Bàn tay khuyết ngón cái, con chó và tắc kè hoa: Làm phong phú thêm lý thuyết học hỏi phong trào xã hội thông qua những câu chuyện có căn cứ về mặt nhận thức xuất hiện từ một nghiên cứu tình huống về nghiên cứu hành động phần nào có sự góp mặt của các cá nhân ở Ghana

Tóm lược

Trong 3 thập kỷ qua, một phong trào địa phương của người Ghana đã bảo vệ quyền tiếp cận chung đến vùng muối lớn nhất Tây Phi – lối tiếp cận là xương sống của quy trình sản xuất muối thủ công hơn 400 năm tuổi và hỗ trợ sinh kế của khoảng 60 nghìn người. Trong khi phong trào này đã thành công phần lớn nhờ những nỗ lực bảo vệ này, nó hiện đang phải đối mặt với những thách thức mới từ ngành công nghiệp hóa dầu của Ghana, được thúc đẩy bởi lượng dầu được phát hiện gần đây ở Ghana, và từ các khu vực quy mô nhỏ của giới tinh hoa địa phương. Bối cảnh hiện nay đã thách thức phong trào phải chỉnh đốn lại các phương pháp tiếp cận, ngay cả khi nó xây dựng quan hệ đối tác mới với đài phát thanh công cộng địa phương của khu vực. Và phần lớn là do địa hình thay đổi mà một nhóm các nhà nghiên cứu và các thành viên phong trào đã bắt đầu một nghiên cứu hành động có sự tham gia của người dân về việc học tập của phong trào xã hội này. Cùng với việc chia sẻ những đóng góp về phương pháp luận của nghiên cứu thì nghiên cứu tình huống có người dân tham gia được chia sẻ ở đây cũng bổ sung thêm một ví dụ phong phú về những câu chuyện học tập theo tiêu chuẩn của địa phương vào các cuộc thảo luận về cách thức học tập phổ thông. Hình ảnh và tục ngữ không chỉ là trọng tâm trong các chuyện kể về sự học hỏi trong phong trào này, chúng còn là trọng tâm của những phương pháp giáo dục phổ thông của nó. Tầm quan trọng mang tính phê phán của lịch sử và tâm linh địa phương cũng được tiết lộ là phần trọng tâm của việc học tập có nền tảng nhận thức – học củng cố quyền sở hữu địa phương trong cuộc trò chuyện này đối lập với những tường thuật về toàn cầu hóa và tầm nhìn của nhà nước về sự phát triển quy mô lớn. Nguồn gốc thật sự của những câu chuyện địa phương đang chứng minh trở thành một nguồn cội mạnh mẽ cho sự phản kháng và khôn khéo.

Đối với tôi, toàn bộ điều này giống như ai đó thiếu mất ngón tay cái, người mà đang cắt nhỏ thức ăn, anh ta đang đói, nhưng anh ta muốn cắt, bạn biết đấy, Banku, bạn phải cắt một miếng, và bạn cần cuộn nó vào một thứ có hình dạng, trước khi bạn có thể [ăn nó]…

Bạn cần chính xác là một ngón tay cái… vì vậy đối với tôi đó là một bàn tay không ngón đang cố gắng nặn ra một khối banku… Vì vậy, chúng tôi đã có mọi thứ, nhưng chúng tôi thiếu một thứ, một thứ gì đó để thực hiện những dự định và nguyện vọng của chúng tôi. Và đối với tôi, ngón tay cái quan trọng thật.

Nomo Abayateye, Linh mục truyền thống, thành viên của thế hệ cũ trong các nhà hoạt động nam giới.

Biểu tượng mà chúng tôi chọn là một con tắc kè hoa, và nó liên quan cụ thể đến các tù trưởng, những người đang tham gia Atsiakpo, và cách các tù trưởng sẽ làm, một số -, sẽ tham gia vào Atsiakpo, nhưng đồng thời, như tôi đã đề cập, họ sẽ nói “Ồ vâng, Atsiakpo rất tệ, tôi sẽ dừng nó lại.” Và như vậy, giống như một con tắc kè hoa, họ sẽ ở một môi trường chỉ nhìn thấy một phía, nhưng sau đó họ sẽ thay đổi khi họ đến một môi trường khác, họ sẽ thay đổi cả ngoại hình của mình.

 – Tom, đại diện cho nhóm thanh niên hành động.

Điều gì tượng trưng cho quan điểm của nhóm?” Chúng tôi đã nói là con chó. Lý do chúng tôi chọn chó là vì con chó đó làm việc cho chúng ta, khi chúng ta đi săn, hãy dắt chó đi cùng. Khi chúng tôi cần một con vật để canh nhà của chúng tôi, chúng tôi mang theo con chó. Nhưng chúng ta phải làm gì với con chó? Điều gì, khi chúng ta, ngay cả khi đi săn với nó, chúng ta thậm chí còn cho nó ăn thịt? Sau khi nấu xong, bạn có gỡ một ít thịt cho con chó? Không! Nó là những gì chúng tôi đã nhai, xương mà bạn cho nó ăn, đó là những gì chúng tôi làm với con chó. Vì vậy, đó là nó, Songor chính là như thế.

  – Jemima, đại diện cho thế hệ cũ của các nhà hoạt động nữ.

Giới thiệu

Các trích dẫn trên xuất phát từ những phản ánh về hơn 3 thập kỷ đấu tranh để giành lại và bảo vệ quyền tiếp cận cộng đồng đến khu đồng muối lớn nhất Tây Phi – lối tiếp cận đó là xương sống của quy trình sản xuất muối thủ công hơn 400 năm tuổi và hỗ trợ sinh kế của khoảng 60.000 người. Trọng tâm của cuộc đấu tranh này là một phong trào xã hội ở Ghana, được gọi là Ada Songor Advocacy Forum trong lần lặp lại gần đây nhất, đã thành công trên diện rộng trong những nỗ lực bảo vệ. Tuy nhiên, nó hiện đang phải đối mặt với những thách thức mới từ ngành công nghiệp hóa dầu của Ghana, được xúc tiến bởi lượng dầu được phát hiện gần đây của Ghana và các khu vực quy mô nhỏ của giới tinh hoa địa phương, được gọi là “atsiakpo” tại địa phương. Bối cảnh hiện tại này đã thách thức phong trào phải chỉnh đốn lại các phương pháp tiếp cận, ngay cả khi nó xây dựng quan hệ đối tác mới với đài phát thanh cộng cộng địa phương của khu vực. Và hơn thế nữa là do sự thay đổi địa hình này mà một nhóm các nhà nghiên cứu và các thành viên của phong trào đã thực hiện một nghiên cứu nghiên cứu hành động có sự tham gia của người dân về việc học tập của phong trào xã hội này. Nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào lĩnh vực học tập theo phong trào xã hội, cũng như việc có mặt các phương pháp nghiên cứu. Bài báo này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan về những đóng góp nổi bật này, bao gồm một cuộc thảo luận chuyên sâu về từng phản ánh sư phạm mang tính tượng trưng và bắt nguồn từ nhận thức, hoặc những câu chuyện kể, đã được giới thiệu ở trên.

Học tập theo phong trào xã hội, một lĩnh vực phụ của giáo dục người lớn mang tính phản biện, có “bề rộng… rất lớn” (English & Mayo, 2012, trang 110), tuy nhiên, theo nghiên cứu của Hall & Turray (2005) nghiên cứu về bối cảnh châu Phi thì không được trình bày đầy đủ. Theo nghĩa này, nghiên cứu được báo cáo ở đây bổ sung thêm một nghiên cứu tình huống quan trọng về châu Phi cận Sahara vào các cuộc thảo luận về cách thức học tập của các phong trào. Tuy nhiên, như đã được ủng hộ bởi Kapoor (2009) và được nhấn mạnh bởi English & Mayo (2012), điều quan trọng là những nghiên cứu về các phong trào như vậy trong bối cảnh bên ngoài Âu-Mỹ phải được hiểu thông qua lăng kính nhận thức của chính họ. Chính vì lý do này, và cũng là một phần của nỗ lực làm cho nghiên cứu này thuộc sở hữu của phong trào, mà cách tiếp cận nghiên cứu hành động có sự tham gia của cá nhân đã được các bên đồng thuận. Cách tiếp cận này đối với nghiên cứu học tập theo phong trào xã hội không phải là độc nhất (Hall & Turray, 2005), nhưng việc sử dụng một quy trình thiết kế qua lại đã giúp đảm bảo nghiên cứu này được xây dựng vững chắc trên sự tương thích các phong trào chứ không phải tham vọng học thuật (c.f. Choudry & Kapoor, 2009). Từ góc độ phương pháp luận, quá trình lập khung nghiên cứu có sự tham gia rộng rãi của người dân diễn ra từ năm 2008 đến năm 2010 có nghĩa là nghiên cứu này cũng là một phần quan trọng của quá trình học tập phong trào, ngay cả khi nó giúp ghi chép và lan tỏa việc học đã phổ biến hơn. Hơn nữa, nó đã đảm bảo một ý thức rộng rãi về quyền sở hữu đối với quá trình nghiên cứu (Langdon, 2012; Langdon & Larweh, 2013).

