Chiều chiều, trên mấy con phố nhỏ Hàng Bạc, Hàng Mắm, Mã Mây, mấy nhà quen thường vẫn hay có ý ngóng đợi một cô hàng có đôi quang gánh cũ kỹ. Một bên quang trùm chiếc khăn vải trắng bong. Phía bên trong lòng thúng đặt một chiếc xanh đồng thau vàng chóe. Bên trên đậy một chiếc mâm nhôm trắng xóa. Cạnh mâm, gài một chiếc gáo dừa nhỏ nhẵn nâu bóng nước thời gian. Xung quanh chiếc xanhđồng, nhồi một vành rau ghém thập cẩm, trăng trắng, xanh xanh, tia tía.

Một bên quang gánh kia đựng chiếc thúng nan tre. Bên trong lòng thúng là một rổ đầy có ngọn, trên cũng phủ một mảnh vải thô trắng bóc. Xung quanh miệng thúng, lỉnh kỉnh mấy chiếc bát chiết yêu miệng loa, đáy thót vẽ hoa xanh nguệch ngoạc, bày xen mấy chai lọ dấm, mắm, ớt linh tinh và một tập mẹt tre đan nho nhỏ. Trên một dảnh quang mây là chiếc ống đũa cùng chiếc lọ cắm tăm nhỏ xíu, chiếc khăn vải bông trắng dùng để lau bát. Trong tay cô hàng, lủng lẳng chiếc xô nhỏ đựng nước sạch.

Thì đó đích thị là cô hàng bán bánh đúc nộm, một món quà chiều tiết hè thu đặc biệt của người Hà Nội xưa.

Nghe tiếng gọi của bà khách quen nào đó, cô hàng mỉm cười, từ tốn đỗ gánh xuống sát cửa nhà. Chiếc khăn vải trắng phủ trên rổ được lật lên một nửa, như một vầng trăng bán nguyệt, bên trong lộ ra những tấm bánh đúc trắng ngần còn đang nhúng nhính theo nhịp gánh chưa kịp ngưng lại. 
Cô hàng dùng một một chiếc khăn trắng nhỏ lót dưới, lấy một tấm bánh đúc đặt trên tay, rồi nhanh thoăn thoắt dùng chiếc dao nhỏ như dao cau, xiến tấm bánh thành những sợi nhỏ mềm như sợi bánh phở. Nhưng có dễ dày hơn hơn một chút. Lấy một dúm bánh bỏ vào lòng chiếc bát chiết yêu khô ráo, cô thong thả mở chiếc mâm nhôm đậy trên chiếc xanh đồng thau, dùng chiếc gáo dừa nhỏ, lòng nông choèn, khuấy một vòng trong chậu.

Một mùi thơm mát dịu chợt bốc lên nhè nhẹ, ngọt ngào. Ấy chính là mùi vừng trắng điểm mấy nhân lạc rang xay nhỏ, nấu trong nước canh. Màu nước canh của món bánh đúc nộm vì thế mà nom trắng ngà ngà tựa màu sữa đậu nành. Bên trên thau nước canh, lập lờ trốn tìm mấy mầm đỗ xanh vàng như hoa cau đính trên đầu những ngọn giá trắng trong. Cô hàng lựa tay, múc vài ba gáo dừa nước canh dội lên trên bát chiết yêu. Cô với tay lấy một đôi đũa nhỏ, đặt trên chiếc mẹt tre nâu rồi đưa cho bà khách. 

Nhưng bà khách cũng vẫn nhẩn nha chưa vội ăn ngay. Cô hàng bốc thêm một dúm rau ghém, bốc áng chừng thôi, thế mà gồm đủ cả, tía tô tím, canh giới xanh, hoa chuối nâu, thân chuối trắng, điểm mấy ngọn ngổ ba lá và rau thơm bạc hà, cho vào một chiếc rổ tre đan nhỏ xíu bầy tiếp lên chiếc mẹt. Đấy là lúc bữa bánh đúc nộm có thể bắt đầu với không thể thiếu mấy bụi ớt bột khô xay vừa vỡ, còn óng ánh màu đỏ như giấy bóng kính.
Ai mà ăn được ớt tươi, thì nhón đũa gắp thêm vài ba lát đỏ chói. Thì thôi rồi. Trông bát bánh đúc mà toát mồ hôi lưỡi.

