Tóm tắt

Bản đồ phê phán là một phương pháp luận và sư phạm bắt nguồn từ tiền đề rằng bản đồ là hiện thân của quyền lực. Nó ủng hộ những khả năng không tưởng đối với những thực hành lập bản đồ khác, cung cấp các công cụ cho các cộng đồng để minh họa về mặt không gian cho các cuộc đấu tranh của họ trong khi tái thiết các mối quan hệ xã hội thông qua sản xuất tri thức tập thể. Trong khi các nhà lập bản đồ phê phán hướng tới các sáng kiến ​​của các nhà hoạt động, phần lớn tài liệu tập trung chủ yếu vào lý thuyết và tập trung vào các thực hành thay thế, không khám phá được giá trị sư phạm và biến đổi của chúng. Hơn nữa, những nền văn học thực hành nghiên cứu có xu hướng tập trung vào “lập bản đồ đối lập”, ví dụ cho phép các cộng đồng bản địa đưa ra các yêu cầu về tài nguyên. Những thực hành như vậy chắc chắn có những ứng dụng tiên tiến nhưng cũng bị chỉ trích vì đã đầu tư vào âm mưu không gian chi phối và duy trì sự loại trừ và phân cấp. Bài báo này lập luận cho một thực hành về bản đồ quan trọng dựa trên đặc tính vô chính phủ là chống – thay vì – phản bá quyền, rút ​​ra những quan niệm về giáo dục bản đồ học như sức ảnh hưởng, mối quan hệ và khả năng hoạt động. Hơn nữa còn lập luận rằng những thực hành như vậy đã tồn tại và cần được mở rộng. Sử dụng phương pháp dân tộc học của David Graeber về ‘phép ngoại suy không tưởng’, bài báo sẽ dựa trên tài liệu được tìm thấy trong “kho lưu trữ bản đồ” của cửa hàng thông tin 56a ở London để bắt đầu truyền cảm hứng và tưởng tượng về một giáo dục bản đồ vô chính phủ.

Từ khóa: Chủ nghĩa vô trị, bản đồ học, lập bản đồ, giáo dục, Infoshops,  kho lưu trữ gốc, London.

Giới thiệu

Bản đồ phê phán như một phương pháp luận, và các phương pháp sư phạm liên quan đến các thực hành lập bản đồ thay thế, ngày càng trở nên nổi bật trong hai thập kỷ qua, đặc biệt là trong văn học địa lý nhân văn, nhưng cũng giao thoa với một loạt các lĩnh vực bao gồm giáo dục (Kitchens 2009; Ruitenberg 2007) và lý thuyết nghệ thuật (Cosgrove 2006; kanarinka 2006). Bài báo liên ngành này nhằm mục đích khám phá tiềm năng sử dụng bản đồ học phê phán như một phương pháp sư phạm có sự tham gia để làm việc với các nhóm vô chính phủ và các phong trào xã hội tự trị, được định nghĩa là các nhóm tổ chức phản khoa học, độc lập với các đảng phái chính trị và công đoàn truyền thống, đồng thời tự quản và hướng tới sự biến đổi của cuộc sống hàng ngày, thay vì kêu gọi cải cách từ bên trên (Katsiaficas 2007, 7-8; Counter Cartographies Collective, Dalton và Mason-Deese 2012, 444). Họ hoạt động trong và thông qua các không gian không tưởng như các cuộc biểu tình hành động trực tiếp, các địa điểm biểu tình bị chiếm đóng, các trung tâm xã hội tự trị và các tòa nhà bị chiếm hữu không. Các ví dụ bao gồm phong trào toàn cầu hóa thay đổi, phong trào xã hội đô thị trên khắp châu Mỹ Latinh và phong trào Chiếm đoạt, tất cả đều dựa trên những ý tưởng đa dạng về chủ nghĩa vô chính phủ và quyền tự trị (sđd, 444) cũng như các địa điểm và không gian được bản địa hóa hơn tuân theo các đạo đức này, chẳng hạn như trung tâm xã hội tập trung 195 Mare Street ở Hackney1. Các nhóm như vậy đã đặt ra các vấn đề cho các phương pháp luận và phương pháp có xu hướng phục hồi và thuộc địa hóa tiềm năng triệt để và những điểm khác biệt còn nhiều sai sót của họ bằng cách giảm các hoạt động xuống các điều khoản của các diễn ngôn và cấu trúc hiện có (Bevington và Dixon 2005; Motta 2011; Firth 2013). Các phương pháp lập bản đồ vô chính phủ cũng có thể được sử dụng để truyền cảm hứng cho các không gian giáo dục không phân cấp, không theo chủ nghĩa chuẩn mực trong các tổ chức hiện có chẳng hạn như các trường cấp cơ sở và đại học.

Bài báo lập luận rằng bản đồ học phê phán, với tư cách là một phương pháp luận có cả khía cạnh giáo dục và khía cạnh hoạt động không tưởng, có mối quan hệ đặc biệt với lý thuyết và tổ chức vô chính phủ. Câu hỏi căn bản đặt ra cho bài báo là: Bản đồ học (như một quá trình sư phạm) có gì để cung cấp cho chủ nghĩa vô chính phủ (như một phong trào)? Điều này có thể được tách thành những câu hỏi nhỏ sau đây: bản đồ của một kẻ vô chính phủ, chống bá quyền có thể trông như thế nào? Làm thế nào chúng ta có thể nghiên cứu điều này? Làm thế nào chúng ta có thể sử dụng nó để tạo ra sự thay đổi xã hội? Mục đích là phê bình và xây dựng dựa trên các lý thuyết và thực tiễn hiện có để phát triển bản đồ phê phán vô chính phủ như một phương pháp luận và phương pháp truyền thống.

Bài báo bắt đầu bằng một đánh giá ngắn gọn về nghiên cứu hiện có sử dụng phương pháp luận vẽ bản đồ có sự tham gia, được phê bình và phát triển từ quan điểm của lý thuyết vô chính phủ. Bài báo tiếp tục phác thảo một phương pháp tiếp cận để nghiên cứu các phương pháp lập bản đồ vô chính phủ hiện có dựa trên quy trình ‘ngoại suy không tưởng’ của David Graeber và một khung lý thuyết được lấy cảm hứng từ các khái niệm theo chủ nghĩa vô chính phủ và hậu cấu trúc về ‘ảnh hưởng’, ‘mối quan hệ’ và ‘tính biểu diễn’. Sau đó, bài báo xem xét các khả năng ứng dụng và phương pháp, thực hiện một bài tập về phép ngoại suy không tưởng, lấy cảm hứng từ các bản đồ trong kho lưu trữ bản đồ tại cửa hàng thông tin 56a ở London, để đưa ra một số gợi ý cho các phương pháp sư phạm thực tế lấy cảm hứng từ nhưng vi phạm các phương pháp lập bản đồ vô chính phủ hiện có. Việc lập bản đồ là một phương pháp sư phạm tiềm năng hữu ích vì nó có thể tạo điều kiện cho người học hiểu, về mặt không gian, cách các tuyên bố quyền lực có thể được khẳng định là chân lý và những tác động mà điều này có đối với cuộc sống hàng ngày, cũng như trao quyền cho họ để minh họa không gian các cuộc đấu tranh của chính họ và những mong muốn. Hơn nữa, quá trình tạo bản đồ có thể ít nhất cũng quan trọng như các bản đồ được sản xuất, xây dựng tính tập thể giữa những người tham gia (Counter Cartographies Collective, Dalton và Mason-Deese 2012, 441-44). Mục đích của bài báo này là bắt đầu từ tài khoản của các thực hành lập bản đồ tự phát xảy ra trong một không gian vô chính phủ cục bộ, đối thoại với lý thuyết hiện có và dựa trên sự giải thích này để cung cấp các gợi ý thực tế cho những người muốn thiết lập các không gian lập bản đồ không tưởng mới như một phần của một nghiên cứu hoặc giáo dục kiểu praxis.

Bản đồ phê phán

Bản đồ phê phán là một phương pháp luận được phát triển lên ở điểm giao nhau của lý thuyết phê bình và địa lý nhân văn, bắt nguồn từ việc phê phán tình trạng khoa học được cho là của ngành bản đồ học và tính trung lập về giá trị của bản đồ và thực tiễn xây dựng bản đồ. Là một phương pháp luận, nó bao gồm phê bình tiêu cực và một phương pháp tích cực, không tưởng, được Crampton và Krygier (2006, 12) định nghĩa là “một trong hai cú huých của thực hành lập bản đồ mới và phê bình lý thuyết”. Định nghĩa này ngụ ý mối quan hệ với cả chủ nghĩa vô chính phủ và nhận thức luận, trong chừng mực các khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của phê bình và thay đổi là bổ sung lẫn nhau và cần thiết: ‘nếu bản đồ là một tập hợp cụ thể của các tuyên bố về quyền lực, thì không chỉ nhà nước mà những người khác có thể cạnh tranh và những tuyên bố mạnh mẽ ngang nhau ‘(sđd, 12). Thay vì tham gia vào lĩnh vực học thuật của bản đồ học để tìm kiếm các bản mô tả chân thực, thực tế hoặc tỉ mỉ hơn bao giờ hết về thực tế đã có từ trước, ‘bản đồ phê phán giả định rằng bản đồ tạo ra hiện thực nhiều như việc chúng thể hiện điều đó’ (ibid, 15). Hơn nữa, bản đồ phê phán không chỉ chú ý đến việc lập bản đồ như chính chúng, mà còn các thực tiễn và quy trình tổng hợp mà chúng được tạo ra: ‘một số bản đồ, do thiết kế của chúng, ngăn cản sự trao quyền vì những vết xóa, sự im lặng và khoảng trống vốn có trong thiết kế đó’ (Eades 2011), trong khi ‘việc hình thành khái niệm bản đồ này đòi hỏi một nhận thức luận tập trung vào cách bản đồ xuất hiện’ (Kitchin, Perkins và Dodge 2009, 21).

Do đó, bản đồ phê phán đã vượt qua ‘kiến thức tổng quát’ của bản đồ học truyền thống, bao gồm ‘việc kiểm tra cách một chủ đề nên tiến hành trong khuôn khổ của chính nó, nơi các giả định bản thể học về cách thế giới có thể được biết đến và đo lường được một cách an toàn không thể nghi ngờ’ (sđd, 11). Điều này có nhiều điểm chung với các phương pháp tiếp cận địa lý xã hội và con người nói chung, tuy nhiên trong bản đồ phê phán, các bài kiểm tra này không chỉ tiến hành trên bình diện lý thuyết mà còn trong lĩnh vực thực dụng: ‘Lập bản đồ sau đó có thể được khái niệm hóa như một bộ thực hành văn hóa liên quan đến hành động và ảnh hưởng đến ‘(sđd, 17). Do đó, bản đồ phê phán cung cấp các lựa chọn thay thế cho các thực hành trừu tượng và xa rời của kiến ​​thức địa lý thống trị thông qua quan điểm của kinh nghiệm được thể hiện: ‘Các bản đồ không biểu hiện theo cách giống nhau cho tất cả các cá nhân. Thay vào đó, chúng biểu hiện trong định nghĩa bối cảnh và thông qua sự kết hợp của các thực hành sáng tạo, đích xác và thói quen ‘(ibid, 21). Điều này giả định có nhiều quan điểm hợp lệ và kiến ​​thức đơn lẻ, và do đó có khả năng là một cách tiếp cận không tiên phong đối với sản xuất tri thức và thay đổi xã hội, bao hàm sự cộng hưởng mạnh mẽ với chủ nghĩa vô chính phủ.