Quay trở lại với những câu trích dẫn ở trên, chúng đã nổi lên như một phần không thể thiếu của các câu chuyện học tập được rập khuôn một cách cục bộ, tiết lộ cũng như đưa ra khái niệm của Foley (1999) về việc học hỏi trong chiến đấu – những cách không theo quy chuẩn, không chính thức và ngẫu nhiên trong đó các phong trào học hỏi thông qua việc tham gia vào các cuộc đấu tranh cụ thể. Hình ảnh và tục ngữ không chỉ là trọng tâm trong các câu chuyện kể về việc học trong phong trào này, chúng còn là trọng tâm của sự tiếp cận giáo dục phổ biến của nó. Tầm quan trọng có tính phản biện của lịch sử địa phương và tâm linh cũng được tiết lộ là những điểm mấu chốt của học tập trên nền tảng theo nhận thức – học củng cố quyền sở hữu địa phương trong cuộc đàm thoại này đối lập với những tường thuật về toàn cầu hóa và tầm nhìn của nhà nước về sự phát triển quy mô lớn. Nguồn gốc tuyệt đối của những câu chuyện địa phương này đang chứng minh là một nguồn gốc mãnh liệt của sự phản kháng và khôn ngoan – cái điều mà đang giành lại sức mạnh trong nhiều diễn đàn địa phương khác nhau (ví dụ: huy động xung quanh vấn đề biến đổi khí hậu ở Ada cũng đang có khuôn mẫu tương tự). Đồng thời, trong khi bắt nguồn từ gốc rễ, những câu chuyện này đã không còn bình ổn trong suốt quá trình nghiên cứu. Như việc phong trào phát triển và biến chuyển, sự phản ánh và hiểu biết xuất hiện cho biết và định hình các câu chuyện. Cuối cùng, tầm quan trọng trong trường hợp này là vai trò của đài phát thanh cộng cộng trong việc nâng cao quyền sở hữu và đầu tư của địa phương vào phong trào thông qua những vở kịch trên sóng phát thanh và các bản tin thuộc sở hữu cộng đồng được phát sóng phổ biến các câu chuyện tường thuật chẳng hạn như những bài được chia sẻ ở đây không thể bị ngó lơ. Sức mạnh của sự hợp lực này là điều đã được nhấn mạnh trong các phản ánh tập thể của các thành viên ASAF về những gì đã tìm hiểu được về việc học.

Tổng quan về cuộc đấu tranh vì muối ở Ada

Có hai nỗ lực gần đây trong phong trào nhằm trình bày chi tiết lịch sử lâu dài của mối quan hệ giữa đầm phá Adas và đầm phá Songor mà có thông báo cho phần này. Đầu tiên là báo cáo gần đây của một trong những thành viên cốt lõi của ASAF về việc khôi phục hợp tác xã muối (Hợp tác xã muối Ada Songor, 2013) (xem thêm Amate, 1999). Nỗ lực thứ hai của ASAF trong việc ghi lại lịch sử này cũng đang trong giai đoạn hoàn thiện: dự án sách Lịch sử các dân tộc của cuộc đấu tranh Songor được viết chung (ASAF 2013). Cả những sự mô tả này là những minh chứng quan trọng của nghiên cứu hình thành phong trào. Hai nỗ lực này đã thêm vào một trang sử sách được viết chung từ lần lặp lại cuối cùng của phong trào, được gọi là Kẻ đã giết Maggie? (Ủy ban hợp tác muối Songor, 1989), cũng như nghiên cứu của Manuh (1994) về lần lặp lại trước đó của phong trào và một cuốn sách về lịch sử tổng thể của Ada của Amate (1999).

Chuyển sang mối quan hệ lịch sử giữa Adas và Songor, theo ghi chép của thư từ thuộc địa của Anh, lịch sử này có trước khi thành lập thuộc địa Gold Coast hơn một trăm năm (Amate, 1999). Lịch sử truyền miệng của người Adas thiết lập mối quan hệ giữa người Ada-Okor và đầm phá như là nền tảng cho sự tồn tại hiện nay của họ (ASAF, 2013). Chính tường thuật có tính nền tảng này đã tạo nên sức nặng cho câu nói của người Adas rằng “muối là sự sống”. Điều này cũng được phản ánh trong cụm từ “Ee yon ngo,” được dịch theo nghĩa đen là “người đó có ăn muối không”, nhưng được dùng để hỏi xem ai đó có thông thạo ngôn ngữ địa phương hay không, Dangme. Hơn nữa, tiềm ẩn trong ý nghĩa của nó là người đó hiểu các phong tục và chuẩn mực văn hóa của người Dangme. Điều này thật quan trọng để đặt vấn đề trước mối liên hệ bản sắc văn hóa mãnh liệt này giữa người Ada-Okor và đầm phá Songor, vì nó giúp nhấn mạnh ngay từ đầu rằng việc hiểu  sự huy động xã hội của Adas xung quanh Songor chỉ đơn giản là bảo vệ kế sinh nhai, hoặc một cách sống đã bỏ lỡ một phần lớn ý nghĩa biểu tượng mà đầm phá này dành cho những người tự gọi mình là Ada-Okor. Trong thực tế, như bản báo cáo, và nhiều ấn phẩm khác (c.f. Amate, 1999; Hội đồng Truyền thống Ada, 2011; 2012; 2013; ASAF, 2013), đã chỉ ra một cách đúng đắn, lễ kỷ niệm văn hóa ở Ada, Lễ hội Asafotufiame là sự tái hiện mang tính biểu tượng của quá trình bảo vệ đầm muối khỏi những kẻ xâm lược bên ngoài. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là nguồn lực hỗ trợ trực tiếp cho sinh kế của hơn 60.000 người sống quanh đầm phá, và có các mối liên hệ kinh tế gián tiếp để tăng gấp đôi con số đó (Barbersgaard, 2013; Ada Songor Salt Coop, 2013). Phụ nữ chiếm ưu thế trong những người trực tiếp kiếm sống từ tài nguyên (Manuh, 1994).

Tuy nhiên, để hiểu được lịch sử này được thực hiện như thế nào trong các cuộc đấu tranh hiện tại và gần đây trong quá khứ liên quan đến đầm phá đồng nghĩa với việc xem xét các chính sách của chính quyền thuộc địa và hậu thuộc địa. Nói cách khác, chúng ta cần theo dõi cuộc đấu tranh bảo vệ tài nguyên đã tiếp tục như thế nào trong giới hạn của một quốc gia Tây Phi đang phi thực dân hóa. Amate (1999) chia sẻ cách các chính sách thuộc địa liên quan đến Songor đã hỗ trợ các bên cạnh tranh quan tâm đến việc ai có quyền thu lợi từ đầm phá – một chiến lược phân chia và cai trị cổ điển. Nhiều căng thẳng được thiết lập trong thời kỳ này có thể bắt nguồn từ các vấn đề hiện tại xoay quanh atsiakpo. Đồng thời, sau khi Ghana trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1957, chính quyền trung ương vào thời điểm đó đã quyết định tiến hành một dự án đập điện lớn trên sông Volta. Quyết định này đã ảnh hưởng đáng kể đến chu kỳ lũ lụt tự nhiên của đầm phá Songor, và dẫn đến giảm đáng kể những khu đồng muối (Manuh, 1994).

Điều này khiến một nhóm nhỏ giới tinh hoa nhượng bộ một phần nhỏ cho hai công ty với điều kiện họ giúp hồi sinh nguồn lực. Một trong những công ty này, Vacuum Salt Limited (VSL) đã sử dụng các chiến thuật hai mang để tiến hành nhượng quyền và đưa ra yêu cầu đối với một phần lớn của đầm phá – bao gồm phần lớn diện tích được sử dụng bởi những người làm muối thủ công, như chúng được gọi ở Ada (Songor Ủy ban Hợp tác xã muối, 1989). Bất chấp những thay đổi trong các chính phủ quân sự và dân sự trong suốt phần còn lại của những năm 70 và đầu những năm 1980, VSL vẫn có thể duy trì một thế mạnh đối với không chỉ tài nguyên mà còn cả khu vực. VSL đã xử lý toàn bộ đầm phá là tài sản của nó, và tấn công những người làm muối thủ công ở địa phương chỉ đơn giản là tham gia vào các hoạt động thu gom muối mà họ đã làm trong đầm phá trong 400 năm (Ủy ban Hợp tác muối Songor, 1989; Ủy ban Amisah, 1986).