Chiều hè nóng nực, ăn một bát bánh đúc nộm như thế, nhà văn Vũ Bằng đã từng miêu tả, có cái cảm giác “mát như quạt vào lòng”, cũng chẳng ngoa.

Cái hồn của bánh đúc nộm chính là thứ nước canh nấu bằng vừng lạc xay nhỏ và thả giá đỗ trần tái. Vị của nó ngòn ngọt, bùi bùi, thơm thơm, beo béo, thoảng chút chan chát của hoa chuối hột và hơi nhần nhận, đăng đắng của rau ngổ ba lá, nhưng mà nhẹ thanh và mềm dịu lắm thôi!

Quà bánh đúc nộm không phải là để ăn lấy no, mà chỉ là ăn cho đỡ thèm, ăn để xoa dịu cái cảm giác bức bối khó chịu của một chiều hè nồng nực, hay là cái hao háo khô khát giữa tiết thu hanh khô rấm rứt nơi phố phường đông đúc, chật chội. Thế thôi.

Ngậm ngùi nhớ lại, khi mẹ tôi trở bệnh nặng trước lúc lâm chung, mấy hôm liền, bà chỉ đòi ăn mỗi một món, là bánh đúc nộm. Ngày ấy, gia đình tôi đã chuyển từ khu phố cổ lên sinh sống tại phố Kim Mã, nên tìm kiếm hàng bánh đúc nộm thật không dễ dàng. May có cô em gái tôi sát tôi chịu khó hỏi thăm, tìm được một hàng bánh đúc nộm trong một ngõ nhỏ gần đầu phố, Kim Mã nhưng thuộc đất làng Vạn Phúc . Nhìn mẹ nằm trên gối mệt nhọc mà vẫn nhoẻn nụ cười tươi tắn khi chạm lưỡi vào thìa canh nước nộm thơm thảo, sao thương quá là thương.

Bây giờ, ở Hà Nội, khó ở đâu có thể tìm thấy bóng cô hàng bánh đúc nộm, nếu ta không chịu khó đi vào các phố cổ. A, nhớ rồi, ở cổng đền Ứng Thiên trên phố Láng Hạ, cũng có một gánh bánh đúc nộm khá ngon. Cô hàng còn trẻ tuổi. Nhưng lịch bán hàng khá đặc biệt. Chỉ vào những ngày rằm, mồng một hay là các ngày có chữ Mậu trong tháng.

Ở trong chợ Hàng Bè, lối đi vào từ phố Hàng Bè vào, phía vỉa hè bên phải, quanh năm vẫn có một chõng hàng bánh đúc nộm gia truyền. Hàng bánh đúc ấy có từ bao giờ chẳng rõ. Chỉ biết rằng, khi còn nhó xíu, tôi đã theo mẹ đi chợ và sà vào hàng từ lúc mẹ tôi còn đang mải mặc cả rau cá giữa lòng chợ. Hồi ấy, bà hàng còn mặc áo cánh nâu và vấn khăn nâu. Sau đó, tôi lớn lên, đi học, thì thay vào chỗ bà cụ, lại là một thiếu phụ trẻ, là con gái hay con dâu của bà cụ không rõ, mặc áo cánh bà ba phin nõn trắng và búi tóc sau gáy. Bẵng đi lâu lâu trở lại, ngồi thế chỗ cũ, lại là một cô hàng trẻ măng, tóc cặp đuôi gà, chắc là cháu chắt chi đó của bà cụ gần 50 năm trước. Rổ bánh đúc vẫn đầy có ngọn, đĩa rau sống vẫn tươi roi rói. Duy vị nước canh có hơi khác đôi chút, ngọt vị mì chính, không được đặc sánh vừng lạc xay như xưa.

Và thay vào chồng bát chiết yêu cũ kỹ, nắm đũa tre cong queo là mấy chồng bát hoa Tàu sáng bóng nằm bên những bộ đũa nhựa trắng bóc. Chưa ăn mà đã thấy no. Sao mà lại cứ nhơ nhớ cái nỗi thèm thuồng thời thơ bé khi xưa.

Vũ Thị Tuyết Nhung