Mặc dù nhấn mạnh vào các phương pháp biểu đồ học luân phiên, phần lớn tài liệu (ví dụ: Crampton 2001 và 2010; Harley 1989; Pickles 2004; Wood 1992) chủ yếu dựa trên phê bình lý thuyết và dựa trên các thực hành luân phiên hoặc hướng dẫn thực hành. Các giải trình lý thuyết nêu bật lý do tại sao điều quan trọng là phải cạnh tranh các phương pháp lập bản đồ chi phối. Các bản đồ đánh dấu quyền sở hữu và kiểm soát đất đai, tài nguyên và hàng hóa (Pickles 2004, 7) ghi rõ ranh giới, danh tính và các chủ thể (ibid, 12; Piper 2002), chúng góp phần hình thành ý thức hệ của các cộng đồng và rất không được chấp nhận ở thuộc địa dự án và sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản (Pickles 2004, 13; Huggan 1991).

Trong khi các nền văn học về bản đồ phê phán nặng về lý thuyết, một bộ sưu tập nhỏ các nền văn học kể lại các thực hành luân phiên cũng đã xuất hiện, trong đó nổi bật nhất là một loạt các nghiên cứu hành động có sự tham gia được gọi là ‘lập bản đồ đối lập’ (ví dụ: Peluso 1995; Bennagen và Royo (eds). ) 2000; Harris và Hazen 2006; Denniston 1994; Briosius, Tsing và Zerner (eds.) 2005; Sletto 2009). Lập bản đồ đối lập đã nổi lên như một phương pháp tiếp cận có sự tham gia vào quy hoạch, phát triển và bảo tồn quốc tế, đặc biệt là ở miền Nam Toàn cầu, và được cho là có tiềm năng cấp tiến cho các nhóm cấp dưới và bị thiệt thòi. Trên thực tế, nó phần lớn được sử dụng bởi các tổ chức phi chính phủ và các nhà nghiên cứu hàn lâm như một phương pháp làm việc với các cộng đồng bản địa để đưa ra các yêu cầu về đất đai và tài nguyên.

Trong khi các thực hành như vậy chắc chắn là không thể thiếu trong việc khẳng định các quyền của người bản xứ và địa phương chống lại sự xâm phạm và bao vây của nhà nước và tư bản, chúng cũng cần được giải quyết về nguy cơ ‘sử dụng các công cụ (kém sắc bén) của bậc thầy để tạo ra sự phức tạp vô hạn của các địa điểm và dân tộc địa phương trên hành tinh trong mạng lưới toàn cầu hai chiều về quyền tài sản và thẩm quyền chính trị ‘(Roucheleau 2005, 327). Lập bản đồ phản đối, giống như các phương pháp lập bản đồ chủ đạo, có thể liên quan đến việc trình bày một biểu diễn duy nhất của ‘tương lai thường khác nhau, được tưởng tượng’ (Sletto 2009, 444). Đây có thể là một hành động chiến lược cần thiết khi cố gắng đưa ra các yêu cầu về quyền hoặc tài nguyên đối với các thực thể có thứ bậc như nhà nước hoặc tổ chức thương mại, nhưng cũng ngụ ý duy trì và hợp pháp hóa các cấu trúc đó, đây là một vấn đề cụ thể khi làm việc và hành động với các nhóm và phong trào vô chính phủ. Điều này không có nghĩa là thực hành lập bản đồ luân phiên không có chỗ đứng trong các phong trào và nghiên cứu vô chính phủ. Các nhóm theo chủ nghĩa vô chính phủ và các phong trào xã hội đã sử dụng bản đồ làm cách sản xuất và truyền đạt kiến ​​thức, nhưng chúng hiếm khi được tính đến trong học viện (các trường hợp ngoại lệ đáng chú ý bao gồm Cobarrubias và Pickles 2009; Counter Cartographies Collective, Craig Dalton và Liz Mason-Deese 2012; Holmes 2002 và 2003).

Sư phạm bản đồ học theo chủ nghĩa vô chính phủ

Khi cố gắng suy nghĩ về các lựa chọn thay thế theo chủ nghĩa vô chính phủ để lập bản đồ đối lập sẽ rất hữu ích khi xem xét sự phân biệt giữa phản và chống bá quyền. Quyền bá chủ, như được Richard Day khái niệm, đề cập đến ý tưởng rằng thay đổi xã hội chỉ có thể đạt được thông qua cuộc cách mạng quần chúng đồng thời, hoặc thông qua việc tác động đến quyền lực nhà nước thông qua các quá trình hợp tác và xung đột đa nguyên (Ngày 2005, 8). Các chiến lược này – theo chủ nghĩa Marxist và Liberal / postmarxist tương ứng, bao hàm cả hình thức tổ chức và cách tiếp cận sản xuất tri thức dựa trên các giả định về việc thống nhất có cùng tiếng nói hoặc ‘sự thật’ có thể chứng tỏ như hoặc quyền lực, thông qua các đội tiên phong hoặc đại diện. Chống bá quyền đề cập đến các quá trình thay đổi triệt để không tìm cách chiếm đoạt hoặc ảnh hưởng đến quyền lực nhà nước, mà là hành động một cách tự chủ bằng cách tạo ra các lựa chọn thay thế ở hiện tại (Ngày 2005: 8). Một chiến lược cốt lõi của tổ chức chống bá quyền và sản xuất tri thức là thông qua ‘xã hội không tưởng’ (Coté, Day và de Peuter 2007, 5) được khái niệm hóa không phải như các bản thiết kế tổng thể cho một xã hội hoàn hảo trong tương lai, mà là các quá trình tạo ra ‘không gian để biến chuyển – thông qua kháng chiến, hy vọng, và tái thiết ở đây và bây giờ ‘(sđd, 3).

Tạo ra những điều không tưởng luôn là một khía cạnh quan trọng của tổ chức vô chính phủ, đặc biệt là vì nó là một cách tiếp cận có khả năng phi thứ bậc đối với sự thay đổi xã hội mà không dựa vào đội tiên phong hay chính trị quần chúng. Hơn nữa, một khía cạnh không thể bỏ qua của xã hội không tưởng là giá trị sư phạm của chúng – thực hành những cách mới để tồn tại và liên hệ có thể giúp chúng ta ‘mở mang’ các thực hành tri thức chủ yếu. Những điều không tưởng cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về một ‘phương pháp sư phạm khác’ (Burdick và Sandlin 2010: 349) có tác dụng loại bỏ bản chất, phê bình và vi phạm các giả định, tổ chức, diễn ngôn và hơn thế nữa được cho là đã được cấp phép về giáo dục và văn hóa (Sargisson 2000). Các thực nghiệm không tưởng là chống bá quyền bởi vì chúng nhấn mạnh việc học thông qua thực hành và trải nghiệm hiện thân hơn là thông qua lý thuyết trừu tượng và chương trình giảng dạy cố định do ‘chuyên gia’ truyền lại (Ellsworth 2005: 1). Họ tạo ra phương pháp sư phạm ở cấp độ xã hội vi mô, sử dụng các chức năng có thể được hiểu một phần thông qua các khái niệm về sức ảnh hưởng, sự tương đồng và sự biểu hiện.

‘Ảnh hưởng’ như một khía cạnh cốt lõi trong khái niệm của tôi về phương pháp sư phạm bản đồ vô chính phủ được rút ra từ lý thuyết của Deleuzian (Deleuze và Guattari 1988, 265 và passim). Thuật ngữ này đề cập đến cường độ trải nghiệm vượt quá cảm xúc và cảm giác cá nhân, thu hút sự chú ý đến cách thức mà mong muốn xuyên suốt và thay đổi tính đa dạng bao gồm các dân tộc, nhóm và môi trường không gian (de Acosta 2006, 28; Thrift 2004, 60). Những lý thuyết này cho rằng mong muốn nên là trọng tâm cho chuyển đổi sư phạm vì vai trò quan trọng của các yếu tố tình cảm và cảm xúc như nhu cầu, mong muốn, hy vọng và tình yêu trong việc huy động sự thay đổi xã hội chống lại các lý thuyết khoa học và duy lý thuần túy (Routledge 2009, 87; Zembylas 2007). Cách tiếp cận như vậy coi khoảnh khắc sư phạm như trở thành người khác (Kitchens 2009, 224; Motta 2013) thay vì truyền thụ kiến ​​thức cố định trong một bản thể cố định, trau dồi nhận thức về nhiều khía cạnh về các quá trình tha hóa để mở ra nhận thức của chính mình đối với các quan điểm, những tổn thương và sự áp bức của người khác (Boler 1999, 185; Zembylas 2006, 306). ‘Mối quan hệ’ là một thuật ngữ được rút ra từ hành động thực tiễn hóa của các nhà hoạt động, đề cập đến cách liên hệ và tổ chức trong các mối tương quan chung và hỗ trợ lẫn nhau và giáo dục trong khi bác bỏ các thể loại bản sắc bá quyền hoặc bất biến (Day 2005, 181; Routledge 2009, 85).

Bản đồ có tiềm năng kiến tạo, hiển thị, giao tiếp và cung cấp kiến ​​thức địa phương và phi tập trung (Turnbull 2000, 13), nhưng điều này không cần phải là một sự hấp dẫn đối với quyền lực như trường hợp của các phương pháp ‘lập bản đồ đối lập’. Thay vào đó, nó có thể là một cách liên kết nhiều không gian và thực hành thông qua hình thức mạng (Cobarrubias và Pickles 2009, 53) bằng cách sử dụng các mối quan hệ liên kết, mà không đặt ra quyền bá chủ hoặc khả năng tương thích (Goyens 2009, 445). ‘Khả năng thực hiện’ đề cập đến tiềm năng xây dựng hoặc thực hiện các thực tế hoặc hiểu biết mới thông qua hành động, ngôn ngữ hoặc bản đồ thực sự (Deleuze và Guattari 1988, 14). Việc sản xuất và sử dụng bản đồ theo nghĩa chủ đạo đã huy động khả năng hoạt động hơn là kỹ năng nhận thức thuần túy, nhưng có xu hướng che giấu yếu tố này đằng sau những tuyên bố ‘xác thực’ và tình trạng khoa học (Krygier 2006, 41). Phương pháp sư phạm lập bản đồ theo chủ nghĩa vô chính phủ sao chép lại và vi phạm tình trạng được cho là khoa học và thuần túy đại diện của các bản đồ chính thống, trong khi tìm cách gây bất ngờ, khiêu khích và đề xuất các giải pháp thay thế (Crampton 2009, 841). Các bản đồ chống bá quyền là không tưởng theo nghĩa này, chúng không đơn giản phản ánh hoặc đại diện cho thế giới – theo nghĩa thống trị hoặc bằng cách thể hiện một kẻ chống lại bá quyền – mà là đưa các thế giới mới ra đời thông qua quá trình vi phạm và tích cực sáng tạo. Điều này dẫn đến khả năng tưởng tượng bản đồ học phê bình là phương pháp sư phạm trong đó ‘sư phạm là chính trị bằng các phương tiện khác’ (Castree et al. 2008, 682). Hiểu được các khía cạnh hoạt động của thực hành lập bản đồ thay thế liên kết sư phạm với sự thay đổi xã hội: quá trình lập bản đồ có khả năng tái tạo các chủ thể chủ thể thông qua học tập cảm xúc, để tái tạo các liên kết xã hội thông qua mối quan hệ và làm cơ sở để đưa thế giới mới ra đời.