Minh chứng truyền miệng được thu thập và phát sóng vào năm 2002 bởi Radio Ada, đài phát thanh cộng cộng địa phương và là thành viên của ASAF, cũng như những bằng chứng bằng lời nói được thu thập bởi nghiên cứu được ghi chép ở đây, cho thấy những thống kê bạo lực sâu về hành vi của công ty trong giai đoạn này – bao gồm việc ép ăn muối thô đối với những người bị bắt đang hành nghề làm muối thủ công (Đài Ada, 2002; ASAF, 2013; Ủy ban hợp tác muối Songor, 1989; Ủy ban Amisah, 1986). Đây không phải là những người ăn cắp từ chảo muối mà các công ty đã thành lập (không phải vì điều này sẽ bào chữa cho hành vi vi phạm nhân quyền này). Sự đối xử này, cũng như việc từ chối cho phép thu mua muối thủ công của địa phương đã dẫn đến tình trạng bất ổn ngày càng tăng trong người Adas. Khi ngày 31 tháng 12 năm 1981, cuộc cách mạng xảy ra và một chính phủ quân sự xã hội chủ nghĩa khoa trương lên nắm quyền, nhiều người ở Ada nghĩ rằng tình hình sẽ thay đổi – và điều đó đã xảy ra trong một thời gian ngắn với việc thành lập Ủy ban Cách mạng Nhân dân để tiếp quản và điều hành các công ty tiếp quản những hồ muối. Thật không may, các công ty đã có thể giành lại quyền kiểm soát khu vực, và sử dụng lực lượng cảnh sát và quân đội để thực hiện hành vi lạm dụng thậm chí nhiều hơn (Ủy ban hợp tác muối Songor, 1989). Đồng thời, một hợp tác xã muối địa phương đã được thành lập để phản bác lại tuyên bố của hai công ty về nguồn tài nguyên – một phần giải thích cho tình trạng căng thẳng ngày càng tăng trong khu vực.

Căng thẳng và xung đột này dẫn đến cái chết của Maggie Kowunor đang mang thai, vào năm 1985, người bị cảnh sát bắn chết. Cái chết của cô ấy dẫn đến Ủy ban điều tra quốc gia Amisah (1986), và việc thành lập năm 1992 (ngay trước khi dân chủ trở lại) luật 287 của PNDC – một đạo luật hủy bỏ nhượng bộ hai công ty và giữ lại nguồn lực đáng tin cậy cho người dân Ada, và của Ghana. Một yếu tố quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là thực tế rằng việc các Adas huy động để bảo vệ tài nguyên của họ, ngay cả khi nó đã được các thành viên của tầng lớp Dangme đưa ra, là rất quan trọng trong việc trả lại quyền truy cập cộng đồng vào tài nguyên cho Adas. Tuy nhiên, như sẽ được thảo luận thêm dưới đây, Manuh (1994) lưu ý rằng mặc dù tầm quan trọng của nguồn lực đối với phụ nữ, và thực tế là cái chết của một phụ nữ đã dẫn đến việc ủy ban điều tra, nhưng phụ nữ không được đại diện đầy đủ trong ban lãnh đạo hợp tác đã nổi lên để chống lại quy tắc của công ty.

Kể từ năm 1992, một số điều đáng chú ý đã xảy ra ở Ghana, chẳng hạn như sự trở lại chế độ dân chủ vào năm 1993, chuyển đổi bầu cử hòa bình của chính phủ vào năm 2000 và chuyển đổi hòa bình thứ hai vào năm 2008. Cũng đáng chú ý là hai kế hoạch được chính phủ tài trợ cho nguồn dự trữ muối Songor xuất hiện trong suốt thời kỳ này. Điều đầu tiên trong số này, được gắn trong luật 287, là cái được gọi đơn giản là Kế hoạch Tổng thể (Chính phủ Ghana, 1991), được lập bởi

Nhóm tư vấn của Cuba năm 1991, với sự tham gia rộng rãi của cộng đồng và tham gia có sự hợp tác, và hình dung ra nguồn tài nguyên có thể đáp ứng sản xuất muối thủ công của địa phương thông qua các hợp tác xã đồng sử dụng đầm phá cùng với các nhà sản xuất muối công nghiệp có ý định phục vụ nhu cầu hóa dầu của Tây Phi. Kế hoạch thứ hai, được gọi là Kế hoạch sử dụng đất (Chính phủ Ghana, 2003), được thực hiện bởi phần đa người ủng hộ chiến thắng tư bản trong cuộc bầu cử năm 2000, sử dụng cùng một nghiên cứu cơ sở của nhóm Cuba về tiềm năng sản xuất, nhưng định hướng lại hướng dẫn của chính sách để thay vào đó tập trung vào tư nhân hóa toàn bộ nguồn lực như một nhượng bộ cho một công ty bên ngoài. Không cần phải nói, kế hoạch thứ hai này đã vấp phải nhiều phản kháng của địa phương, và khi chính phủ này mất quyền lực vào năm 2008, kế hoạch này (tạm thời) bị gác lại.

Một sự thay đổi quan trọng khác đã xảy ra vào năm 2008 khi dầu được phát hiện với số lượng thương mại ngoài khơi bờ biển Ghana. Đột nhiên, sự quan tâm của nhiều giới tinh hoa đối với muối, cả trong khu vực Ada và ở cấp quốc gia, lên đến đỉnh điểm. Như Affam và Asamoah (2011) lưu ý, tiềm năng kinh tế của việc sử dụng muối của Ghana trong các quy trình hóa dầu là rất lớn. Với nhận thức mới mẻ này, nhiều thế lực mới đang quan tâm đến Songor. Vào năm 2011, ASAF đã quản lý để công khai giới thiệu một phái đoàn chính phủ, đang nói chuyện với lãnh đạo truyền thống của khu vực, về việc di dời hơn một trăm nghìn cư dân Ada sống xung quanh đầm phá – ý tưởng cốt lõi của Kế hoạch sử dụng đất. Phần lớn là kết quả của những nỗ lực giáo dục cộng đồng của phong trào, cũng như những đóng góp sáng tạo của Radio Ada, chính quyền trung ương và những người đứng đầu địa phương ủng hộ việc di chuyển đã bị buộc phải từ bỏ việc chuyển đổi ngôn ngữ và (hiện tại) đang thực hiện một cách tiếp cận chậm hơn và mang tính tham vấn để lập kế hoạch xung quanh đầm phá. Đây là bối cảnh hiện tại của cuộc đấu tranh. Tuy nhiên, một khía cạnh quan trọng của bối cảnh này vẫn chưa được mô tả.

Kể từ năm 2003, cách tiếp cận thủ công chung để làm muối trong đầm phá đã phải đối mặt với một mối đe dọa khác ngoài việc tịch thu của chính phủ và bên ngoài. Một quy trình nội bộ khắc những vại muối dọc theo rìa của đầm phá, được gọi là “atsiakpos” trong phần trích dẫn mở đầu, đã và đang đạt được thành công. Việc ban-căng hóa tài nguyên này xuất hiện để đáp lại sự nhượng bộ của tư nhân làm gián đoạn quy trình chung truyền thống và đã tiếp tục với sự tham gia rõ ràng hoặc ngầm hiểu của giới tinh hoa địa phương và những người trông coi đất đai. Mặc dù có nhiều sự phản đối ban đầu đối với xu hướng mới nổi này của giới trẻ địa phương (Langdon, 2011), sự thất bại của những người ra quyết định địa phương, cảnh sát và chính quyền quốc gia trong việc chấm dứt hoạt động này đã khiến nhiều người trong số những người chống đối ban đầu tạo ra các astiakpos của riêng mình trong đầm phá – khiến phụ nữ ngày càng khó khăn hơn, đặc biệt là tiếp cận các cánh đồng muối của xã. Không cần phải nói, điều này đã dẫn đến chia rẽ và căng thẳng nội bộ nghiêm trọng, với các gia đình bị chia rẽ vì âm mưu tạo ra. Trước khi xuất hiện các kế hoạch tái định cư liên quan đến dầu mỏ, phần lớn trọng tâm của các thành viên ASAF là chống lại atsiakpo. Trên thực tế, vào năm 2008 Đài phát thanh Ada và Hội đồng Truyền thống Ada đã quản lý để thiết lập một lệnh cấm đối với âm mưu này – nhưng sự thất bại của giới lãnh đạo truyền thống liên quan đến lệnh cấm này để giải thích cho hàng hóa bị tịch thu đã ủy quyền cho tuyến đường này trong những nỗ lực trong tương lai nhằm chấm dứt hoạt động này. Theo nghĩa này, có hai mặt trận mà phong trào hiện tại đang hoạt động: bóng ma cung cấp muối cho ngành công nghiệp dầu mỏ dẫn đến việc chiếm đoạt và khai thác tài nguyên, và thực trạng hiện tại của các cộng đồng bị chia rẽ đối phó với việc chiếm đoạt không được kiểm soát các vùng đất xung quanh phần rìa của đầm. Chính trong bối cảnh phức tạp này, với những thách thức cả bên trong và bên ngoài đang phải đối mặt với phong trào, nghiên cứu hiện tại đã vào cuộc. Trước khi chuyển sang tìm hiểu sâu hơn về những gì đã xuất hiện từ nghiên cứu này, điều quan trọng là phải chia sẻ ở đây cách nghiên cứu này phát triển.

