phương pháp nào để hai bên cùng thắng? Hầu như ở đô thị các di sản luôn đứng trước sự lựa chọn: lợi ích kinh tế trước mắt hay lâu dài, lợi ích của một nhóm nhỏ hay của cộng đồng? Câu trả lời của chính quyền thế nào sẽ tìm ra phương pháp giải quyết như thế.

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia, sau khi xác định giá trị di sản, các nhà chuyên môn về quy hoạch, kiến trúc, lịch sử, bảo tồn sẽ đề xuất phương án lưu giữ công trình cổ làm bảo tàng hoặc làm khu nghệ thuật cho người trẻ; thậm chí là khu thương mại nhưng bên trong cái “kiến trúc cũ” chứ không phải phá đi xây công trình mới. “Lợi nhuận” từ di sản sẽ đạt được bằng cả kinh tế và văn hóa, lợi nhuận ấy là bền vững và tích lũy theo giá trị di sản. Thực tế ở nước ta nói chung và TP. Hồ Chí Minh nói riêng không được như vậy, các nhà đầu tư thường chọn “tiền tươi thóc thật” ngay và luôn! Đáng tiếc là các nhà quản lý, chính quyền đô thị cũng không quan tâm đến một phương thức khác!

Hiện nay, chính quyền đô thị vẫn quan niệm vùng lõi đô thị nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa chỉ là vùng “đất vàng”, thậm chí “đất kim cương”, chưa quan niệm là “vùng di sản, vùng ký ức”. Do đó, việc thực thi bảo tồn di sản chưa nhất quán theo quan điểm: Di sản phải quý hơn vàng hơn kim cương! Vì đây là sự kết tinh bao nhiêu giá trị, được lưu truyền lại và là tài sản chung của tất cả cư dân. Không thể đánh đổi vội vã trong một thế hệ hay một “nhiệm kỳ” – để lấy sự tăng trưởng (?) kinh tế nhất thời!

Để bảo tồn di sản đô thị có hiệu quả cần có sự kết hợp giữa ba thành phần liên quan về “trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ” là nhà quản lý, nhà chuyên môn và cộng đồng dân cư đô thị và những người quan tâm. Trên thực tế ngoài ba thành phần trên giờ đây có thêm một đối tượng nữa chính là những nhà đầu tư vào đô thị. Trong quá trình hiện đại hóa đô thị hóa hiện nay, có rất nhiều nhà đầu tư ở đô thị hoặc từ là nơi khác đầu tư vào đô thị. Để công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản mang lại kết quả tốt nhất thì nhà đầu tư cũng phải có sự liên kết với ba đối tượng kia. Mối liên kết ở đây là gì?

Chính quyền là người thay mặt dân cư quản lý đô thị, trong quy hoạch của chính quyền phải có hoạch định và quan điểm rõ ràng về bảo tồn di sản: phá hay giữ? Nếu như chính quyền kiên quyết giữ, thì phần tiếp theo là lắng nghe tư vấn từ các nhà chuyên môn xem giữ như thế nào, giữ đến đâu. Không phải cái gì thuộc về “đồ cổ” cũng giữ nhưng nếu có giá trị di sản đô thị thì bắt buộc phải được bảo tồn, trùng tu và sử dụng có hiệu quả!

Sau khi lắng nghe tư vấn, phải lựa chọn nhà đầu tư có cùng quan điểm và tôn trọng quyết định của chính quyền, tức là nhà đầu tư có tầm văn hóa và có tâm vì “lợi ích muôn đời”. Cái tầm văn hóa ở đây thể hiện nhà đầu tư hiểu biết về giá trị di sản. Nhà đầu tư có thể không có lợi nhuận ngay nhưng sẽ nhận được sự tôn trọng của cộng đồng, và khi nhà đầu tư có những cách thức “khai thác” phù hợp thì di sản ấy phát huy giá trị nhiều hơn, tăng giá trị văn hóa và cả giá trị kinh tế của nó. Tầm nhìn của chính quyền và nhà đầu tư là ở đây: không phá di sản đi chỉ để kiếm tiền từ đất.Vì vậy nếu cạnh chính quyền, nhà đầu tư không có tầm văn hóa, không có tâm với di sản của một vùng đất, mở rộng hơn là của đất nước thì tất yếu dẫn đến thực trạng di sản văn hóa bị phá hủy.