Bản thân bài viết này cũng hy vọng sẽ hoàn thành một chức năng hoạt động không tưởng, sử dụng cách tiếp cận lấy cảm hứng từ ‘phép ngoại suy không tưởng’ của David Graeber. Điều này liên quan đến việc ‘đưa ra logic hoặc các nguyên tắc cơ bản của một số hình thức thực hành triệt để, và sau đó, không chỉ cung cấp phân tích trở lại cho các cộng đồng đó, mà còn sử dụng chúng để hình thành tầm nhìn mới’ (Graeber 2009: 112). Cách tiếp cận tương tự như cách tiếp cận của các nhà văn theo chủ nghĩa vô chính phủ khác như Colin Ward (1973) và trước đó, Kropotkin (1987). Điều này dựa trên giả định rằng nghiên cứu nhân chủng học là hữu ích: thứ nhất, trong việc tạo ra nghiên cứu liên quan đến phong trào, trong khi tránh chủ nghĩa tiên phong trí tuệ (Graeber 2004: 12, Bevington và Dixon 2005; Motta 2011) và thứ hai, trong việc xác định và định giá các thực hành phụ và bị ẩn đi với hy vọng rằng chúng được sử dụng theo những cách mới mẻ và khác biệt.

Hy vọng của tôi vào bài báo này là bằng cách thảo luận, làm rõ và lập lý thuyết các thực hành lập bản đồ vô chính phủ trong một không gian không tưởng, tôi có thể truyền cảm hứng cho những người khác thực hiện các thực hành tương tự, mở ra những không gian không tưởng ở những nơi khác. Vì lý do này, bài báo sử dụng cuộc đối thoại giữa các lý thuyết và thực tiễn hiện có để hình thành một số gợi ý thực tế cho các nhà giáo dục phê bình và các học giả-nhà hoạt động, những người có thể muốn phát triển các hội thảo về bản đồ của riêng họ với các phong trào xã hội hoặc trong các tổ chức hiện có. Sự quan tâm của tôi khi viết bài báo này xuất phát từ mong muốn của bản thân là tạo điều kiện cho các hội thảo về bản đồ học trong các không gian quan trọng khác nhau mà đôi khi tôi tồn tại, bao gồm các trung tâm xã hội cấp tiến, các địa điểm bị chiếm đóng và phản đối, hội nghị học thuật, hội thảo và bài giảng của trường đại học. Khi tìm kiếm nguồn cảm hứng trong tài liệu, tôi nhận thấy thiếu hướng dẫn thực hành, vì vậy tôi đã tìm kiếm các nguồn cảm hứng khác. Điều này đã dẫn tôi đến cửa hàng thông tin 56a, nơi tôi tìm thấy kho lưu trữ bản đồ và các cuộc trò chuyện với các nhà hoạt động là một điểm khởi đầu hiệu quả để phát triển quá trình hiện thực hóa lý thuyết của riêng tôi.

Kho lưu trữ bản đồ 56a

Cửa hàng thông tin 56a nằm trên Phố Crampton, gần ga tàu điện ngầm Elephant và Castle ở Nam London. Đây là một trung tâm xã hội Do-it-Yourself hoạt động trên các nguyên tắc vô chính phủ. Tòa nhà ban đầu được xây dựng vào năm 1988 và được mở thành Hợp tác xã thực phẩm Fareshares, và 56a Infoshop được thành lập ở phòng sau vào tháng 6 năm 1991. Hai nhóm vẫn chia sẻ không gian, hiện được thuê hợp pháp từ năm 2003, với việc hợp tác về thực phẩm chiếm không gian ở phía trước của tòa nhà và cửa hàng thông tin sử dụng một phòng với tiện nghi pha trà và phòng vệ sinh ở phía sau của không gian. Hội thảo chu kỳ được tổ chức bên ngoài trong giờ mở cửa. Infoshop lưu trữ một kho lưu trữ lớn gồm các cuốn sách gốc, những quyển sách nhỏ, áp phích, tạp chí và các tài liệu văn hóa khác. Những điều này phần lớn được rút ra từ truyền thống vô chính phủ nhưng cũng bao gồm phong trào nữ quyền, đa dạng giới, sinh thái học, các soạn thảo của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa tự do.

Bị giấu trên giá dưới cùng trong một góc tối là một chiếc hộp lớn, kiểu cũ chứa đầy bản đồ, được gọi là ‘kho lưu trữ bản đồ’. Kho lưu trữ bản đồ nảy sinh từ lễ hội bản đồ ‘You Are Here but Why?’ Được tổ chức vào tháng 6 năm 2005. Lễ hội là một sự kiện dạng tự do được tổ chức trong và ngoài cửa hàng thông tin điện tử. Một chương trình sự kiện được tổ chức bởi một tập thể lễ hội bản đồ nhỏ với nhiều không gian để người tham gia cũng có thể đóng góp những gì họ muốn xem. Điều này bao gồm việc tổ chức một phòng trưng bày bản đồ ‘phòng bản đồ’, hội thảo lập bản đồ tập thể, cuộc dạo bộ lịch sử cấp tiến, lang thang tập thể, vẽ bản đồ và thảo luận. Trước lễ hội đã có một bộ sưu tập bản đồ vẽ tay nhỏ gọi là ‘Phòng bản đồ (đang mở)’, có kích thước bằng một chiếc ví tài liệu. Những bản đồ này đã trở thành cơ sở của triển lãm bản đồ lễ hội. Sau lễ hội, bất kỳ bản đồ nào được đóng góp từ thời gian diễn ra lễ hội đều được thêm vào kho lưu trữ. Các phiên bản khác của lễ hội bản đồ, được truyền cảm hứng và tổ chức một phần bởi các thành viên 56a đã diễn ra trên toàn thế giới, chẳng hạn như ở Trento, Ý và Sao Paulo, Brazil và các bản đồ từ các sự kiện này cũng được thêm vào kho lưu trữ. Kể từ đó, khách truy cập và thành viên của 56a đã được khuyến khích thêm bản đồ vào kho lưu trữ được tìm thấy hoặc tạo.

Trên đầu hộp lưu trữ bản đồ là một thẻ lớn màu vàng mô tả kho lưu trữ bản đồ, liệt kê một số loại bản đồ mà nó bao gồm, lịch sử của kho lưu trữ bắt đầu với lễ hội và các tín hiệu về cách các bản đồ có thể được sử dụng: ‘Nó có chức năng xây dựng một bộ sưu tập các hướng dẫn khác nhau đến các thị trấn, thành phố và các hòn đảo kho báu mà du khách có thể mang đi miễn phí. Không phải mọi bản đồ đều hữu ích như bản đồ tôpô nhưng bạn có thể có một số cuộc phiêu lưu và cuộc gặp gỡ thú vị từ một số bản đồ của chúng tôi. Kho lưu trữ bản đồ chứa vài trăm, có lẽ lên đến một nghìn, các bản đồ được vẽ tay, in và xuất bản khác nhau, các tập sách có chứa bản đồ, áp phích bản đồ và một số lượng nhỏ sách liên quan đến bản đồ. Một số bản đồ được lưu trữ trong các thư mục với các danh mục sau: ‘Đi bộ’, ‘in sẵn, cá nhân, v.v.’, ‘bản đồ / nghiên cứu căn nguyên’, ‘vị trí tự làm’, ‘bản đồ làm bằng tay (thành phố, v.v.)’, ‘bạn đang ở đây nhưng tại sao? Lễ hội bản đồ Vương quốc Anh, Malia, Brazil, v.v. ‘,’ quy mô lớn và nghệ thuật ‘,’ sơ đồ ” khoa học / vật lý, v.v. ‘, và một vài thư mục’ linh tinh ‘và không có nhãn mác. Khoảng cùng một số lượng bản đồ vẫn còn lỏng lẻo trong hộp, chưa được lưu trữ và chưa được phân loại. Trong cuộc thảo luận với các tình nguyện viên 56a, tôi được biết rằng các danh mục nộp hồ sơ hiện không hữu ích cho lắm, và có kế hoạch sắp xếp lại chúng, cũng như xây dựng một danh mục bản đồ trực tuyến đầy đủ.

Tôi đã tham gia vào các cuộc trò chuyện về nghiên cứu với các tình nguyện viên tại cửa hàng thông tin điện tử, và đặc biệt là với Chris, người đã khởi xướng ngày hội lập bản đồ và duy trì kho lưu trữ. Trong khi các tình nguyện viên bày tỏ sự ủng hộ và giúp đỡ tôi rất nhiều bằng cách cung cấp thông tin vô giá về kho lưu trữ, tôi đã được thông báo rằng kho lưu trữ là một “địa điểm công cộng” và do đó không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân cụ thể nào để cho phép. Ngay cả khi nhận được ‘sự đồng ý’ chính thức từ bất kỳ ai tại infoshop, điều này sẽ gần như vô nghĩa nếu xét đến bản chất và đặc điểm của hoạt động lưu trữ, được tạo ra bởi nhiều người tham gia ẩn danh để truy cập công khai, mà các khái niệm chính thức về quyền sở hữu và kiểm soát cá nhân dường như không để áp dụng. Tuy nhiên, bản chất của kiến ​​thức hàn lâm có nghĩa là bài báo này có thể được phục hồi một phần vào lĩnh vực tư bản. Với tư cách là nhà nghiên cứu, tôi đã được trả tiền cho thời gian của mình trong việc sản xuất bài báo, và kiến ​​thức học thuật thường được sử dụng cho các mục đích kiếm lời và bá quyền.

Tuy nhiên, có một cơ sở đạo đức để truyền đạt các bản đồ theo cách này. Nếu, có vẻ như trường hợp xảy ra từ các tài liệu về kho lưu trữ trên trang web 56a và trong chính kho lưu trữ (sẽ được thảo luận ở phần sau), các bản đồ ít nhất là nhằm mục đích gián đoạn và can thiệp vào bản đồ và chính trị, sau đó đưa chúng đến sự chú ý của nhiều khán giả đồng cảm hơn có thể được chứng minh một phần. Tuy nhiên, khi làm như vậy các thực hành về chủ nghĩa tiên phong trí tuệ cần phải tránh. Thay vì cố gắng thực dân hóa hoặc khách quan hóa những thực hành này, người ta có thể ‘đưa những ý tưởng đó trở lại, không phải dưới dạng mệnh lệnh, mà là những đóng góp, khả năng – như một món quà’ (Graeber 2004, 12), đồng thời truyền đạt những thực hành này rộng rãi hơn với hy vọng mở ra tạo ra các khả năng cho các không gian không tưởng mới, phi phân tầng (Graeber 2009, 112). Điều này lặp lại các lập luận trong nghiên cứu phong trào xã hội rằng nghiên cứu nên liên quan đến chính các phong trào (Bevington và Dixon 2005; Motta 2011), trong khi Routledge (2003) lập luận rằng nghiên cứu liên quan đến công việc chống lại phần tử khác nên được chia sẻ với những người đó trước khi công khai. Điểm thứ hai này không hoàn toàn có thể thực hiện được vì ‘sự phản kháng’ là không thể theo dõi được, nhưng với tinh thần đoàn kết, tôi đã chọn đăng bài báo trên tạp chí truy cập mở này, với một lượng độc giả dự định bao gồm các học giả và nhà hoạt động cấp tiến, và sẽ đóng góp một bản in vào kho lưu trữ.