Nghiên cứu phong trào xã hội học hỏi thông qua sự tham gia nghiên cứu hành động

Các phương pháp tiếp cận nghiên cứu có sự tham gia và hợp tác đã được xác định là một phương pháp quan trọng và mang tính tổng hợp để nghiên cứu quá trình học tập theo phong trào xã hội (SML) (Hall & Turray, 2006). Hall&Turray (2006) tiết lộ cách mà các quy trình nghiên cứu hành động có sự tham gia tích hợp đã và đang tiếp tục dành cho nghiên cứu phong trào trong giới giáo dục người lớn. Luồng nghiên cứu này, được gọi là học tập theo phong trào xã hội, có một truyền thống mạnh mẽ về sự tham gia nghiên cứu hợp tác, tuy nhiên, như Walter (2007) đã chỉ ra, phần lớn các nghiên cứu này bị chi phối bởi sự phân đôi Âu-Mỹ được rút ra giữa Phong trào xã hội cũ (phong trào theo chủ nghĩa Mác và lao động) và Phong trào xã hội mới (phong trào dựa trên bản sắc, chẳng hạn như Phong trào LGBTQ) lý thuyết về tổ chức (xem Holst, 2002). Kapoor (2008) đã nhấn mạnh sự nguy hiểm của việc giả định tính khả chuyển của sự phân đôi này trong bối cảnh miền Nam. Ông, cũng như những người khác (c.f. Foley, 1999; Walters, 2005), ủng hộ mối liên hệ chặt chẽ với bối cảnh khi phân tích việc học theo phong trào xã hội.

Những cảnh báo có sức ảnh hưởng lớn về sự thống trị của các nước Châu Âu trong các lý thuyết phê bình viết từ bối cảnh Châu Phi, chẳng hạn như Mamdani (1996), người đã lập luận về việc sử dụng các phương pháp tiếp cận giàu ngữ cảnh để phân tích các hiện tượng Châu Phi. Hall (2005) và Fals-Borda (2006) đã viết những phần phản ánh trong lịch sử của nghiên cứu có sự tham gia và mối liên hệ của nó với giáo dục người lớn, trong trường hợp của nghiên cứu trước đây, và trong trường hợp thứ hai, mối liên hệ của nó với một mong muốn chống Âu châu nhằm ngăn chặn việc nghiên cứu những ‘người khác’ được khen ngợi, và thay vào đó tạo ra những không gian có ý nghĩa chung. Cùng những dòng này, Choudry & Kapoor (2010) đã lập luận rằng nghiên cứu có sự tham gia, và PAR nói riêng, phải được sở hữu bởi các phong trào ở trung tâm của các nghiên cứu học tập về phong trào xã hội, chứ không phải được sử dụng bởi các học giả – đặc biệt là ở miền Bắc – thực hiện các nghiên cứu sau cùng là quan tâm đến việc trích xuất thông tin hơn là đáp ứng các nhu cầu của phong trào và các ưu tiên. Họ lưu ý rằng các mối quan hệ tạo khuôn khổ cho nghiên cứu đó, cùng với cách thức mà nghiên cứu được hình thành (tức là nó thuộc sở hữu của phong trào ngay từ đầu) là rất quan trọng để tránh kiểu quan hệ khai thác này.

Lần đầu tiên vào năm 2008 và xa hơn vào năm 2010, các thành viên của ASAF, bao gồm cả đại diện của Đài Ada, cũng như hai trong số ba tác giả bắt đầu thiết kế một nghiên cứu dài hạn về học tập trong phong trào muối. Trong khi một dự án nghiên cứu đang diễn ra từ quá trình này, điều cuối cùng quan trọng hơn đối với các thành viên phong trào là việc các thành viên cấu hình lại nhanh quá trình thiết kế để trở thành một quá trình học tập phản ánh lại ở trong và của chính nó. Nền tảng cho tầm nhìn mới nổi này là một quá trình giáo dục lẫn nhau không chỉ tạo thành cơ sở của nghiên cứu nghiên cứu để tuân theo, mà còn là một khái niệm được cấu thành chung hiểu biết về cuộc đấu tranh trong tầm tay và những bài học quan trọng từ quá khứ để tiến lên. Vì vậy, trong khi quá trình thiết kế đặt câu hỏi, “những chủ đề và quy trình nào nên tạo kết cấu cho một nghiên cứu tiềm năng lâu dài hơn của phong trào về việc học tập trong phong trào Ada?”, Câu hỏi này đã được cấu hình lại để tập trung vào “làm thế nào để chúng ta đạt được sự hiểu biết tương tự và được xác định chung về cuộc đấu tranh của chúng ta ngày nay là gì và cách tốt nhất để giải quyết nó? ” Theo nghĩa này, những gì ban đầu được hình dung như một cuộc trao đổi về thiết kế nghiên cứu phong trào, đã trở thành một phần của quá trình giáo dục, lập kế hoạch và sự phản ánh các quá trình. Như vậy, cấu trúc song song hiệp đồng này, nơi thiết kế nghiên cứu phong trào và tiến trình phong trào kết nối cái này với cái kia, minh chứng cho lời kêu gọi của Choudry và Kapoor (2010) cho nghiên cứu gắn liền với các phong trào ngay từ đầu.

Sau đó, ba năm qua của dự án nghiên cứu thực tế đã chứng kiến ​​nghiên cứu tiếp tục “chuyển động cùng phong trào” (Langdon, 2012). Khi thách thức mới của các kế hoạch tái định cư của chính phủ xuất hiện, trọng tâm và sức lực của phong trào đã thay đổi. Nghiên cứu hành động là một phần của quá trình phản ánh dẫn đến sự thay đổi này và đã được lồng vào các quá trình đối thoại cộng đồng đang diễn ra nhằm thông báo cho cộng đồng về thách thức mới và làm việc với họ để lập kế hoạch ứng phó. Tất cả các quy trình này đều được các thành viên phong trào lập kế hoạch một cách có tổ chức, dựa trên tình hình phát triển, và tất cả các hoạt động nghiên cứu đều được đưa vào tài liệu hóa các quy trình, và cũng góp phần phản ánh các cuộc thảo luận về tình huống này bằng cách chia sẻ tài liệu – đạt đến đỉnh điểm về nhiều mặt trong dự án cuốn sách Cuộc đấu tranh của nhân dân được đề cập ở trên (ASAF, 2013). Một hiện tượng thú vị đã xuất hiện là nhiều hoạt động chồng chéo được thực hiện bởi các nhóm khác nhau trong ASAF đã trở thành một phần của hoạt động phong trào hoặc hỗ trợ các mục tiêu phong trào (chẳng hạn như Okor Nge Kor, một loạt phim truyền hình về các vấn đề của Songor do Radio Ada bắt đầu, hoặc nghiên cứu về việc hồi sinh các hợp tác xã muối của hợp tác xã muối Ada Songor đã đề cập ở trên). Theo nghĩa này, nghiên cứu đã có thể hợp nhất vào nghiên cứu điển hình một loạt các hoạt động liên quan cũng chuyển động cùng với phong trào, mô tả một loại ‘sinh thái của hoạt động xã hội’ (Langdon &Larweh, 2013).

Trong hội thảo đầu tiên sau giai đoạn thiết kế, được tổ chức vào tháng 5 năm 2011, nơi các ưu tiên và chiến lược của phong trào đang được trình bày rõ ràng rằng ba câu chuyện mở đầu cho bài báo này đã nổi lên. Tiếp nối truyền thống xuất hiện trong quá trình thiết kế, hội thảo đầu tiên này được tất cả những người tham gia tưởng tượng như một quá trình giáo dục lẫn nhau, để tìm hiểu những gì chúng ta biết, tất cả chúng ta nghĩ gì về tình huống của Songor và những quan điểm của chúng ta có thể dạy cho người khác. như chúng ta đã học được từ họ. Trước khi chuyển sang ba câu chuyện này, điều quan trọng là phải đặt chúng trong bối cảnh thách thức các chuẩn mực nhận thức.

Thách thức xem nguyên nhân gốc rễ của cuộc đấu tranh được đặt ra như thế nào

Như đã đề cập ở trên, nghiên cứu phức cho phép loại thách thức mang tính nhận thức về những di sản đang diễn ra của các mối quan hệ thuộc địa vì nó cho thấy những cách thức nơi mà những cách thức bị khuất phục đang thực sự xác định cuộc đấu tranh – hơn là định vị cuộc đấu tranh này trong các lưu trữ lý thuyết Âu-Mỹ. Ví dụ, trường hợp Ada thách thức sự phân chia sai lầm giữa sinh kế và khái niệm bản sắc như một nguồn gốc của đấu tranh. Trong công việc hiện tại của ASAF, cả hai hoàn toàn gắn bó với nhau, vì lịch sử đấu tranh về Songor, cùng với mối liên hệ của nó với những câu chuyện cơ bản về người Okor là một phần sức mạnh của phong trào cũng như 60.000 người chiến đấu để bảo vệ sinh kế của họ. Trước khi chuyển sang ba câu chuyện cung cấp các lăng kính khác nhau, qua đó chúng ta có thể hiểu được sự chuyển động và đấu tranh hiện tại này, chúng tôi sẽ chia sẻ một ví dụ về sự thay đổi nhận thức để giúp minh họa điểm này.