Cuối cùng là ý thức cộng đồng, thể hiện sự hiểu biết và trách nhiệm bảo vệ và lưu truyền “tài sản văn hóa”, “vốn xã hội” cho đời sau. Sự quý trọng và “công nhận” của cộng đồng đối với di tích cổ là bước đầu buộc chính quyền có cách ứng xử phù hợp: làm hồ sơ công nhận di tích và những việc tiếp theo. Ở thời điểm hiện nay tiếng nói của cộng đồng rất quan trọng nhưng trách nhiệm cuối cùng vẫn là chính quyền. Khi chính quyền không có thái độ rõ ràng, quan điểm đúng đắn đối với di sản thì không thể thực thi bảo tồn di sản.
Tình trạng phá hủy di sản tại khu trung tâm Sài Gòn hiện nay đã vấp phải rất nhiều ý kiến trái chiều của người dân, việc chính quyền cần ứng xử là không để cho người dân có thêm những phản ứng tiêu cực. Không thể cho rằng, bảo tồn làm hạn chế phát triển hoặc đã phát triển thì dứt khoát phải phá di sản. Qui hoạch đô thị các nước xung quanh đã có rất nhiều bài học mà Việt Nam, TP Hồ Chí Minh có thể áp dụng được.

Trong quy hoạch phát triển TP.HCM dứt khoát khu vực di sản phải được bảo tồn tuyệt đối. Tất cả những công trình mới không được xây dựng trong vùng lõi di sản của đô thị chính là khu vực quận Một. Nếu lấy Nhà Thờ Đức Bà, Dinh Thống Nhất làm tâm thì có thể kéo ra bán kính khoảng 1- 2km là khu vực rất “nhạy cảm” về di sản, có tác động lớn đến ký ức, tình cảm, thái độ của cộng đồng.

Di sản đô thị tốt đẹp, đặc sắc của Sài Gòn là một lợi thế để các nhà đầu tư vào đây vì mang lại cho họ sự thiện cảm với thành phố. Tuy nhiên, không phải nhà đầu tư nào cũng coi di sản văn hóa là một lợi thế, thậm chí họ coi đó là vật chướng ngại để phá đi chứ không phải là giá trị để giữ lại. Nhưng nhà đầu tư không thể làm điều đó nếu không được chính quyền đồng ý. Quyết định bảo tồn di sản đô thị và “phát triển bền vững” hay không là trách nhiệm của chính quyền.

Sài Gòn 8/5/2018

ỨNG XỬ VỚI DI SẢN ĐÔ THỊ THỂ HIỆN TRÌNH ĐỘ VĂN MINH (Bài đăng trên báo Lao Động)

Di sản đô thị phần lớn được biết đến là những công trình kiến trúc phản ánh lịch sử phát triển đô thị, mang đến cho đời sống hiện đại những giá trị của quá khứ, từ phong cách kiến trúc, kỹ thuật, mỹ thuật trang trí… đến những sự kiện lịch sử – xã hội. Những công trình như vậy ở Sài Gòn – TPHCM tập trung trong khu vực trung tâm thành phố, tạo thành một “vùng di sản” cũng là “vùng ký ức” của đô thị này.

Di sản đô thị không chỉ là từng công trình riêng lẻ mà còn là cảnh quan khu vực trung tâm, bởi tính hài hòa giữa quy hoạch chung với kiến trúc, chức năng các công trình và sinh hoạt đời sống cộng đồng. Ở quận I TP. HCM tuyến phố Lê Duẩn – Nguyễn Du – Đồng Khởi – Lê Thánh Tôn – Pasteur – Nguyễn Huệ – Lê Lợi – Tôn Đức Thắng tập hợp thành cảnh quan đặc trưng của đô thị Sài Gòn. Cùng với các giá trị lịch sử – kiến trúc nó còn rất thân thuộc với nhiều thế hệ người Sài Gòn và du khách, là một phần quan trọng của “ký ức đô thị”. Phá hủy hoặc làm biến dạng khu vực này chính là hành động xóa đi một phần lịch sử của thành phố!

Thời gian qua nhiều công trình cao tầng hiện đại xây dựng ở vùng lõi đô thị Sài Gòn đã làm ảnh hưởng đến cảnh quan kiến trúc tiêu biểu, nhiều công trình cổ ở những “khu đất vàng” đã bị phá huỷ để xây công trình mới, nhiều kiến trúc bị chuyển đổi công năng sử dụng nên thay đổi cấu trúc, cơi nới, biến dạng… Nay đến lượt công trình Dinh Thượng Thơ cùng chung số phận!

Công trình này tuổi đời khoảng 130 năm có chức năng là công sở hành chánh sớm nhất, nằm trong “vùng di sản, vùng ký ức”, trên trục đường xưa nhất của đô thị Sài Gòn là đường Đồng Khởi, hiện nay hầu như không còn công trình nào có tuổi đời và hình thức kiến trúc tương tự còn tồn tại… đó là những lý do quá ĐỦ để phải bảo tồn công trình như một chứng tích của lịch sử phát triển Sài Gòn nói chung và một minh chứng cho lịch sử kiến trúc của thành phố nói riêng.