Suy nghĩ về cách mô tả hoặc truyền đạt các bản đồ ở đây là một nhiệm vụ khó khăn, vì việc biểu thị chúng dưới dạng kiến thức cố định có phần hơi căng thẳng đối với cách tiếp cận mà tôi muốn thực hiện. Hơn nữa, dành nhiều thời gian với các bản đồ cho tôi cảm giác mạnh mẽ rằng các bản đồ truyền đạt một điều gì đó không thể diễn đạt bằng lời và rằng người ta có thể viết ra giấy trên từng bản đồ riêng lẻ mà vẫn không nắm bắt được đầy đủ bản chất của nó – mỗi bản đồ là một ‘thể loại’ của riêng nó theo nghĩa này. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng đó là một nhiệm vụ đáng giá và không hoàn toàn mâu thuẫn khi xác định các loại bản đồ rời khác nhau về chức năng sư phạm của chúng, để khám phá sâu hơn các loại kiến thức được tạo ra trong bản đồ và các cách chúng có thể huy động việc học và thay đổi . Tôi hy vọng rằng bằng cách viết này, những người khác có thể được truyền cảm hứng để tự mình đi và xem các bản đồ trong 56a, cũng như tạo ra các bản đồ và cách làm việc với bản đồ của riêng họ.

Trong lúc làm việc thông qua các bản đồ trong kho lưu trữ, một số phạm trù chức năng mà tôi đã xác định phản ánh các chủ đề, ý tưởng và khái niệm đã tồn tại trong các nền văn học khác nhau (đôi khi không được tích hợp) về lập bản đồ. Các bản đồ khác dường như có công trong việc tạo ra các phạm trù và khái niệm lập bản đồ mới. Có thể có nhiều phạm trù khác ngoài những phạm trù tôi phác thảo dưới đây, và hầu hết các bản đồ đều trùng lặp và vượt quá phân loại này. Hơn nữa, một số loại bản đồ tồn tại trong kho lưu trữ, đặc biệt là những bản đồ trong thư mục ‘khoa học / vật lý’ và một thư mục khác chưa được đưa vào. Những thứ này hoạt động nhiều hơn như những ví dụ về thực hành lập bản đồ thống trị hơn là những lựa chọn thay thế không tưởng, ví dụ như có nhiều bản đồ địa hình, bản đồ Địa chính và Hiệp hội Ô tô ở nhiều nơi khác nhau. Những lời chỉ trích về những bản đồ như vậy đã tồn tại trong tài liệu, nhưng sự hiện diện của chúng trong bối cảnh này có lẽ có chức năng như một sự phê phán thông qua chủ nghĩa phi lý, làm cho cái quen thuộc có vẻ lạ bằng cách đặt xen kẽ với các bản đồ quá độ, và huy động việc sản xuất kiến ​​thức quan trọng có vị trí. Đối với mỗi danh mục mà tôi xác định dưới đây, tôi mô tả một số ví dụ, báo hiệu cho các nền văn học tương ứng, đồng thời cố gắng giải thích và làm nổi bật các chức năng sư phạm không tưởng về ảnh hưởng, tính tương đồng và tính biểu diễn. Tuy nhiên, các phạm trù này nên được hiểu là mang tính khám phá hơn là xác định; chúng nhằm mục đích mở ra những ý tưởng hiện có về thực hành lập bản đồ để tạo ra sự khác biệt và phê phán thông qua việc minh họa các giải pháp thay thế hơn là sửa chữa hoặc hạn chế các khả năng khác.

Bản đồ địa chính trị

Một số bản đồ nói đến một phạm trù, được Cobarrubias và Pickles (2009, 36) xác định là ‘bản đồ địa chính trị’. Có rất nhiều ví dụ như vậy trong kho lưu trữ, hầu hết trong số đó được tạo ra một cách chuyên nghiệp bởi các nhóm nghiên cứu hoạt động cấp tiến. Một ví dụ, được tạo ra bởi Preemptive Media (2006) có tựa đề ‘Bản đồ nhiên liệu hóa thạch’ hiển thị các tuyến đường cung cấp dầu, than và khí đốt cùng với số liệu thống kê về sản xuất và tiêu thụ, danh sách các quốc gia sản xuất hàng đầu cho từng nguồn tài nguyên, các quốc gia tiêu thụ hàng đầu, các nhà nhập khẩu hàng đầu cho Hoa Kỳ, các nhà phát thải CO2 hàng đầu và các dữ kiện và số liệu khác. Một bản đồ do Bureau d’études và Université Tangente (2003) thực hiện có tên ‘infospace, infowar’ tập trung vào cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu và tính chính phủ của thông tin. Một bản đồ xa hơn với trọng tâm địa phương hơn, nhưng báo hiệu cho những ảnh hưởng và động lực toàn cầu, là bản đồ khuôn viên  ‘Countermapping Queen Mary’, với một trò chơi trên bàn cờ trong thế trận đảo ngược theo dõi chính sách biên giới, điều kiện lao động trong khuôn viên trường và các phong trào kháng chiến. Nó có mục đích là “sự trình bày trực quan về cách thức mà trường đại học hoạt động như một nhà máy tri thức nhưng cũng như một biên giới” (3Cs Counter Cartographies Collective 2013), và rút ra các kết nối giữa các biên giới, các tổ chức và hệ thống quản lý hoạt động trong và xung quanh trường đại học. Ngoài ba ví dụ đáng chú ý này, còn có một số bản đồ khác được xuất bản và được sản xuất chuyên nghiệp chia sẻ các chức năng tương tự như thể hiện và hiển thị các mạng lưới hoặc cấu trúc quyền lực / diễn ngôn, có hoặc không có trật tự không gian.

Những bản đồ như vậy được tạo ra bởi các tập thể bao gồm học giả, nhà hoạt động, sinh viên, người di cư và công nhân (Counter Cartographies Collective, Dalton và MasonDeese 2012, 441-443). Quá trình sản xuất chung các bản đồ này được coi là quan trọng (sđd, 443) nhưng chúng cũng có chức năng rộng hơn là “nỗ lực để hiểu các quá trình toàn cầu và cấu thành quyền lực và đế chế” (Cobarrubias và Pickles 2009, 36; xem thêm Holmes 2006; Holmes 2002). Các bản đồ có thể hiển thị sự áp bức có hệ thống, giúp mọi người hiểu được các lực lượng hình thành cuộc sống của họ, đồng thời cung cấp cơ sở kiến ​​thức cho các hành động phản kháng. Jameson (1991, 54) làm sáng tỏ chức năng sư phạm cảm xúc của mỹ học bản đồ này (mà ông gọi là ‘lập bản đồ nhận thức’), lập luận rằng nó ‘tìm cách cung cấp cho chủ thể cá nhân một số ý thức mới về vị trí của nó trong hệ thống toàn cầu’ (sđd, 54). Chức năng tình cảm, thể hiện này là cơ sở cho một chức năng thực hiện, đồng thời đại diện cho ‘chân lý của chủ nghĩa hậu hiện đại … không gian thế giới của tư bản đa quốc gia’ trong khi cải tạo các chủ thể cá nhân và tập thể phản kháng, những người ‘lấy lại năng lực hành động và đấu tranh ở thời điểm hiện tại đã bị vô hiệu hóa bởi sự hỗn loạn về không gian cũng như xã hội của chúng ta ‘(sđd, 54).

Có một số vấn đề tiềm ẩn được tiết lộ bởi bài diễn thuyết của Jameson về việc đại diện cho sự thật. Nó giả định một tầm nhìn duy nhất và cách giải thích thống nhất về chân lý, điều này có thể hướng phần nào đến sự phản đối hơn là chống bá quyền, và hơn nữa trong giả định rằng việc nêu bật các cấu trúc áp bức có thể tự động dẫn đến thay đổi xã hội. Các cuộc thảo luận tại cửa hàng thông tin điện tử đã đặt ra các vấn đề rằng lượng thông tin tuyệt đối được trình bày trong các bản đồ như vậy, cũng như việc sử dụng công nghệ để tạo ra chúng, có vẻ xa lạ và khó hiểu, và các câu hỏi đã được đặt ra về cách các bản đồ có thể được sử dụng (xem thêm Holmes Năm 2002). Có một nguy cơ là khi các bản đồ được chuyển từ bối cảnh tại đó chúng được tạo ra cho nhiều đối tượng hơn, chức năng sư phạm của chúng có thể chuyển sang chủ nghĩa tiên phong, vì chúng tạo ra ít cơ hội cho những người sử dụng bản đồ tiềm năng để thêm thắt các diễn giải hoặc vi phạm của riêng họ. Tuy nhiên, sự đa dạng tuyệt đối của thông tin được tạo ra bởi các tập thể như Bureau d’études5 có chức năng như một sự vi phạm triệt để các thực hành lập bản đồ thống trị, làm nổi bật các loại trừ và tổng thể trong các bản đồ được cho là đại diện cố định của thực tiễn không gian.

Đi bộ tập thể và những con đường mòn lịch sử căn bản

Tôi không tìm thấy bất kỳ bản đồ nào trong kho lưu trữ phản ánh các tài liệu về lập bản đồ, điều này có lẽ được mong đợi do tính chất của kho lưu trữ, vốn không nằm trong mục đích đưa ra các yêu sách từ các cơ quan quyền lực. Tuy nhiên, một số bản đồ về các khu vực và không gian cụ thể đã tồn tại, trong khi các chức năng dự kiến ​​của chúng đã vi phạm việc đánh dấu lãnh thổ, ranh giới và tài nguyên. Bản đồ Tổ chức Xã hội Tự do Manchester đã xuất bản (McCloskey, Sullivan và Yuill 2008) khám phá tình trạng hiện tại của các không gian lắp ráp tự do và công khai ở Manchester, so sánh các không gian do chính công chúng tạo ra và những không gian được tạo ra cho mục đích công cộng. Bản đồ liên kết các khu vực với những câu chuyện của cư dân địa phương và lịch sử truyền miệng của tầng lớp lao động thu được thông qua các cuộc phỏng vấn. Bản đồ này dường như hoạt động như một sự phản đối chống lại sự tiến bộ hóa, phản đối các diễn ngôn về không gian ‘công cộng’ khép kín, tư nhân hóa và thương mại với các thực hành cơ sở chung (Midnight Notes Collective 1990). Các cuộc trò chuyện trong infoshop nhấn mạnh rằng những bản đồ như vậy không cần phải được xuất bản như bản đồ này và thực sự thường có một chức năng tương tự được phục vụ mà không có bất kỳ bản đồ giấy nào được tạo ra thông qua việc đi bộ tập thể qua các cảnh quan đã diễn ra xung quanh infoshop và những nơi khác. Những cuộc đi bộ này dẫn đến các cuộc trò chuyện và học hỏi lẫn nhau cùng nhau trong lãnh thổ. Các chủ đề thảo luận có thể bao gồm các không gian đã biến mất hoặc có nguy cơ bị mất do tái tạo, lập bản đồ cuộc sống đương đại và cách nó được thông báo bởi những gì đã xảy ra trong quá khứ và những gì có thể xảy ra trong tương lai.