Ví dụ này liên quan đến mối liên hệ giữa sinh kế và sử dụng tài nguyên. Ngay từ đầu, ASAF đã không chỉ tập trung vào việc bảo vệ quyền tiếp cận cộng đồng, và các quy trình lập kế hoạch toàn diện liên quan đến việc ra quyết định của chính phủ về nguồn lực. Phong trào cũng liên tục nhấn mạnh tầm quan trọng của rừng Okor trong các cuộc thảo luận này. Theo nhiều cách, khu rừng này – nằm ở rìa phía nam của đầm phá – tượng trưng cho tình hình hiện tại ở Songor, và cũng là quốc gia Ada lớn hơn. Nó được báo trước là khu rừng mà qua đó những người sáng lập ra quốc gia Ada đã được dẫn dắt bởi thần Yomo – một phụ nữ cao tuổi thông thái biết đường đến Songor một mình. Khu rừng này phục vụ các mục đích tâm linh thực tế, vì nó là một ngôi đền chính của người Ada, và là nơi đầu tiên một vị vua Ada mới được phong, hoặc Quân vương bậc nhất trong từ điển hiện tại, phải được củng cố và giáo dục về tinh thần trong các vai trò và trách nhiệm của vị trí mới của mình. Mặc dù vẫn chưa rõ khi nào cuộc xâm lấn này bắt đầu, nhưng khu rừng trong thời hiện đại đã bị thu hẹp lại chỉ còn một phần nhỏ so với kích thước ban đầu, và cũng đã bị Thủ lĩnh Paramount hiện tại của Ada xa lánh. Phần duy nhất của khu rừng còn lại là bốn khu vực đền thờ của các thị tộc Ada sáng lập.

Radio Ada, cùng với các thành viên khác của phong trào, đã liên tục liên kết bản chất hoang tàn của khu rừng với sự xâm lấn của atsiakpo đối với việc tiếp cận cộng đồng đến Songor, cũng như sự suy giảm của các mức sản xuất muối của đầm phá. Khi tạo mối liên kết này, phong trào vừa kết nối với những câu chuyện cơ bản về quốc gia Ada và bản sắc Ada, vừa thiết lập sự hỗ trợ chiến lược cho thông điệp nhất quán của phong trào rằng đây không chỉ là việc cải thiện cuộc sống của cư dân Songor mà còn là phục hồi nền văn hóa của quốc gia Ada – một điều khó có thể công khai chỉ trích. Từ quan điểm học tập phong trào xã hội, chiến lược này xuất hiện từ quá trình học tập lâu dài trong chiến đấu, có thể được coi là học tập từ đấu tranh (Langdon, 2011), kết nối với các lần lặp lại trước đó của phong trào. Điều này được mở rộng khi ở trong một trong những câu chuyện dưới đây. Trong cuộc xung đột với hai công ty được mô tả ở trên, những người bảo vệ quyền tiếp cận cộng đồng vào thời điểm đó đã có thể tuyên bố địa điểm đền thờ Yomo (không phải rừng Okor) nằm ngoài tầm nhìn của cái việc nhượng bộ công ty (Hợp tác xã muối Ada Songor, 2013). Trong một số cuộc thảo luận của ASAF, chiến thắng này được mô tả như một bước khởi đầu quan trọng cho bãi bỏ các nhượng bộ. Từ góc độ này, liên kết các dấu ấn bản sắc văn hóa và tinh thần với cuộc đấu tranh Songor là một bài học quan trọng để áp dụng vào cuộc đấu tranh hiện nay. Dọc theo những dấu vết lỏng lẻo khác nhau, Radio Ada cũng nhìn thấy mối liên kết này với khu rừng như một minh chứng quan trọng cho cam kết của trạm trong việc giải quyết nhiều vấn đề cộng đồng – một điểm thường được sử dụng để làm suy yếu các nỗ lực tô vẽ đài vì tham gia quá sâu vào các vấn đề của Songor một mình. Ý thức về nhu cầu thể hiện sự cân bằng này xuất hiện từ sự học hỏi của các nhân viên của đài về cách giải quyết các vấn đề gây tranh cãi, thực hiện sứ mệnh của đài là trở thành tiếng nói của những người bị thiệt thòi và phá vỡ vẻ hào nhoáng của tầng lớp địa phương và quốc gia, trong cùng một thời gian thực hiện trung lập, hoặc một hình thức cân bằng trong mối quan hệ của nhà ga với quyền lực truyền thống. Như đã thảo luận ở những nơi khác, đây không phải là một sự cân bằng dễ dàng đạt được và là nguồn học hỏi và điều chỉnh liên tục (Langdon, Quarmyne, Larweh & Cameron, 2013). Nhưng cách tiếp cận thực dụng mà tài khoản học tập này gợi ý không nên làm lu mờ tầm quan trọng rất rõ ràng mà khu rừng này có đối với nhiều người Ada, và nhu cầu thực sự phải làm gì đó để bảo vệ và tái tạo nó – điều mà rất nhiều người, bao gồm nhiều nhân vật có thẩm quyền truyền thống, ủng hộ.

Tầm quan trọng của sự kết nối nhiều cấp độ này đã được chứng minh tại một diễn đàn phong trào trong cộng đồng Songor của Goi vào tháng 8 năm 2012. Không có đào sâu quá nhiều chi tiết, ASAF và đài đã phá hoại một cách hiệu quả những nỗ lực vẽ lên phong trào là chống Ada và chống lại sự phát triển bằng cách phát sóng trực tiếp từ cộng đồng và không chỉ tập trung vào các vấn đề của Songor, mà còn là sự tái sinh của rừng Okor. Chiến lược này, được mô tả ở những nơi khác (Langdon, Quarmyne, Larweh & Cameron, 2013), cho phép phong trào tự định vị mình một cách hiệu quả với tư cách là người bảo vệ kế sinh nhai và bản sắc Ada. Cách tiếp cận này buộc Hội đồng Truyền thống Ada phải gặp các thành viên ASAF, nơi một số thảo luận công khai về sai lầm của họ khi làm việc với chính phủ nỗ lực di dời. Loại nền tảng này trong cái mà Mignolo (2000) gọi là ‘lịch sử địa phương’ là hai chân giúp phong trào đã thành công. Chính xác từ những dấu ấn lịch sử địa phương này mà ba biểu tượng và những câu chuyện xung quanh đã được mô tả dưới đây. Kofi Larweh, một trong những tác giả của bài báo này và là thành viên của phong trào, đã mô tả tầm quan trọng của câu chuyện này cách tiếp cận liên quan đến các biểu tượng bắt nguồn từ nhận thức ở trung tâm của bài báo này:

Khi chúng ta lớn lên, kiến ​​thức và trí tuệ được trình bày dưới dạng Chuyện kể Ananse và bạn khiến cho động vật và cây cối biết nói chuyện, điều đó giúp xây dựng trí tưởng tượng để người ta được dẫn dắt trong tinh thần để trải nghiệm những gì tốt đẹp. Bây giờ, người dân của chúng tôi là những người kể chuyện. Tất cả lịch sử của cộng đồng được viết trong các bài hát, trong những câu chuyện được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và như vậy, người ta thậm chí có thể nói những gì đang diễn ra trong cộng đồng dưới hình dáng động vật hoặc cây cối, chim chóc hay bất cứ thứ gì, theo một cách nào đó. Người của chúng tôi là những người kể chuyện tuyệt vời. Đó là lý do tại sao tôi bắt đầu bằng cách nói rằng những gì đã được thể hiện có hai hình thức, tinh thần và mẫu tự. Và vì vậy, nếu bạn nắm lấy bàn tay không có ngón cái, con chó và tắc kè hoa, đây là mẫu tự, đó là cái gọi là vật chất. Tinh thần đằng sau nó là những cảm xúc mà con người có thể thể hiện, nhìn vào toàn bộ sự việc, trước những điều này khi họ nói hoặc khi họ sống với con người. Thông thường, bạn sẽ hầu như không, chẳng hạn như nếu bạn có một nhà lãnh đạo tồi, người dân của chúng tôi sẽ không nói rằng “bạn có một nhà lãnh đạo thật tệ”, bạn sẽ nói rằng “nhà lãnh đạo của chúng tôi có những cố vấn tồi”. Giống như cách bạn không muốn nói chuyện trực diện với những người khác. Và vì vậy, điều đơn giản là sử dụng logic của bàn tay không ngón, con chó và con tắc kè hoa dưới dạng những đồ vật có thể mang lại ý nghĩa cho những gì chúng cảm thấy, sâu thẳm trái tim họ. Và công việc của chúng tôi, trong lĩnh vực này, là giúp mọi người kể câu chuyện của họ. Là giúp mọi người đưa ra những hình ảnh này để nó gắn bó hơn, hình ảnh gắn bó tốt hơn, bởi vì đó là những gì mọi người sẽ nhớ. Thậm chí đến điều này ngày, những người đã nói những điều này và những người đã nghe sẽ biết rằng, khi bạn nói về bàn tay không ngón, con chó và con tắc kè hoa, họ biết họ đang nói về điều gì.