Lấy lý do đây là “công trình không được xếp hạng” để nhất định phá hủy, xây công trình mới, là không thuyết phục! Vấn đề là chính quyền thành phố có muốn bảo tồn hay không? Còn nhớ vào cuối năm 1997, khi bảo tàng lịch sử TPHCM vừa khai quật xong di tích khu lò gốm cổ Hưng Lợi (quận 8), nhận thấy giá trị đặc biệt của di tích, chính quyền thành phố đã khẩn trương làm hồ sơ và Bộ VHTT lúc đó đã có ngay quyết định công nhận đây là Di tích KCH cấp quốc gia. Cho nên, nếu muốn thì việc công nhận di tích Dinh Thượng thơ, hay đưa vào danh sách công trình cần bảo tồn của thành phố là hoàn toàn khả thi!
Thực trạng việc bảo tồn di sản trong nhiều năm qua cho thấy, mấu chốt vấn đề là việc chính quyền có thực sự coi trọng di sản lịch sử của thành phố hay không? Di sản là của chung cộng đồng vì những giá trị của nó chứ không phải chỉ là mảnh đất “vàng”, tòa nhà “vô giá trị” với nhà đầu tư. Nếu muốn, phương án bảo tồn Dinh Thượng thơ đã phải được chính quyền đặt ra cho chủ đầu tư công trình mới và các cơ quan chức năng liên quan, và thực tế đã có trong phương án công bố trước đây. Tuy nhiên phương án hiện nay đã quyết định phá hủy Dinh Thượng Thơ, thêm một lần nữa di sản thành phố phải nhường chỗ cho một “dự án mới”!

Thật đau xót khi phải chứng kiến những gì làm nên “hồn cốt” đô thị Sài Gòn lần lượt biến mất: khu vực Ba Son, cảnh quan đường Lê Duẩn, Nguyễn Huệ, Tôn Đức Thắng, Đồng Khởi, các công trình Givral, Eden, công viên Lam Sơn, bùng binh Nguyễn Huệ, bùng binh Chợ Bến Thành… và bây giờ là mặt phố Lý Tự Trọng mang đặc trưng tính chất công sở ngay sau lưng tòa nhà UBND, trong đó có công trình Dinh Thượng Thơ.

Việc ứng xử với di sản đô thị thế nào không chỉ phản ánh “tâm và tầm” của nhà quản lý đô thị, mà đó còn là trình độ văn minh của một chính quyền.

ĐA CHIỀU TRONG TIẾP CẬN BẢO TỒN DI SẢN (Bài đăng trên The Saigontimes)

Nghiên cứu và khảo sát hệ thống di sản văn hóa đô thị Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh nếu chỉ tiếp cận từ một góc độ nào đó thì hệ thống di sản này không thể hiện là “những di sản sống cùng thành phố”, mà trên thực tế nó đang tồn tại và thể hiện cuộc sống đô thị. Vì vậy, khi nghiên cứu di sản văn hóa đô thị cần coi đô thị là một đối tượng có thể tiếp cận và là tổng hợp của các cách tiếp cận từ các khía cạnh sau: không gian vật thể (từ một ngành cụ thể như khảo cổ, kiến trúc, quy hoạch…), khía cạnh kinh tế (trị giá của bản thân các công trình và giá trị phát sinh từ đó), khía cạnh chính trị – chính sách (ứng xử với quá khứ, với sự đa dạng của xã hội dân sự) và khía cạnh văn hóa – xã hội (ký ức cộng đồng, truyền thống sinh hoạt cộng đồng).

Tiếp cận từ không gian vật thể

Đô thị là nơi có một hệ thống chức năng hoạt động và cư dân ràng buộc tương tác với nhau chủ yếu qua hệ thống đó, xây dựng đô thị cũng là xây dựng môi trường sống vật chất của con người cơ sở vật chất cho sự hoạt động của hệ thống. Vì thế tiếp cận từ không gian vật thể là trực quan nhất, hợp lý nhất khi xem xét các vấn đề của đô thị. Không gian vật thể gồm không gian công cộng (public space: đường phố, công viên quảng trường và các công trình chức năng công cộng…); không gian cư trú phần lớn có tính chất cá nhân, ngay cả những chung cư thì tính cá nhân cũng thể hiện ở các căn hộ.