Việc thực hành học tập phản biện thông qua việc đi bộ cũng được phản ánh trong kho lưu trữ thông qua một số lượng lớn các con đường và cuộc đi bộ lịch sử cấp tiến được xuất bản và vẽ tay. Thật vậy, đây có lẽ là danh mục dễ thấy nhất trong kho lưu trữ. Các ví dụ bao gồm bản đồ Đường Luân Đôn và chế độ nô lệ  (Bảo tàng Docklands Luân Đôn 2005), do bảo tàng Docklands sản xuất và đường đi bộ di sản của phụ nữ miền Tây Glasgow. Ngoài ra còn có một loạt bản đồ vẽ tay hoặc in tay bao gồm chữ viết và cắt dán hình ảnh cho thấy lịch sử cơ bản của Camberwell, Southwark, Elephant and Castle và Hammersmith. Mặc dù những bản đồ này là bản gốc được làm bằng tay nhưng chúng rất rõ ràng và chi tiết, được sản xuất như thể để sao chép và phân phối. Những đường mòn lịch sử căn bản này, giống như lập bản đồ đối lập, hiển thị lịch sử bên lề và thế giới quan, nhưng không giống như bản đồ phản bác, chúng không được tạo ra để đưa ra tuyên bố chống lại các cấu trúc quyền lực, mà là nhấn mạnh vào khả năng thực hiện nội tại và phương pháp sư phạm không tưởng. Trong trường hợp này, hơi ngược lại với lập bản đồ địa chính trị, chức năng tình cảm đứng sau chứ không phải đi trước chức năng thực hiện: các bản đồ được tạo ra để theo dõi trong khi người dùng học thông qua trải nghiệm tình cảm trực tiếp trong chính kiến ​​trúc và cảnh quan (Ellsworth 2005) về tiếng nói ngoài lề, vị trí và lịch sử. Cảm xúc tiềm tàng của diễn ngôn và thực hành bản đồ phản ánh mối quan tâm của các Nhà nghiên cứu hiện trường (Pinder 1996), những người yêu cầu chú ý đến các khía cạnh thể hiện của sự tha hóa (Vaneigem 2006, 34) và sự phản kháng đó cũng bắt đầu ở quy mô của sự hiện thân và cuộc sống hàng ngày, thông qua những thực hành chẳng hạn như dérive: tâm lý lang thang một mình hoặc theo nhóm qua môi trường đô thị được coi là quá trình tạo nên sự xa lánh và phản kháng (Debord 1956). Các thành viên của infoshop đã đề cập rõ ràng tầm ảnh hưởng của Situationists như là nguồn cảm hứng cho việc lập bản đồ và thực hành đi bộ.

Bản đồ nghệ thuật

Toàn bộ thư mục được dành riêng cho các bản đồ ‘nghệ thuật’, chủ yếu chứa các hình ảnh không có chữ hoặc nhãn, thường bắt chước các bản đồ truyền thống theo phong cách hài hước hoặc khác thường. Một ví dụ bao gồm một loạt các bức ảnh về đá, gỗ trôi dạt, rong biển và các vật liệu bãi biển khác được đặt trên bãi biển đầy cát trên các đường phố và lối đi, với những cây cầu và tòa nhà. Một bản đồ khác ở trên cho thấy hình ảnh những con phố đan xen nhau ngoằn ngoèo và chồng chéo lên nhau, với những chiếc camera quan sát cỡ lớn mọc lên từ hai bên đường như những cái cây. Những bản đồ này nêu ra những vấn đề trớ trêu, sử dụng các tiêu chí lập bản đồ vô lý hoặc lật đổ, cho thấy sự tùy tiện và thẩm quyền sai lầm của các quy ước lập bản đồ bằng cách huy động các ảnh hưởng như hài hước, hoài cổ và bất hòa. Các bản đồ cũng có thể có một chức năng thực hiện là lật đổ các thói quen thống trị và mở ra các tuyến đường để thử nghiệm các cách nhìn mới. Họ nâng cao nhận thức phản biện và hoạt động như những nhà sư phạm thể hiện tính xây dựng và khả năng kiến ​​tạo của thực tế. Bản đồ nghệ thuật một lần nữa phản ánh các chủ đề trong các nền văn học theo thuyết Situationist, kêu gọi sự kết hợp giữa nghệ thuật, chính trị và cuộc sống trong một ‘dự án về sự sáng tạo được giải phóng’ (Debord 1963), thông qua các kỹ thuật như détournement nhằm lật đổ và bắt chước các đại diện chính thống bằng cách đưa chúng vào các kết hợp mới và các bối cảnh, do đó phát triển chúng để bắt đầu tạo ra các giá trị mới (Jorn 1959).

Bản đồ thực tế và không tưởng nội tại

Đáng chú ý cho sự vắng mặt của họ là những bản đồ không tưởng một cách rõ ràng, hoặc những bản đồ thể hiện những tưởng tượng hướng tới tương lai hoặc những ước muốn mang tính cách mạng ở dạng không gian. Tuy nhiên, có một số ví dụ về bản đồ thể hiện mong muốn không tưởng về việc tạo và / hoặc hiển thị các không gian thay thế. Danh mục này bao gồm một ‘bản đồ thực phẩm địa phương’ được sao chụp bằng tay, hiển thị vị trí của các loài thực vật có thể ăn được trong khu vực địa phương và thời gian chúng có thể được thu thập, địa điểm kiếm ăn, cùng với các địa điểm để xem các loại động vật hoang dã khác nhau. Tương tự, hình trên là bản đồ ‘rừng đô thị’, bản đồ này cũng báo hiệu các không gian của động vật hoang dã và thức ăn để kiếm ăn trong bối cảnh các kế hoạch tái sinh. Một ví dụ khác là một bản đồ vẽ tay dường như từ bộ nhớ của một đoạn sông Thames, hiển thị các cây cầu khác nhau được gắn nhãn: “Cầu tàu Grosvenor”, “Cầu nhai”, “Cầu Albert” và “Cầu Battersea”. Trạm điện Battersea cũng được đánh dấu. Bản đồ đánh dấu các bậc thang và các điểm tiếp cận sông Thames, báo hiệu nơi chúng bị khóa và cũng là nơi chúng được CCTV giám sát.

Một thư mục có tên ‘bản đồ kì dị’ chứa các bản đồ vẽ tay của một số thành phố, được đánh dấu bằng các địa điểm và không gian, tuyên bố ở mặt trước cung cấp ‘kế hoạch tiệc tùng’. Một ví dụ khác là một bản sao của sơ đồ mặt bằng kiến trúc của một tòa nhà lớn, có lẽ được cho là nằm chồm hổm (hoặc được lên kế hoạch) như một trung tâm xã hội, đã được đánh dấu bằng bút đánh dấu và bút bi. Nhiều khu vực khác nhau đã được đánh dấu và gắn nhãn với các chức năng mới, bao gồm quán cà phê; mặt sau của quán cà phê; xưởng kim loại; phòng trưng bày 1, 2 và 3; nhà bếp, quầy bar, thư giãn, cửa hàng thực phẩm và nhiều phòng khác nhau được gắn tên người. Ngoài ra còn có các số trên các khu vực khác nhau của cửa sổ tương ứng với các số trong danh sách ‘công việc bảo mật’ bao gồm sửa cửa sổ, rào lại lưới của cửa sổ, vòi hoa sen vừa vặn và thanh chắn ngang cửa sổ. Trong khi bản đồ này được vẽ quá nhạt và chi tiết để có thể chụp ảnh, một bản đồ tương tự về ‘nhà máy tự động’ đã được chụp ở trên. Một bản đồ là bản in kế hoạch cho địa điểm phản đối Climate Camp 2008.

Chức năng hoạt động của các bản đồ như vậy có thể được xem là phản ánh các chủ đề trong các nền văn học nghiên cứu không tưởng: chúng đồng thời có tính phê phán, truyền cảm hứng và thực tế (Sargisson 2012, 8), và có cả chức năng định hình và chức năng nội tại, tạo ra một tương lai tốt đẹp hơn bằng cách tham gia vào các thực hành của không theo thứ bậc và sự phong phú trong hiện tại (Ngày 2005; Anon 1999; Robinson và Tormey 2009), chẳng hạn bằng cách chống lại đói nghèo, tàn phá và tái tạo sinh thái bằng cách nuôi dưỡng và kiếm ăn động vật hoang dã. Ngoài ra còn có một chức năng sư phạm là tổ chức kiến thức theo đường quan hệ, tạo ra một hệ thống kiến thức di động, có thể truyền đạt từ thực hành kiến thức cá nhân hoặc địa phương (Turnbull 2000, 20). Một cách làm như vậy, đặt giá trị sử dụng lên trước những tuyên bố về sự thật, không chỉ cam kết hiểu biết mà còn thay đổi môi trường không gian (Pinder 1996, 417) bằng cách đưa ra một bản đồ để sử dụng và theo dõi trong không gian, và truyền cảm hứng cho những người khác tạo ra và thay đổi không gian riêng của họ.

Bản đồ tình cảm

Một số bản đồ trong kho lưu trữ có các chức năng nhấn mạnh các khía cạnh mang tính cá nhân cao của việc sản xuất tri thức và có thể được gọi là, theo ‘bản đồ tình cảm’ của Iturroiz và Wachowicz (2010), chỉ định các bản đồ ‘nhận ra và chỉ ra những địa điểm có ý nghĩa chủ quan đối với chúng ta’ (Iturroiz và Wachowicz 2010, 75). Chúng bao gồm một bản đồ có tên “Trung tâm thành phố Rio tháng 6 năm 2010”. Bản đồ gắn mác các tên đường khác nhau cùng với các khu vực và các tòa nhà được vẽ và các tín hiệu cho “gái mại dâm”, “cảnh sát có súng”, “cửa hàng du lịch”, “câu lạc bộ”, “người buôn rác”, “Salad Bar Gloria (falafel)”, “Cine Landia (bia falafel)”, “Khu nghệ thuật” và “siêu thị ”. Bản đồ “các điểm ưa thích” ở Buenos Aires, được vẽ trên khăn bàn và có in ảnh phía trên, tuyên bố sẽ hiển thị những gì đã xảy ra khi bản đồ du lịch chính thức bị bỏ phế và nhiều cuộc phiêu lưu tự phát và kiến ​​thức địa phương được lập bản đồ. Một bản đồ khác có tựa đề “Làm thế nào tôi sống sót qua mùa đông năm 2004/5” chỉ ra những nơi ấm áp, những nơi tìm thấy chăn và mảnh vải vụn và những ngôi nhà có thể tắm, mà tôi được biết là do một người sống trong một căn hộ ngồi xổm rất lạnh vẽ. Tương tự ‘Hello London How do You Do’ là một cuốn sách nhỏ được sao chép màu theo phong cách zine gồm một số bản đồ vẽ tay, bao gồm các bản đồ khác nhau về trải nghiệm và các khu vực của London, sáng tỏ những địa điểm chưa được biết đến và làm nổi bật những địa điểm có ý nghĩa cá nhân, với những bức tranh theo phong cách hoạt hình về các không gian và sự kiện trọng điểm.

Những bản đồ này nhấn mạnh trải nghiệm định tính, cá nhân về không gian, cho thấy trải nghiệm tâm lý của một cá nhân cụ thể về các khía cạnh sống, giác quan và cảm xúc của không gian trong khi che giấu trải nghiệm của các diễn viên không phải là nghệ sĩ (Thrift 2004). Sự hiện diện của những bản đồ này một phần có thể được giải thích bởi một trong những chức năng đã được khẳng định của kho lưu trữ – đó là các bản đồ có thể được lấy và sử dụng bởi khách du lịch, đồng thời thể hiện mục đích giao tiếp và xuyên tạc, hiển thị những trải nghiệm không phổ biến. Nhiều bản đồ trong số này đã được cá nhân hóa và được quan tâm với việc bố trí các đường phố và biên giới theo cách tương tự như một bản đồ đường phố thông thường.

Điều này đặt ra vấn đề bắt chước các hoạt động lập bản đồ thống trị, vốn là cơ sở của một cuộc thảo luận khác ở 56a. Từng tạo điều kiện cho một số hội thảo lập bản đồ, Chris nói rằng rất khó để khiến mọi người nghĩ xa hơn phong cách lập bản đồ đường phố truyền thống, và mọi người thường lập bản đồ riêng lẻ hơn là tập thể, đó là một vấn đề cá nhân tôi gặp phải khi tạo điều kiện cho các hội thảo về bản đồ cả học giả và nhà hoạt động. Vấn đề này cũng được xác định trong tài liệu về lập bản đồ phản đối: “Tôi có thể nhớ lại một số trường hợp mà mọi người đã cố gắng tái tạo các bản đồ chính thức mà họ đã thấy” (Rouchleau 2005, 342).