Phân tích này là một phần giới thiệu phù hợp cho ba câu chuyện hình thành phần lớn phân tích chiến lược đang diễn ra của phong trào ASAF.

Bàn tay khuyết ngón cái, con chó và con tắc kè hoa

Với quá nhiều lịch sử đấu tranh trong phong trào này, một trong những vấn đề lớn được các thành viên phong trào xác định sớm trong các cuộc trò chuyện tập thể là cần chia sẻ kiến ​​thức giữa các thế hệ, đồng thời học hỏi từ quá khứ trong cuộc đấu tranh của ngày hôm nay. Như đã được ghi lại ở những nơi khác, và như được thảo luận trong một đoạn tuổi trẻ trẻ dưới đây, đã có một sự ngắt kết nối giữa thế hệ của các nhà hoạt động nam lớn tuổi và nhiều người biểu tình trẻ tuổi (Langdon, 2011). Nó là trong một phần vì một số căng thẳng này và mong muốn tái tạo tổ chức xung quanh Songor mà các cuộc trò chuyện ban đầu xung quanh nghiên cứu này đã bắt đầu vào năm 2008.Vào cùng thời điểm, xuyên suốt vấn đề này, và liên kết rất nhiều đến việc tiếp tục vận động và quan tâm của phụ nữ trong cộng đồng Songor liên quan đến atsiakpo cũng nhấn mạnh lại một điểm mà Manuh (1994) đã thực hiện trước đây, đặc biệt là phụ nữ bị ảnh hưởng khi tiếp cận cộng đồng đối với Songor bị hạn chế. Nó dựa trên ba yếu tố chính của sự lặp lại hiện nay của phong trào Songor, hiện được gọi là Ada Songor Advocacy Forum (ASAF), rằng các nhóm quan điểm có kết cấu đã xuất hiện trong lần đầu tiên này hội thảo, được tổ chức vào ngày 6 và 7 tháng 6 năm 2011. Mỗi nhóm quan điểm đã thực hiện nhiệm vụ trình bày chi tiết sự hiểu biết của họ về các vấn đề đang đối mặt với đầm phá, kết luận bằng một biểu tượng nắm bắt được vấn đề cốt lõi của họ. Nó bắt nguồn từ quá trình mà ba hình ảnh đó – hiện đã trở nên phổ biến trong phong trào các quy trình giáo dục và các phân tích công cộng – đã nổi lên.

Bàn tay cụt

Trong các cuộc thảo luận nhóm của họ, thế hệ các nhà hoạt động nam lớn tuổi đã chia sẻ nhiều lịch sử đấu tranh, kể chi tiết tầng tầng lớp lớp âm mưu và động thái bí mật gắn liền với 20 năm cộng với sự hiện diện của công ty ở đầm phá (1970 đến 1992). Trong khi là sự kết hợp của những người đàn ông lớn tuổi từ cả cộng đồng Songor, bao gồm một số người lão luyện, tù trưởng và các linh mục truyền thống, và từ cộng đồng công chức Ada có học thức, toàn bộ nhóm đã cùng tham gia vào làn sóng đấu tranh cuối cùng về tài nguyên. Một khía cạnh chính của điều này phản ánh của nhóm về quá khứ là những khó khăn mà họ gặp phải dưới các chế độ quân sự liên tiếp, những thách thức mà họ gặp phải trong việc tìm ra những gì đã được lên kế hoạch ở cấp quốc gia, thậm chí trong khi những người khác trình bày chi tiết về âm mưu của việc phân biệt xem ai trong cộng đồng Ada rộng lớn hơn và trong chính các cộng đồng Songor đã hỗ trợ các công ty trong hoạt động của họ.

Với cuộc cách mạng năm 1982, tất cả điều này trở nên căng thẳng hơn, với ý thức rằng nguồn tài nguyên sẽ được trả lại, nhưng cũng chứng kiến ​​thời điểm mơ hồ khi chính quyền cách mạng ra tuyên bố khuyến khích thành lập các hợp tác xã ở Songor, đồng thời tái – tăng cường nhượng bộ cho các công ty (Songor Salt HTX Commitee, 1989). Khi theo đuổi việc hình thành các hợp tác xã, người dân Ada giờ đây đã có một công cụ để họ có thể khẳng định lại quyền sản xuất muối của mình. Chưa hết, công cụ này tất nhiên là yếu xìu, vì nó phải đối mặt với các cuộc đột kích liên tục của cảnh sát, sự đe dọa, v.v. Chính một trong những cuộc đột kích này đã dẫn đến cái chết của Maggie. Chính trong giữa những phản ánh này, về những gì đã chiếm lại được, nhưng cũng là cái giá khủng khiếp phải trả, đã xuất hiện khái niệm bàn tay không ngón cái. Như Nomo Abayateye đã nói, được trích dẫn ở đầu bài báo, “chúng tôi đã có, chúng tôi có tất cả mọi thứ, nhưng chúng tôi thiếu thứ gì đó, chúng tôi thiếu thứ gì đó để hoàn thành dự định và nguyện vọng của chúng tôi.” Ý tưởng về bàn tay khuyết ngón cái này trở nên quan trọng, vì nó nắm bắt được cách mà việc huy động ở Ada đã thành công trong việc giành lại quyền tiếp cận đầm phá, nhưng vẫn thiếu thứ gì đó để cụ thể hóa nguyện vọng của người dân để đảm bảo quyền tiếp cận này. Sự đồng tình rộng rãi rằng đây là hình ảnh hoàn hảo để mô tả cả thành công và thiếu sót của cuộc đấu tranh trên đầm phá vừa qua. Tuy nhiên, có lẽ được quan tâm nhiều hơn về mặt sư phạm, vấn đề thiếu người lãnh đạo đã gây ra một cuộc tranh luận mở màn cho các phân tích phê bình. Đầu tiên, cuộc thảo luận tập trung vào việc liệu thiếu người lãnh đạo có phải do quản lý tài nguyên kém bởi những người đã giành được quyền kiểm soát vào những thời điểm cụ thể trong những năm 1980 hay không. Sau đó, một cuộc thảo luận nổi lên, được gợi ra bởi đài phát thanh Ada và thành viên phong trào Kofi Larweh, người đã nói:

Khi chúng ta có cơ hội quản lý tài nguyên, ban quản lý có phải là phụ nữ không? Và, vì khả năng đặc biệt của phụ nữ được chấp thuận thêm, hay, việc quản lý thời gian được tạo nên bởi đàn ông, đến nỗi ngón tay cái bị khuyết có thể ám chỉ đến vai trò quản lý của phụ nữ vào thời điểm mà chúng ta tiếp quản?

Do đó, việc không có khả năng sử dụng tốt nguồn lực có liên quan đến sự phê bình của Manuh (1994) rằng tổ chức trước đây về phong trào đã cung cấp rất ít chỗ cho sự lãnh đạo của phụ nữ. Các cuộc tranh luận cũng diễn ra liên quan đến việc ai đã loại bỏ ngón tay cái: nó bị loại bỏ do xung đột nội bộ hay do các mối đe dọa bên ngoài? Sau khi phản ánh, nhiều câu trả lời đã được tìm thấy cho những câu hỏi khác nhau này. Quan trọng là, nhiều câu trả lời đã kích động những hành động trên nền tảng đã được học trực tiếp từ quá khứ. Điều phù hợp nhất trong số này là đảm bảo phụ nữ không chỉ đóng vai trò chủ đạo trong phong trào, mà còn trong việc kết nối cuộc đấu tranh.

Con chó

“Nhìn lại phía sau chúng tôi, có Chính phủ theo đuổi Người Okor của chúng tôi. Tôi nhắc lại, quay lại và nhìn về phía sau Người dân Dangme, Chính phủ đang bắt kịp chúng tôi […] Họ nói với các Trưởng lão của chúng tôi, họ sẽ tiếp quản Songor, dập tắt xung đột để chúng tôi sống trong hòa bình. Đài phát thanh Ada nghe nói về sự phát triển này, đảm nhận khung phát sóng của họ, điều động chúng tôi; chúng tôi đã tham gia vào các cộng đồng và bắt đầu thông báo cho mọi người; chúng tôi đang truyền bá nó”. – Đoạn trích được dịch từ một bài hát của Akpetiyo, ‘Ca sĩ thánh hóa’ của phong trào.