Mặc dù không gian và công trình công cộng đều hướng tới nguyên tắc “dành cho tất cả mọi người” có thể sử dụng một cách đa dạng, tạo hiệu quả tối ưu của không gian, nhưng sự thực không gian công cộng luôn bị kiểm soát bởi những quy tắc xã hội và những điều luật quy định, kể cả những không gian “bán công cộng” như khách sạn nhà hàng cửa hiệu do đặc điểm hoạt động và sở hữu không gian tại đó.

Trên thực tế, tính chất “sở hữu” công cộng hay cá nhân của không gian vật thể có tác động quan trọng đến việc duy trì, bảo tồn hay phá hủy nó.

Tiếp cận từ khía cạnh chính trị

Trong không gian công cộng của đô thị khía cạnh chính trị thể hiện mối quan hệ của nhà nước và xã hội dân sự. Trong các thể chế dân chủ nhà nước được bầu ra đại diện cho đa số người dân và nắm trong tay các quyền lực tối cao để quản lý không gian công cộng và quy hoạch không gian vật thể. Tuy nhiên do cấu trúc không hoàn hảo của chính sách từ trung ương xuống địa phương và góc nhìn chủ quan bị giới hạn bởi nguyên tắc hành chính, trong nhiều trường hợp là trình độ hiểu biết và điều hành của nhà quản lý dẫn đến nhu cầu bổ sung ý kiến phản biện của các tổ chức dân sự địa phương. Không gian công cộng đóng vai trò trung gian giữa xã hội dân sự và nhà nước, buộc nhà nước phải chịu trách nhiệm trước xã hội do “tính công cộng” của nó, thông qua sự tham gia chính trị của bất cứ cá nhân, tổ chức xã hội nào bằng cách đối thoại với chính quyền để vượt qua lợi ích đặc thù (nhóm) hướng tới lợi ích cộng đồng một cách minh bạch và khả thi với sự đồng thuận giữa những người có thiện chí.

Tiếp cận từ khía cạnh kinh tế

Các tiếp cận này liên quan nhiều đến quyền sở hữu và tính chất cá nhân/ công cộng của di sản. Nói chung di sản đô thị có thể xem xét qua các khái niệm cơ bản của kinh tế công cộng như hàng hóa công, tài chính công và thị trường. Hàng hóa công cộng là những hàng hóa đáp ứng nhu cầu sử dụng của nhiều người, không có tính cạnh tranh hoặc loại trừ (hoặc gần được như vậy), Tài chính công liên quan đến các chính sách thuế để quản lý điều tiết hàng hóa công và chính sách phúc lợi.

Do đó, nếu giá trị của di sản đô thị được điều tiết theo hướng “hàng hóa công” thì hai yếu tố kia cũng cần điều chỉnh cho phù hợp với giá trị chính yếu của di sản đô thị.

Tiếp cận từ khía cạnh xã hội

Việc khảo sát tính xã hội của di sản văn hóa đô thị sẽ tìm ra những bản sắc và cấu trúc của xã hội đó. Những hành vi trong cuộc sống thường ngày và nhất là trong những trường hợp tiêu biểu sẽ chỉ ra “trình độ” văn hóa của các cộng đồng dân cư đô thị đối với di sản văn hóa.

Trình độ hiểu biết, quan điểm, thái độ, chính sách, thực hiện dự án và việc “sửa sai, đền bù quá khứ”… Tức là những “hành vi xã hội” của nhà quản lý, nhà chuyên môn, nhà đầu tư và người dân thể hiện nguyện vọng, ý chí về bảo tồn di sản văn hóa đô thị. Cả bốn “cộng đồng” tuy thường xuyên có mâu thuẫn về lợi ích nhưng cần phải có tiếng nói chung để tìm ra giải pháp mang lại lợi ích cho cộng đồng và cá nhân một cách thiết thực và bền vững.

Nghiên cứu về di sản văn hóa đô thị có thể còn có những cách tiếp cận và phương pháp khác. Những cách tiếp cận nêu trên sẽ giúp quan sát và phân tích giá trị di sản văn hóa đô thị sâu sắc và toàn diện. Từ đó đề xuất chính sách và giải pháp cho bảo tồn di sản đô thị một cách phù hợp hơn.

Đấy là cách thức thực tiễn và khoa học mà TP. Hồ Chí Minh cần ứng dụng để nghiên cứu bảo tồn di sản, tránh việc phá hủy từng công trình đơn lẻ dẫn đến phá hủy toàn bộ cảnh quan đô thị.

Sài Gòn 6/5/2018

TS. Nguyễn Thị Hậu, nhà nghiên cứu khảo cổ học, văn hóa học và còn được biết đến…