Trong một nỗ lực suy nghĩ thấu đáo và vượt qua điều này, Chris đã tạo điều kiện cho một hội thảo lập bản đồ tập thể ở Hackney, mang tên ‘Những địa điểm không phổ biến’. Kết quả của hội thảo này được tìm thấy trong kho lưu trữ bản đồ, trên một mảnh giấy lớn. Sau khi thảo luận với những người tham gia về cách lập bản đồ Hackney mà không theo kiểu bản đồ đường phố thông thường, mọi người nằm xuống tờ giấy ở nhiều vị trí khác nhau và đường nét cơ thể của họ được lần ra. Sau đó, nhóm xem xét cảm xúc mà mỗi phác thảo truyền đạt, ví dụ như phấn khích, hạnh phúc, tuyệt vọng, sợ hãi và sau đó thảo luận nhóm về những địa điểm ở Hackney khơi dậy những cảm xúc này, từ đó các phác thảo được đánh dấu.

Vẫn là các bản đồ khác có tính cá nhân cao hoặc được phản ánh dựa trên kinh nghiệm hoặc cảm xúc cá nhân, nhưng không tái tạo phong cách bản đồ đường phố. Một ví dụ bao gồm dòng thời gian cá nhân, với các năm được đánh số từ ngày sinh của nghệ sĩ đến nay. Các dòng khác được đánh dấu cùng với tín hiệu này cho những ngôi nhà khác nhau mà nghệ sĩ đã sống, những phong trào khác nhau mà họ đã từng tham gia, khi họ trở thành một kẻ vô chính phủ, những lần họ mất những người lân cận hoặc nhớ đến họ, và nhiều sự kiện quan trọng khác trong cuộc sống. Mục đích của bản đồ như vậy là vi phạm và làm mất tự nhiên kiến ​​thức cố định bằng cách hình dung và thể hiện cảm xúc cũng như các sự kiện trong cuộc sống, nhưng nó cũng có thể có chức năng sư phạm chính trị và thực hiện, làm nổi bật những cách thức mà sự áp bức hệ thống có thể tác động lên cuộc sống cá nhân, mở ra những con đường giao tiếp để hình thành sự đoàn kết và mối quan hệ đối kháng (Amsler 2011). Chức năng này dường như là cơ sở của dự án ‘Precari-Punx ‘7, kết quả của dự án này cũng nằm trong kho lưu trữ dưới dạng một thư mục chứa các áp phích được sao chụp phác thảo của một cơ thể, mà những người tham gia được yêu cầu đánh dấu bằng các cách trong mà lao động bấp bênh của họ đã ảnh hưởng đến tinh thần và thể chất của họ.

Bản đồ quan hệ

Các bản đồ tập trung vào các mối quan hệ và tổ chức khá thưa thớt trong kho lưu trữ nhưng đáng được đề cập đến. Một ví dụ là một bản đồ vẽ tay có tên ‘thế giới nhỏ: bản đồ một mạng lưới tình bạn Zine’. Bản đồ này cho thấy các sợi dây kết nối mọi người và mô tả về các mối quan hệ và nơi hoặc cách họ gặp nhau. Những người có dòng màu đỏ dưới tên của họ, họ để lại manh mối cho chúng ta biết là ‘Những người tôi chưa bao giờ gặp / không biết rõ lắm’ và một dòng chấm có nghĩa là những người biết nhau nhưng tác giả không biết qua đâu. Bản đồ trong một thời gian trông giống như một mạng nhện hoặc mạng lưới. Các chức năng có thể có của các bản đồ như vậy có thể bao gồm việc định giá dạng mạng của các mối quan hệ, kiểm tra các thứ bậc và loại trừ ngoài ý muốn, cũng như biểu hiện của tính phản xạ và vị trí xã hội.

Một trong những điều thú vị nhất của bản đồ là một hình ảnh được vẽ rất thô sơ trên giấy nháp, vẽ bản đồ các chuyến đi và ảnh hưởng của chính kho lưu trữ bản đồ, cho thấy những nơi mà kho lưu trữ đã đi, và cả các hình thức du lịch khác nhau. Nó bao gồm ‘Lưu trữ (cũng là nơi công cộng)’ cho biết rằng những người sử dụng kho lưu trữ truy cập mở để lại với kiến ​​thức và kinh nghiệm thu được từ kho lưu trữ; ‘Kho lưu trữ đã rời khỏi tòa nhà’ và ‘những chuyến “di tản” của kho lưu trữ’ chỉ ra rằng bản thân toàn bộ kho lưu trữ đã đi đến nhiều địa điểm và sự kiện khác nhau; một vòng tròn được mặc định ‘lưu lượng truy cập’ với các mũi tên chỉ vào và ra, cho biết rằng bản đồ đã được lấy ra để sử dụng và các bản đồ mới cũng xuất hiện. Điều thú vị về bản đồ này và tương tác với bài báo hiện hành nhiều hơn bất kỳ bản đồ nào khác, là bản đồ cụ thể này dường như biểu thị các cách thức mà bản thân kho lưu trữ đã hoạt động như một thiết bị sư phạm và hoạt động không tưởng, bằng cách làm cho kiến ​​thức địa phương (được phát triển trong lễ hội và dự án lưu trữ) di động đến các không gian rộng hơn và chuyển động thông qua mạng hình thức và mối quan hệ và thực hành của mối quan hệ.

Khả năng sư phạm

Thay vì một kết luận, báo hiệu kết thúc và kiến ​​thức cố định, tôi muốn kết thúc bài báo này bằng cách mở ra các khả năng cho các thực hành lập bản đồ vô chính phủ tiếp theo. Mục đích ở đây không phải là trình bày một công thức hoặc danh sách các hướng dẫn để điều hành các hội thảo cụ thể với các trường hợp hoặc nhóm được xác định rõ ràng. Các hoạt động lập bản đồ cũng đa dạng như các cá nhân và nhóm làm, và có tiềm năng tạo và sử dụng bản đồ và mục tiêu của tôi ở đây không phải là xác định hoặc hạn chế thực hành. Tuy nhiên, tôi cũng không muốn bị mắc kẹt trong những chỉ trích lý thuyết quanh quẩn, mà thay vào đó, đúc kết một số chủ đề đã nói ở trên để đưa ra một số gợi ý cụ thể nhằm mở ra không gian và điều kiện mà từ đó các phương pháp sư phạm bản đồ vô chính phủ có thể bắt đầu. Theo đạo đức vô chính phủ, không nên có sự tách biệt giữa phương tiện và điểm kết thúc của không gian không tưởng: quá trình cũng quan trọng như kết quả. Các điều kiện cho không gian sư phạm được đưa ra ở đây gần như tương ứng với các chức năng lý thuyết trước đây của bản đồ chống bá quyền, chủ nghĩa vô chính phủ: sự tương đồng, sức ảnh hưởng và tính biểu diễn. Các đề xuất đưa ra nảy sinh từ cuộc đối thoại giữa các lý thuyết và thực tiễn được thảo luận ở đây nhưng cũng vi phạm những điều này, theo đặc quyền của Graeber rằng dự án nghiên cứu không tưởng ‘sẽ có hai khía cạnh, hoặc hai thời điểm nếu bạn muốn: một dân tộc học, một không tưởng, bị đình chỉ trong một đối thoại liên tục ‘(Graeber 2004, 12). Ví dụ: theo các thực hành tại 56a infoshop, tôi nhấn mạnh vào các thực hành nhiều lớp về tính tương đồng, ảnh hưởng nội tại và giá trị hoạt động thực tế, nhưng vi phạm những thực hành này, tôi nhấn mạnh hơn vào việc lập bản đồ tập thể.

Mối quan hệ thân thuộc là một phương pháp tổ chức và liên hệ không phân cấp và xây dựng mối liên kết xã hội và sự đoàn kết vượt qua nhiều điểm khác biệt mà không trừu tượng hóa chúng thành những bản sắc hoặc kiến ​​thức trừu tượng hoặc cố định. Graeber lập luận rằng các phương pháp luận để làm việc với và trong các không gian vô chính phủ chỉ nên tập trung vào hai nguyên tắc, nguyên tắc không tưởng rằng một thế giới khác có thể có, và từ chối chủ nghĩa tiên phong trí tuệ (Graeber 2004, 10-11). Do đó, một phương pháp sư phạm theo chủ nghĩa vô chính phủ nên ‘phản ánh một sự khiêm tốn tương tự đối với “Chân lý” trong một hình thức linh hoạt mà một không gian giáo dục như vậy có thể thích ứng với nhu cầu và quan điểm của những người tạo ra và tham gia vào nó’ (Armaline 2009, 136). Hơn nữa, ‘không ai trong chúng ta có thể tuyên bố định nghĩa chủ nghĩa vô chính phủ, hay một xã hội vô chính phủ nên (hoặc thậm chí tệ hơn, “sẽ ”) trông như thế nào và áp đặt những quan điểm đó lên người khác’ (sđd, 137).

Điểm thứ hai này phản ánh việc thiếu các bản đồ không tưởng định hướng tương lai trong kho lưu trữ, và cũng tập trung vào vai trò của người điều hành trong việc mở ra các không gian sư phạm không tưởng cho việc xây dựng bản đồ quan trọng. Vai trò của một người điều hành một hội thảo quan trọng về bản đồ có thể bắt đầu bằng việc hình thành mối quan hệ gắn bó với các cộng tác viên tiềm năng (Routledge 2009, 85), bao gồm việc tạo ra ‘không gian hỗ trợ, đồng cảm để các thành viên nói rõ, lắng nghe lẫn nhau và chia sẻ mối quan tâm, cảm xúc hoặc nỗi sợ hãi ‘(sđd, 84-85), dẫn đến’ một nền chính trị của nghiên cứu dựa trên việc ra quyết định đồng thuận – không theo thứ bậc và có sự tham gia – thể hiện các phương thức hành động linh hoạt, linh hoạt ‘(sđd, 85). Tạo ra một môi trường như vậy bao gồm việc tham gia và giải quyết vấn đề các mối quan hệ quyền lực giữa nhà nghiên cứu và những người tham gia, bao gồm thảo luận cởi mở và phê bình vị trí quyền lực của bản thân đồng thời ‘chú ý đến sức mạnh mà các cộng tác viên của chúng tôi mang lại cho quá trình nghiên cứu’ (sđd, 86) .