Akpetiyo là một tiếng nói hàng đầu trong ASAF. Các bài hát bình luận xã hội của cô, giống như bài hát được chú ý hàng đầu, ghi lại bản chất của cuộc đấu tranh hiện tại ở Ada. Cô ấy không có mặt vào ngày đầu tiên của hội thảo hình ảnh. Tuy nhiên, khi cô ấy tham gia vào ngày hôm sau, cô ấy đã ngay lập tức kết nối với biểu tượng của con chó. Cô ấy mô tả đầm phá theo cách tương tự, gọi muối từ đầm phá, là “Loại muối ghê tởm”:

Tôi và gia đình không còn làm muối vì chúng tôi coi muối hiện tại từ đầm phá của chúng tôi là ghê tởm. Trước đây chúng tôi không sử dụng phương pháp Atsiakpo này để làm muối. Tôi lớn lên để chứng kiến đầm phá Songor miễn phí cho tất cả mọi người. Nó là nguồn sinh kế chính của các bà mẹ và cũng là nguồn thu nhập của họ. Ngày nay, người ta đang thực hiện ban-căng hóa trên đầm Songor và bán chúng.

Phân tích này của Akpetiyo là rất quan trọng trong việc tạo cơ sở cho cuộc đấu tranh hiện tại trong bối cảnh sinh kế đang được cộng đồng xung quanh Songor và phụ nữ nói riêng quan tâm. Một phần do cuộc trò chuyện thiếu tính dẫn dắt được mô tả ở trên, khái niệm về con chó được coi là đương nhiên và cuối cùng bị ngược đãi đã được phụ nữ Songor áp dụng cho chính họ, chứ không chỉ ở đầm phá. Đây là một liên kết quan trọng, vì nó nổi lên giữa các cuộc thảo luận về lịch sử đấu tranh xoay quanh nguồn tài nguyên, lao động của phụ nữ luôn dành hết tâm huyết cho nghề làm muối, nhưng ý kiến của họ không bao giờ được tôn trọng khi các quyết định được đưa ra về đầm phá. Một bài học quan trọng đã xuất hiện trong cuộc đấu tranh lặp đi lặp lại này là phụ nữ phải đóng vai trò lãnh đạo trong phong trào Songor.

Sự kết hợp của hình ảnh này, cũng như ý tưởng về ngón tay cái bị khuyết được các nhà hoạt động nam lớn tuổi nói rõ, cũng như phân tích có cơ sở của phụ nữ đã làm cho kết luận này trở nên rõ ràng. Akpetiyo là một ví dụ điển hình cho sự lãnh đạo này, vì giọng hát của cô ấy và các bài hát của cô đã nổi lên như một công cụ giáo dục phổ biến quan trọng của phong trào này. Đối với cô, chính sự ban-căng hóa atsiakpo của tài nguyên là ví dụ chính cho việc coi thường đầm phá và sinh kế phụ thuộc vào nó. Suy nghĩ của cô về điều này cung cấp một cầu nối đến biểu tượng cuối cùng, biểu tượng của tắc kè hoa:

Một số học viên Atsiakpo đang ngồi giữa chúng tôi. Chúng tôi đều là những người gây ồn ào chống lại Atsiakpo. Nếu chúng tôi thực sự muốn thay đổi, điều đó phải bắt đầu từ chúng tôi… bởi vì chúng tôi cần đoàn kết và chiến đấu vì Songor.

Tuyên bố này phản ánh không gian đối thoại và học tập tại trung tâm của ASAF, nơi đối thoại thường bao gồm cả việc kêu gọi mọi người giải quyết những mâu thuẫn của họ, đồng thời đưa ra con đường dẫn đến hành động tập thể. Không ngại gọi như những gì cô ấy thấy, cô ấy minh họa việc có một “ngón tay cái” như cô ấy có thể đã thay đổi quá trình đấu tranh lặp đi lặp lại cuối cùng, ngay cả khi cô ấy sáng tác các bài hát trong cuộc chiến hiện tại để chỉ ra sự thay đổi màu sắc trùng lặp của mọi người.

Tắc kè hoa

Biểu tượng cuối cùng đến từ nhóm chủ yếu là nam thanh niên, mặc dù nó được tự mô tả là nhóm thanh niên (cả nam và nữ). Ít hiểu biết về lịch sử đấu tranh hơn nhiều so với cả đàn ông và phụ nữ lớn tuổi, trọng tâm của thanh niên là tình hình hiện tại – atsiakpo. Chính sự phản bội nội bộ của những người ở vị trí lãnh đạo, nói một đằng làm một nẻo, đã thể hiện lên rõ ràng nhất trong phân tích của họ. Như có thể thu thập được từ phần trích dẫn mở đầu ở phần đầu của bài viết này, có một sự hiểu biết chung rằng nhiều cơ quan có thẩm quyền truyền thống – những người có quyền cấp quyền sử dụng đất – đang trực tiếp tham gia vào quá trình atsiakpo. Nomo Abayateye đã xác nhận điều này, nói rằng “những gì thanh niên nói rất hiệu quả, nó ảnh hưởng [và chạm đến] các thủ lĩnh.” Ông còn đi xa hơn để liên kết tầm quan trọng của việc tuyên bố công khai hành vi của tắc kè hoa này là yếu tố quan trọng để chấm dứt atsiakpo, cũng như xây dựng một mặt trận thống nhất mạnh mẽ để làm suy yếu bất kỳ nỗ lực nào của chính quyền trung ương nhằm chiếm đoạt tài nguyên:

Bộ phim truyền hình [radio], đang diễn ra, cho thấy rằng một người đứng đầu đang đưa tiền cho ai đó để làm Atsiakpo cho anh ta. Và, cũng chính cảnh sát trưởng, trong bộ phim, được yêu cầu phân xử một vụ án mà người mà anh ta tài trợ bị bắt quả tang đang xây dựng Atsiakpo, và cảnh sát trưởng phạt thủ phạm, và cảnh sát trưởng đưa tiền cho thủ phạm đến và trả tiền tại tòa án của riêng mình, đó là trong bộ phim. Đó là sự thật, đó là chính xác những gì đang xảy ra.

Sự cuồng tín này của một vị linh mục truyền thống chủ chốt là rất quan trọng trong việc hợp pháp hóa các phân tích phê bình về phong trào, đặc biệt là thế hệ trẻ của nó. Quan trọng như nó là bắt nguồn từ những tuyên bố của phụ nữ về cuộc đấu tranh này, tiếng nói và nghị lực của tuổi trẻ là yếu tố quyết định sự thành công của phong trào này. Điều vô cùng quan trọng, nếu cũng gây thất vọng, là các diễn đàn thảo luận cộng đồng sau hội thảo này xung quanh vấn đề atsiakpo và mối đe dọa di dời của chính phủ đã xác nhận cả khả năng ứng dụng của hình ảnh tắc kè hoa và những câu chuyện về sự tham gia của giới tinh hoa vào hiện tượng astiakpo.

Phong trào học tập thông qua đấu tranh

Dựa trên việc chọn lọc lại ý tưởng học tập trong đấu tranh của Foley (1999) của Langdon (2009), để bao gồm cách học tập xuất hiện trong một thời gian dài hoạt động xã hội, ba câu chuyện phản ánh các hình thức học tập phản xạ khác nhau được lồng vào các câu chuyện địa phương, hình ảnh và kiến thức/nhận thức. Vào tháng 8 năm 2013, hai năm sau những hình ảnh này lần đầu tiên được mô tả, một buổi học về phong trào trong ba năm qua đã được tổ chức. Mặc dù nhiều khía cạnh của việc học đã được ghi nhận, bao gồm cả việc phụ nữ giờ đây tự mô tả mình là “những con sói, bảo vệ tài nguyên” chứ không phải là những con chó – một dấu hiệu cho thấy hoạt động tích cực của họ đã trở thành trọng tâm trong nỗ lực như thế nào – lời mô tả gây ấn tượng nhất về việc học của Isaac, một thành viên hàng đầu của Radio Ada. “Chúng tôi đã học cách thay đổi,” anh lưu ý. Những người khác tham gia nói rằng phong trào đã học hỏi được trên những bước tiến, đang thử các chiến lược khác nhau và sẽ tiếp tục nếu chúng không hiệu quả. Ví dụ, hy vọng rằng nỗ lực hồi sinh Hợp tác xã muối sẽ giúp lan rộng phong trào là bị đình trệ bởi một vài lịch sử không rõ ràng của ban lãnh đạo trước đây của hợp tác xã, như được trình bày rõ ràng trong vị trí chủ chốt này. Do đó, ASAF đã chuyển trọng tâm, ngay cả khi cốt lõi của người phụ nữ xuất hiện để bỏ lại vấn đề này phía sau – tổ chức các cuộc biểu tình thành công, cũng như các công cụ giáo dục phổ biến tiếp tục đưa ra câu hỏi căn bản về sự phát triển quy mô lớn của nguồn tài nguyên cho nhu cầu của ngành công nghiệp dầu mỏ hoặc nhu cầu của giới tinh hoa địa phương.