Đồng thuận là một quá trình được sử dụng thường xuyên nhất cho mục đích ra quyết định trong một loạt các không gian vô chính phủ nhằm tổ chức phi thứ bậc. Mặc dù không hoàn hảo trong việc vượt qua tất cả các thứ bậc (Firth 2012, 100-105), nó cung cấp các điều kiện sẵn có tốt nhất để phân biệt sự khác biệt, vì tất cả những người tham gia phải đồng ý về quyết định trước khi thực hiện một hành động và thiểu số có quyền phủ quyết điều đó cho nên không thể bỏ qua. Sự đồng thuận được cho rằng không chỉ là một phương pháp thực tế để tổ chức ra quyết định, mà còn là một phương pháp tiếp cận đạo đức và một thực hành sư phạm, khuyến khích sự trình bày tự do các ý tưởng và mong muốn của tất cả những người tham gia, do đó thúc đẩy các tình huống của đa nguyên nhận thức luận. Tất cả đều phải sẵn sàng sửa đổi niềm tin và mong muốn theo quan điểm mới và thông tin do những người khác mang đến cho không gian. Tuy nhiên, sự đồng thuận không nhất thiết phải được coi là sự nhất trí hoàn toàn của tất cả những người tham gia với một mục tiêu hoặc niềm tin siêu việt, mà chính quá trình này có thể được hiểu để bắt đầu một loại đối thoại đa âm có thể ngăn các ý tưởng trở nên trì trệ, hoặc cố định, tại một cấp độ nhận thức luận (Bakhtin 1984: 21), tạo điều kiện thuận lợi cho sự vượt qua nhận thức luận và trở thành người khác. Điều này cho phép xây dựng tập thể các kiến ​​thức mới trong các quy trình không giả định kết quả định trước hoặc cố định hoặc phù hợp với các mô hình siêu việt về đạo đức hoặc chân lý, thường dẫn đến kết quả sáng tạo hơn (Firth 2012: 92). Có thể tham khảo các hướng dẫn thực hành để tạo sự đồng thuận trong tài liệu của các nhà hoạt động (ví dụ, The Seeds for Change Collective 2007) để có lời khuyên chi tiết hơn về cách làm việc với sự đồng thuận, tuy nhiên nhiều nhóm đã tìm ra các thủ tục không chính thức của riêng họ thông qua thực hành.

Sự đồng thuận kết hợp với lập bản đồ quan trọng sẽ có nghĩa là các cộng tác viên trong quá trình này sẽ dành thời gian thảo luận về quá trình lập bản đồ, đặt những câu hỏi như: Cái gì sẽ được lập bản đồ? Vật liệu hoặc công nghệ nào sẽ được sử dụng? Thứ gì sẽ được phơi bày? Cái gì sẽ bị loại trừ? Những gì sẽ được vẽ, theo phong cách, màu sắc nào? Bản đồ sẽ tiếp tục cuộc sống bên ngoài không gian này như thế nào? Bản đồ có thể hoạt động như một công cụ như thế nào? Ai sẽ có thể truy cập nó và nó sẽ được sử dụng như thế nào? Loại kiến ​​thức nào được tạo ra? Làm thế nào mà sản phẩm của quá trình đối lập lại có thể kích hoạt các chu kỳ sư phạm khác ở những nơi khác? Ý nghĩa chính trị của những quyết định này là gì? Một quá trình như vậy là về sự tự phản hồi của nhóm thông qua đối thoại và về hành động, tái tạo thành tính tập thể và xây dựng kiến ​​thức mới để truyền đạt và sử dụng. Làm việc với sự đồng thuận cũng giúp khắc phục vấn đề được thảo luận ở trên rằng các chủ thể tân tự do, thường được nâng cao để coi kiến ​​thức như một thuộc tính hoặc nỗ lực cá nhân, cũng có thể có xu hướng cá nhân hóa việc lập bản đồ quan trọng. Mặc dù không có lý do gì mà thủ tục đồng thuận không thể dẫn đến kết quả đầu ra riêng lẻ, nhưng nếu đây là điều mà cả hai cùng quyết định, thì rất có thể việc giới thiệu thời điểm của đa nguyên nhận thức luận có thể làm nảy sinh và giải quyết vấn đề này trong khi vẫn đang xây dựng liên kết xã hội và tính tập thể.

Chú ý đến phương án và sự ảnh hưởng

Ảnh hưởng đề cập đến những cách thức mà khát vọng xuyên suốt và kết nối các chủ thể và không gian tạo ra các kết nối và biến đổi ở cấp độ không bị cắt ngang, toàn diện. Các thủ tục đồng thuận thường liên quan đến việc tham gia vào các khía cạnh cụ thể của cuộc thảo luận, ví dụ như tín hiệu bằng tay hoặc thẻ màu thường được sử dụng để thay thế cho sự tán thành hoặc phản đối bằng giọng nói, để tránh làm gián đoạn người nói. Sự chú ý đến phương án và ảnh hưởng cũng nên ở mức độ xem xét các loại trừ và nhu cầu thể xấc trong không gian – sẽ cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em hay trẻ em được bao gồm trong quá trình này? Không gian có thể tiếp cận được với tất cả những người có thể tham dự không? Các câu hỏi về ảnh hưởng cũng nên thông báo cho quá trình lập bản đồ. Như đã được lập luận trước đây, ảnh hưởng là một lực lượng có khả năng lật đổ và quan trọng, thu hút sự chú ý để áp chế sự im lặng và xóa bỏ áp bức trong các hoạt động tạo bản đồ thống trị, có xu hướng lấy một ‘góc nhìn của Chúa trời’ trừu tượng và quái gở (Pickles 2004, 80). Thu hút sự chú ý đến vấn đề này trong cuộc thảo luận, bao gồm các biểu hiện của ảnh hưởng trong bất kỳ bản đồ nào được tạo ra như một phần của quá trình và thảo luận về khả năng huy động ảnh hưởng theo cách mà bản đồ dự định sử dụng có thể giúp khắc phục các vấn đề liên quan đến mong muốn nhân rộng các thực hành lập bản đồ chính thống.

Tính biểu diễn: hành động và những sự giao thoa với sức mạnh

Tính biểu diễn đề cập đến cách thức lập bản đồ tạo ra và triển khai các kiến ​​thức mới và vận hành những kiến ​​thức này một cách chiến lược, đưa thế giới mới ra đời. Bản đồ theo chủ nghĩa vô chính phủ có tiềm năng hoạt động hiệu quả ở một số cấp độ. Có lẽ quan trọng nhất, quá trình tổ chức tập thể trong các điều kiện đồng thuận là hoạt động nội tại, thể hiện đặc tính chính trị Do-itYourself, giành lại không gian và thời gian từ vốn, tái tạo các mối liên kết xã hội và ngăn cản những người tham gia xa lánh nhau và môi trường không gian. Hơn nữa, các bản đồ hoạt động như phương pháp sư phạm nếu chúng tiếp tục cuộc sống bên ngoài không gian. Bất kỳ bản đồ nào được tạo ra đều có khả năng giao thoa và chống lại quyền lực phân cấp ở một số cấp độ khác nhau, mà không đưa ra một kiến ​​thức phản bá quyền thống nhất để đưa ra tuyên bố về các cấu trúc quyền lực. Ví dụ về bản đồ địa chính trị cho thấy bản đồ có thể phơi bày các mối quan hệ và cấu trúc quyền lực tiềm ẩn, có thể tạo cơ sở cho các hành động phản kháng. Bản đồ cũng có thể có tính thực tế, cung cấp các mẹo để sống không tưởng và thay đổi chính trị nội tại. Bản đồ có thể huy động ảnh hưởng, dẫn đến chuyển đổi chủ quan và xã hội, đồng thời có thể hiển thị và xác định giá trị của các dạng quan hệ thay thế như mối quan hệ và dạng mạng cũng như biên không gian và lịch sử.

Một cách sử dụng bản đồ nữa, có lẽ gây tranh cãi hơn đã được đề xuất trong bài báo này là một dạng dữ liệu định tính phong phú cho các dự án nghiên cứu học thuật. Mức độ rõ ràng này hơi có vấn đề, vì học viện có thể được hiểu là một lĩnh vực quyền lực, trong đó các đặc tính vô chính phủ của bản đồ có thể được phục hồi thành một bài diễn thuyết bị xa lánh. Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng các trường đại học cũng là nơi đấu tranh, phản kháng và khả năng xảy ra (Motta 2013; Neary 2012) trong khi danh tính của các học giả lão luyện cũng rất linh hoạt và đa dạng, thường chuyển đổi giữa các vai trò như nhà hoạt động, nhà hành nghề và học thuật (Minh-Hà 1991, 226; Routledge 2009, 89; Motta 2012). Vì vậy, thay vì nói ngược lại quyền lực, bất kỳ nghiên cứu nào rút ra từ thực tiễn lập bản đồ hợp tác đều có thể làm việc để ưu tiên hành động chính trị ‘có căn cứ, được thể hiện, vai trò của lý thuyết là đóng góp, được thông báo và có cơ sở trong hành động đó, nhằm tạo ra và phát triển sự đoàn kết lẫn nhau và hành động tập thể – cuối cùng tạo ra một nền chính trị tự do của mối quan hệ ” (Routledge 2009, 90-91).

Do đó, những gì tôi hy vọng đã làm được trong bài báo hiện tại là mở ra những gợi ý cho các hoạt động vô chính phủ trong tương lai, thay vì đưa ra những kết luận cố định nói lên một sự thật duy nhất. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải thừa nhận rằng khung lý thuyết và các khái niệm mà tôi phát triển một sự hiểu biết cụ thể về sư phạm và chủ nghĩa vô chính phủ, có thể có khả năng xác định và hạn chế thực hành theo những cách mạnh mẽ. Chính vì lý do đó mà các khái niệm như vậy và các mối quan hệ quyền lực làm nền tảng cho chúng nên được mở ra để thảo luận trong các điều kiện của đa nguyên nhận thức luận thông qua các quá trình đồng thuận cục bộ.

Tài liệu tham khảo

3Cs counter-cartographies collective in collaboration with students at Queen Mary. (2010). Counter-mapping Queen Mary: http://www.countercartographies.org/activities-mainmenu-38/1-news/77- countermapping-qmary-map-released (accessed 28 May 2013).

Amsler, S. (2011). “From ‘therapeutic’ to political education: The centrality of affective sensibility in critical pedagogy.” Critical Studies in Education 52(1): 47-63.

Anon (1999). “Desire is speaking: Utopian rhizomes.” Do or Die 8: 137-140.

Armaline, W. T. (2009). “Thoughts on an anarchist pedagogy and epistemology.” pp. 136-46 in Contemporary anarchist studies, edited by R. Amster, A. DeLeon, L. A. Fernandez, A. J. Nocella II & D. Shannon. London and New York: Routledge.

Bakhtin, M. (1984). Problems of Dostoevsky’s Poetics, edited by C. Emerson. Translated by W. C. Booth. Mineapolis: University of Minnesota Press.

Bennagen, P. L. and Royo, A. G., (Eds.) (2000). Mapping the earth, mapping life: Some experiences of indigenous peoples in the Phillipines. Quezon City, Phillipines: Legal rights and natural resource centre.

Bevington, D., and Dixon, C. (2005). “Movement-relevant theory: Rethinking social movement scholarship and activism.” Social Movement Studies 4(3): 185- 208.

Boler, M. (1999). Feeling power: Emotions and education. New York: Routledge. Brosius, J. P., Tsing, A. L. and Zerner, C. (Eds.) (2005). Communities and conservation: Histories and politics of community-based natural resource management. Walnut Creek: Altamira Press.

Burdick, J. and Sandlin, J. A. (2010). “Inquiry as answerability: Toward a methodology of discomfort in researching critical public pedagogies”. Qualitative Inquiry 16 (5): 349-360.

Bureau d’études. 2003. “Info-space, info-war: Governing by networks.” WallMap ISBN: 2915129045, published by Bureau d’études.

Castree, N., Fuller, D. Kent, A., Kobayashi, A., Merrett, C. D., Pulido, L., Barraclough, L. (2008). “Geography, pedagogy and politics.” Progress in Human Geography 32(5): 680-718.

Chatwin, B. (1998) The Songlines, London: Vintage.

Cobarrubias, S. and Pickles, J. (2009). “Spacing movements: The turn to cartographies and mapping practices in contemporary social movements.” Pp. 36-59 in B. Warf, B. and S. Arias, eds. The spatial turn: Interdisciplinary perspectives. London: Routledge.

Cosgrove, D. (2006). “Maps, mapping, modernity: Art and cartography in the Twentieth Century.” Imago Mundi 57 (1): 35-54.

Coté, M., Day, R. J. F. & de Peuter, G. (2007). “Introduction: What is Utopian Pedagogy?”. Pp. 76-92 in Utopian Pedagogy: Radical Experiments Against Neoliberal Globalization, edited by M. Cote´, R. J. F. Day, & G. de Peuter. Toronto: University of Toronto Press.

Counter Cartographies Collective, Dalton, C. and Mason-Deese, L. (2012). “Counter (mapping) actions: Mapping as militant research.” ACME 11 (3): 439- 446.

Crampton, J. (2010). “Mapping: A critical introduction to cartography and GIS” Oxford: Blackwell.

Crampton, J. W. (2001). “Maps as social constructions: power, communication and visualization.” Progress In Human Geography 25 (2): 235–252.

Crampton, J. W. (2009). Cartography: Performative, participatory, political. Progress in Human Geography 22(6): 840-848.

Crampton, J. W. and Krygier, J. (2006). “An introduction to critical cartography.” ACME 4 (1): 11-53

Day, R. (2005). Gramsci is dead: Anarchist currents in the newest social movements. London: Pluto Press.

de Acosta, A. (2006). “Two undecidable questions for thinking in which anything goes.” Pp. 26-43 in Contemporary anarchist studies, edited by R. Amster, A. DeLeon, L. A. Fernandez, A. J. Nocella II & D. Shannon. Oxford: Routledge.

Debord, G. (1956). “Theory of the Dérive.” Les Lèvres Nues #9 (November 1956) reprinted in Internationale Situationniste #2 (December 1958), translated by K. Knabb: http://www.cddc.vt.edu/sionline/si/theory.html (accessed 7 May 2013)

Debord, G. (1963) ‘The Situationists and the New Forms of Action in Art and Politics,” translated by K. Knabb, Situationist International Online: http://www.cddc.vt.edu/sionline/si/newforms.html (accessed 26 June 2013)

Deleuze, G. and Guattari, F. (1988). A thousand plateaus. London: Continuum.

Denniston, D. (1994). Defending the land with maps. World Watch 7: 27.

Dunn, C. E. (2007). “Participatory GIS: A people’s GIS?, Progress in Human Geography 31(5): 616–637.

Eades, G. (2011). “Maps and memes.”: http://rose.geog.mcgill.ca/ski/system/files/fm/2011/Eades_MapsAndMemes_ 2011_SKI_Revised.pdf (accessed 10 May 2013)

Ellsworth, E. (2005). Places of learning: Media, architecture, pedagogy. New York and London: Routledge Falmer.

Firth, R. (2012). Utopian politics: Citizenship and practice. London: Routledge.

Firth, R. (2013). “Toward a critical utopian and pedagogical methodology”, Review of Education, Pedagogy, and Cultural Studies 35 (4): 256-276.

Goyens, T. (2009). “Social space and the practice of anarchist history.” Rethinking History: The journal of theory and practice 13 (4): 439-457.

Graeber, D. (2004). Fragments of an anarchist anthropology. Chicago: Prickly Press.

Graeber, D. (2009). “Anarchism, academia, and the avant-garde.” Pp. 103-112 in Contemporary anarchist studies, edited by R. Amster, A. DeLeon, L. A. Fernandez, A. J. Nocella II & D. Shannon. Oxford: Routledge.

Harley, J. B. (1989). “Deconstructing the map.” Cartographica 26 (2): 1-20.

Harris, L. M. and Hazen, H. D. (2006). “Power of maps: (Counter) mapping for conservation.” ACME 4 (1): 99-130.

Holmes, B. (2002). “Mapping excess, seeking uses: Bureau d’études and multiplicity.” Université Tangente: http://utangente.free.fr/anewpages/cartesholmes2.html (accessed 18 April 2013) Holmes, B. (2003).

“Maps for the outside: Bureau d’études, or the revenge of the concept.” Interactivist Info Exchange: http://info.interactivist.net/print.pl?sid=03/10/10/0141258 (accessed 24 April 2013)

Holmes, B. (2006). “Network maps, energy diagrams: Structure and agency in the global system.”: http://www.softhook.com/coverage/Brian%20Holmes.pdf (accessed 18 April 2013).

Huggan, G. (1991). “Decolonizing the map: Post-colonialism, Post-structuralism and the cartographic connection.” Pp. 125-138 in Past the last post: Theorizing post-colonialism and post-modernism, edited by I. Adam, I. and H. Tiffin. New York: Harvester Wheatsheaf.

Iturroiz, T. and Wachozicz, M. (2010). “An artistic perspective for affective cartography.” Pp. 74-92 in Mapping different geographies, edited by K. Kriz, W. Cartwright and L. Hurni. New York: Springer.

Jameson, F. (1991). Postmodernism, or, the cultural logic of late capitalism. London: Verso.

Jorn, A. (1959) “Detourned Painting,” translated by T. Y. Levin, International Situationist Online: http://www.cddc.vt.edu/sionline/si/painting.html (accessed 26 June 2013)

kanarinka (2006). “Art-machines, body-ovens and map-recipes: Entries for a psychogeographic dictionary.” Cartographic Perspectives, 53 (Winter): 24-40.

Katsiaficas, G. (2007). The subversion of politics: European autonomous movements and the decolonization of everyday life. Edinburgh: AK Press.

Kitchens, J. (2009). “Situated pedagogy and the Situationist International: Countering a pedagogy of placelessness.” Educational Studies, 43 (3): 240-261.

Kitchin, R., Perkins C. and Dodge, M. (2009). “Thinking about Maps.” Pp. 1-25 in Rethinking maps: New directions in cartographic theory, edited by R. Kitchin, C. Perkins, M. and Dodge. London and New York: Routledge.

Kropotkin, P. A. (1987). Mutual aid: A factor of evolution, edited by J. Hewetson. London: Freedom Press.

Krygier, J. (2006). “Jake Barton’s performance maps: An essay.” Cartographic Perspectives, 53: 41-50.

London Docklands Museum (2005). “London, sugar and slavery”: http://www.museumoflondon.org.uk/NR/rdonlyres/64C929D2-717B-4100- AD09-AE81ACCB7611/0/LSSETrail.pdf (accessed 28 May 2013).

May, T. (1994). The political philosophy of poststructuralist anarchism. Pennsylvania: The Pennsylvania State University Press.

McCloskey, A. Sullivan, G. and Yuill, S. (2008). “Free Social Foundations Map”: http://www.freesocialfoundations.org/ (accessed 15th April 2013).

Midnight Notes Collective (1990). The New Enclosures. Brooklyn, NY: Autonomedia.

Minh-Ha, T. T. (1991). When the moon waxes red: Representation, gender and cultural politics. London: Routledge.

Motta, S. C. (2011). “Notes towards prefigurative epistemologies.” Pp. 178-199 in Social movements in the global South: Disposession, development and resistance, edited by S. C.

Motta and A. G. Nilsen. Hampshire: Palgrave Macmillan. Motta, S. C. (2012) “The The Messiness of Motherhood in the Marketised University.” Ceasefire Magazine: http://ceasefiremagazine.co.uk/messinessmotherhood-marketised-university/ (accessed 17 March 2014) Motta, S. C. (2013). “Teaching global and social justice as transgressive spaces of possibility.” Antipode 45 (1): 80-100.

Neary, M. (2012). Student as producer: How do revolutionary teachers teach? Washington: Zero Books.

Peluso, N.L. (1995). “Whose woods are these? Counter-mapping forest territories in Kalimantan, Indonesia.” Antipode 4 (27): 383–406.

Pickles, J. (2004). “A History of Spaces: Cartographic reason, mapping, and the geo-coded world.” London and New York: Routledge.

Pinder, D. (1996). “Subverting cartography: the situationists and maps of the city.” Environment and Planning A 28(3): 405 – 427.

Pinder, D. (2008). “Urban interventions: Art, politics and pedagogy.” International Journal of Urban and Regional Research 32(3): 730-6.

Piper, K. (2002). Cartographic fictions: Maps, race and identity. New Brunswick: Rutgers University Press. Preemptive Media (2006). “Fossil Fuel Map”: http://www.pmair.net/images/PMair_map.jpg (accessed 2 July 2013)

Robinson, A. and Tormey, S. (2009). “Utopias without transcendence? Post-left anarchy, immediacy and utopian energy.” Pp. 156-75 in Globalization and utopia: Critical essays, edited by P. Hayden and C. el-Ojeili. Hampshire: Palgrave Macmillan.

Rocheleau, D. (2005). “Maps as power tools: Locating communities in space or situating people and ecologies in place.” Pp. 327-62 in Communities and conservation: Histories and politics of community-based natural resource management, edited by J. P. Brosius, A. L. Tsing and C. Zerner. Walnut Creek: Altamira Press.

Routledge, P. (2003). “River of resistance: Critical collaboration and the dilemmas of power and ethics.” Ethics, Place and Environment 6 (1): 66–73.

Routledge, P. (2009). “Toward a relational ethics of struggle: Embodiment, affinity, and affect.” Pp. 82-92 in Contemporary anarchist studies, edited by R. Amster, A. DeLeon, L. A. Fernandez, A. J. Nocella II and D. Shannon. Oxford: Routledge.

Sargisson, L. (2000). Utopian bodies and the politics of transgression. London: Routledge.

Seeds for Change Collective, The (2007). “How to make decisions by consensus.” Pp. 63-77 in Do it Yourself: A handbook for changing our world, edited by The Trapese Collective. London: Pluto Press.

Sletto, B. I. (2009). “We drew what we imagined: Participatory mapping, performance and the arts of landscape making.” Current Anthropology, 50 (4): 443-476.

Thrift, N. (2004). “Intensities of feeling: Towards a spatial politics of affect.” Geografiska Annaler B 86: 57-78.

Turnbull, D. (2000). Masons, tricksters and cartographers: Comparative studies in the sociology of scientific and indigenous knowledge. Amsterdam: Harwood Academic Publishers.

Vaneigem, R. (2006). The Revolution of Everyday Life. Translated by D. Nicholson-Smith. London: Rebel Press.

Ward, C. (1973). Anarchy in Action. London: Allen and Unwin.

Wood, D. (1992). The Power of Maps. New York, Guilford Press.

Wood, D. (2006). “Map Art.” Cartographic Perspectives. 53 (Winter): 5-14.

Zembylas, M. (2007). “Risks and pleasures: a Deleuzo-Guattarian pedagogy of desire in education.” British Educational Research Journal. 33 (3): 331-347.

Zembylas, M. (2006). “Witnessing in the classroom: The ethics and politics of affect.” Educational Theory. 56 (3): 305-324.

Về tác giả

Rhiannon Firth đã hoàn thành bằng Tiến sĩ tại Đại học Nottingham và luận án của cô đã được xuất bản bởi Routledge (2012) với tựa đề Chính trị không tưởng: Quyền công dân và Thực tiễn. Cô hiện là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trường Giáo dục và Cộng đồng Cass thuộc Đại học London. Mối quan tâm nghiên cứu của cô bao gồm các thực hành không tưởng về sản xuất tri thức và các khả năng sư phạm rút ra từ nghiên cứu dân tộc học với các cộng đồng không tưởng, các phong trào xã hội tự trị và các trung tâm xã hội. Cô cũng tổ chức các cuộc hội thảo về giáo dục phổ biến với các nhóm cấp tiến ở London và Nottingham.

Email: r.firth@uel.ac.uk

Nguồn: Interface Journal

Dịch: Vũ Phương Thảo