Tiếng nói của Akpetiyo và phân tích của phụ nữ về các vấn đề ở Songor đã là kim chỉ nam nhất quán thông qua các chiến lược khác nhau – một lý do rõ ràng tại sao không chỉ các thành viên phong trào, mà ngay cả những thanh niên trong cộng đồng tham gia vào các quy trình atsiakpo giờ đây cũng đang xem xét tầm nhìn của phụ nữ về sự thay đổi là điều cần phải tuân thủ, mặc dù điều đó là khó khăn đối với cá nhân họ. Điểm cuối cùng này được đưa ra ánh sáng khi phiên bản phát sóng Dangme của “Lịch sử đấu tranh của người dân ở Songor” được đánh giá cao trong cộng đồng Toflokpo – một trong những cộng đồng mâu thuẫn nhất về atsiakpo khi nghiên cứu bắt đầu. Thay vì bảo vệ tập tục này, như họ đã từng làm trong quá khứ, một số thanh niên trong thị trấn đã công khai nói rằng cần phải chấm dứt astiakpo, và ám chỉ bản thân trong quá trình luyện tập. Họ chỉ vào những người phụ nữ được tập hợp và giải thích rằng họ đã hiểu được sự tàn phá mà quá trình ban-căng hóa này đang gây ra đối với cấu trúc gia đình. Có lẽ sự thay đổi này thể hiện rõ nhất ý nghĩa của việc những người phụ nữ trong phong trào đã từ coi mình như chó sang sói, để bảo vệ Songor.

Tần suất và học tập trong đấu tranh – một kết luận mở

Còn nhiều điều để viết về cuộc đấu tranh này, nhưng vẫn có những chỉ dẫn rõ ràng về những cách thức mà việc học tập trong quá trình đấu tranh ở trung tâm của phong trào này đang tạo ra một tác động. Như Foley (1999) lưu ý, tác động này có thể thường xuất hiện theo những cách phức tạp và mơ hồ. Bối cảnh này cũng không khác, vì sự xuất hiện của vai trò lãnh đạo của phụ nữ đã tạo ra tác động to lớn, nơi những người phụ nữ làm nghề muối đã dẫn đầu các cuộc biểu tình, tạo ra một tấm thảm giáo dục phổ biến về mối quan hệ Ada với và đấu tranh với Songor theo thời gian, và cũng xây dựng các cầu nối với các yếu tố cảm thông trong sự lãnh đạo truyền thống của cộng đồng để khôi phục Songor trở thành trung tâm đạo đức của Adas – nhìn thấy nhiều khía cạnh thuộc tầm quan trọng của nó (tâm linh, lịch sử, xây dựng cộng đồng, v.v.) hơn là chỉ tìm kiếm tiềm năng cho thuê của nó. Khi làm như vậy, họ có ý thức những khái niệm thách thức về quyền được ủy thác không bao gồm sự tham vấn và tính minh bạch. Đây cũng là những chủ đề của bộ phim truyền hình Okor Nge Kor Radio Ada mà Nomo Abayateye đề cập ở trên – một bộ phim sử dụng hình thức chính kịch để thảo luận công khai về tham nhũng, hành vi giống tắc kè hoa của các nhân vật có thẩm quyền và tiềm năng lãnh đạo của phụ nữ trong việc gây bất ổn một số trong những việc luyện tập này. Với sự thành công của chương trình này, cũng như khả năng chung của Radio Ada trong việc trở thành kênh dẫn giải các vấn đề của cộng đồng như những người ở Songor, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các quyết định, và ít được hỏi ý kiến ​​nhất, có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi đài phát thanh cộng đồng ở Ghana chịu rất nhiều áp lực từ các thế lực mạnh trong cả chính phủ và lĩnh vực phát thanh thương mại. Đây là mặt không rõ ràng của học tập trong đấu tranh. Như Kofi đã nói, “thành công của chúng tôi là thách thức lớn nhất của chúng tôi.” Tuy nhiên, như Foley (1999, trang 134) lưu ý:

Chúng ta cần nhận ra tính chất phức tạp, mơ hồ và mâu thuẫn của các phong trào và cuộc đấu tranh cụ thể. Phân tích những sự phức tạp này cung cấp một cơ sở cần thiết cho các chiến lược trong tương lai.

Chính những phân tích phản ánh lẫn nhau liên tục của những phức tạp trên và những quan điểm tập thể và có nguồn gốc nhận thức của các phân tích đang góp phần vào khả năng của phong trào này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc cộng đồng tiếp tục tiếp cận tài nguyên này. Hy vọng rằng kết quả là, lần này, ASAF đã học được chân lý của câu tục ngữ rằng “Trừ khi ngón tay cái giúp đỡ bốn ngón tay còn lại, chúng không thể cầm bất cứ thứ gì tốt.”

Tài liệu tham khảo

Ada Songor Salt Cooperative (2013). Ada Songor salt cooperative advocacy research report (Draft). BUSAC, Ghana.

Affam, M. and Asamoah, D.N. (2011). Economic Potential of Salt Mining in Ghana Towards the Oil Find. Research Journal of Environmental and Earth Sciences, 3(5), 448-456.

Amate, C.O.C, (1999). The making of Ada. Accra: Woeli Publishing Services.

Choudry, A., & Kapoor, D. (2010). Learning from the ground up: global perspectives on social movements and knowledge production. In A. Choudry, & D. Kapoor (Eds.), Learning from the ground up: global perspectives on social movements and knowledge production. NY: Palgrave Macmillan, 1-13.

English, L.M., & Mayo, P. (2012). Learning with adults: A critical pedagogical introduction. Rotterdam: Sense Publishers.

Foley, G. (1999). Learning in social action. London: Zed Books.

Fals-Borda, O. (2006). The North-South convergence: a 30 year personal assessment of PAR. Action Research, 4(3), 351–358.

Hall, B. L. (2005). In from the cold? Reflections on participatory research from 1970-2005. Convergence, 38 (1), 5-24.

Hall, B. L., & Turray, T. (2006). A review of the state of the field of adult learning: social movement learning Ottawa: Canadian Council of Learning.

Holst, J. D. (2002). Social Movements, Civil Society, and Radical Adult Education. London: Bergin & Garvey.

Kapoor, D. (2008). Subaltern social movement learning and the decolonization of space in India. International Education, 37(1), 10-41. Langdon, J. (2009). Learning to sleep without perching: reflections of activisteducators on learning in Ghanaian social movements. McGill Journal of Education. 44(1), 79-105.

Langdon, J. (2011). Democracy re-examined: Ghanaian social movement learning and the re-articulation of learning in struggle. Studies in the Education of Adults. 43(2), 147-163.

Langdon, J. (2012). Moving with the movement: collaborative building of social movement learning participatory action research (PAR) spaces in Ada, Ghana. In S. Brigham (Ed.), 2012 Canadian Association for the Study of Adult Education Conference Proceedings, 216-222. Langdon, J. & Larweh, K. (2013). Seeing the synergy in the signals: reflections on weaving projects into social movement mobilizing through community radio. Paper presented at American Education Research Association, San Fransisco, California, USA.

Langdon, J., Quarmyne, W., Larweh, K. & Cameron, S. (2013). Community Radio and Social Activism: a case study of the tension between neutrality and activism in Ada, Ghana. Paper presented at Canadian Communication Association, Victoria, BC, Canada.

Mamdani, M. (1996). Citizen and Subject: Contemporary Africa and the Legacy of Late Colonialism. Princeton: N.J.: Princeton University Press.

Manuh, T, (1994). Survival in rural Africa: the salt co-operatives in Ada district, Ghana. In D.R.F. Taylor and F. Mackenzie (eds), Development from within: survival in rural Africa. New York: Routledge.

Mignolo, W. (2000). Local Histories/Global Designs: Coloniality, Subaltern Knowledges and Border Thinking. New Jersey: Princeton UP.

Songor Salt Cooperative Committee (1989). Who Killed Maggie? Accra: Songor salt cooperative committee.

Walter, P. (2007). Adult Learning in New Social Movements: Environmental Protest and the Struggle for the Clayoquot Sound Rainforest. Adult Education Quarterly, 57(3), 248-263.

Walters, S. (2005). Social movements, class, and adult education. New Directions for Adult & Continuing Education, (106), 53-62.

Thông tin về tác giả:

Jonathan Landon là một trợ lý giáo sư trong Chương trình nghiên cứu Phát triển tại Đại học St Francis Xavier, Canada

Kofi Larweh là quản lý đài của Radio Ada, Ghana và huấn luyện viên chính cho Mạng lưới phát thanh cộng đồng Ghana Sheena Cameron là điều phối viên Hỗ trợ Cộng đồng tại Đại học St Francis Xavier, Canada và Điều phối viên của Liên minh Giảm nghèo Antigonish

Nguồn: Interface Journal

Dịch: Vũ Phương Thảo